Saturday, October 20, 2018

"Rip Van Winkle" (3) --- Washington Irving (1783-1859)

Theo năm tháng cuộc sống gia đình của Rip càng ngày càng tồi tệ.  Tính khí chanh chua của bà vợ không vì tuổi tác mà dịu bớt, và miệng lưỡi đanh đá ấy càng sắc bén hơn vì được dùng thường xuyên.  Đã lâu rồi, mỗi lần phải bỏ ra khỏi nhà, Rip thường tự an ủi bằng cách lui đến chỗ tụ hội của những nhà hiền triết, nhàn rỗi trong làng.  Họ họp lại nơi băng ghế trước một quán trọ nhỏ, nơi có treo bức ảnh vua George đệ tam với nước da hồng hào.  Ở đó vào ngày hè dài lê thê, họ thường ngồi dưới bóng râm, tán gẫu những tin đồn đãi trong làng, hoặc kể mấy câu chuyện chẳng có nội dung gì, không đầu không đuôi, chỉ khiến người ta buồn ngủ.  Nhưng khi tình cờ có một lữ khách đi qua và một tờ báo cũ lọt vào tay họ, tại đó thỉnh thoảng cũng có những cuộc thảo luận sâu sắc đáng để bất cứ chính trị gia nào bỏ tiền ra để được nghe.  Họ sẽ nghiêm trang lắng nghe nội dung tờ báo, do Derrick Van Brummel chậm rãi đọc, ông là hiệu trưởng trường làng, không hề biết sợ con chữ khủng nhất trong từ điển và luôn ăn mặc chỉnh tề.  Rồi bọn họ sẽ tham gia bàn luận về các biến cố chung nhiều tháng sau khi chúng đã xảy ra.  
Ý kiến của nhóm thảo luận chính trị này hoàn toàn do Nicholas Vedder điều khiển, một người đứng đầu trong làng và cũng là chủ quán trọ.  Từ sáng đến tối ông ngồi trước cửa quán, chỉ xê dịch ghế vừa đủ để tránh nắng, để được ngồi dưới bóng cây, chính xác đến độ hàng xóm có thể dựa vào sự di dịch chỗ ngồi của ông mà đoán giờ như dựa vào đồng hồ mặt trời vậy.  Đúng là ông ta chẳng hề phát biểu, mà chỉ liên lục hút ống điếu của mình.  Những người ủng hộ ông (vì mọi người vĩ đại đều có người ủng hộ) hiểu ông rất tõ, và họ biết cách lĩnh hội ý kiến của ông.  Khi có chuyện gì được đọc từ trong báo ra hay liên quan đến tin tức mà ông không vừa ý, ông sẽ hút thật mạnh, nhả ra những làn khói ngắn liên tiếp một cách giận dữ.  Còn khi vừa ý, ông sẽ hút chậm rãi, bình thản, và thở ra những làn mây khói nhẹ nhàng.  Đôi khi ông rút ống vố khỏi miệng, để cho làn khói thuốc từ đó bay quanh mũi ông, để tỏ vẻ hòan toàn đồng ý.    

(Còn tiếp)






































































































































































NHẸ NHƯ MÂY


NHẸ NHƯ MÂY
Vĩnh Hảo
 Bão mạnh và sóng thần ở châu Á khiến hàng ngàn người thiệt mạng, hàng ngàn người mất tích; tàn phá nhà cửa, tài sản công và tư, thiệt hại vô kể. Bão lớn quét qua miền Đông và Đông nam nước Mỹ cũng lấy đi mạng sống của ba mươi người và hàng ngàn người còn mất tích… Hàng trăm ngàn người vẫn còn phải chịu đựng sự lụt lội, mất điện, lạnh giá, thiếu nước uống. Trong khi đó, gió Santa Ana như mọi năm đã thổi về, mang hơi nóng hầm hập sau cơn mưa rỉ rả một ngày một đêm của miền Tây nam. Lá thu cuốn theo gió, tràn ra đường nhựa, chạy đuổi theo xe cộ ngược xuôi. Những hàng dây điện giăng mắc qua các phố nhỏ lung lay như đưa võng dưới cơn nắng vàng hanh. Có mùi gì khét lẹt như khói xăng hay tro ẩm của nạn cháy rừng tháng trước, còn phảng phất trong không khí của ngày vào thu. Trời vần vũ mây xám. Phố chợ vẫn tấp nập những người là người. Các bích chương quảng cáo bầu cử với tên ứng viên rất lớn và nổi bật, trưng đầy ở các góc đường.
 Trong cái xôn xao của những cuộc đấu tranh, biểu tình, chống đối, ủng hộ, người nào cũng cố gắng bày tỏ tối đa quan điểm của mình, cho cách nghĩ cách sống của mình mới là đúng. Thường thì sự bày tỏ đơn độc được cổ vũ bởi đám đông, dễ tiến đến cực đoan; mà cũng có thể từ sự cực đoan của một vài cá nhân đã tác động lên hành động và lời nói của quần chúng. Xét cho cùng, chẳng có cái cực đoan nào gọi là hay, là tốt. Đàng sau, bên dưới những nhãn hiệu và danh xưng tốt đẹp, vẫn chỉ là mặt thực của tham vọng cá nhân—lại thường vay mượn, núp bóng cái dù tập thể.
Từ sinh hoạt quốc gia, chính trị đảng phái, cho đến cả tôn giáo (với nhiều tai tiếng chấn động niềm tin của tín đồ), người ta càng nhìn rõ mặt trái của lòng tham, của bản ngã. Có người rời bỏ những nhãn hiệu với thái độ hoặc lời nói công kích. Có người lặng lẽ rút lui, tìm về nơi ở ngoài những thị-phi, thiên kiến. Có người cố gắng nán lại, tìm cách điều chỉnh thực trạng, sao cho giữ được chính danh.
Nhưng danh thế nào mới là chính? Cái danh mà không phản ảnh đúng cái thực thì danh đó chỉ là danh suông, sáo rỗng. Có cần hô hào lớn tiếng để bảo vệ một cái danh rỗng tuếch hay không? Thực chất đã mục ruỗng thì không cái danh nào có thể cứu vãn sự sụp đổ của một tập thể đã từng một thời vang bóng. Một tập thể mà đa phần là những người hủ bại, háo danh, tham quyền cố vị, thì sự có mặt của thiểu số chỉ là để tiếp sức cho sự tồn tại của một con thuyền mục rã, chệch hướng.
 Nói theo ngôn ngữ nhà thiền thì danh của lão tăng cũng là giả danh. Nhưng nói theo thông tục thì lão tăng đúng là một danh tăng đạo hạnh, đã làm thật nhiều việc: xây dựng tăng trường, phiên dịch, trước tác, giảng dạy, đào tạo nhiều thế hệ tăng ni và phật-tử. Điều kỳ lạ là khi tiếp xúc ông, người ta thấy dường như ông chưa từng làm gì cả. Nơi ông không toát ra hào quang của một người nổi tiếng hay một người đã từng đóng góp rất nhiều cho đạo, cho đời. Phong vận từ bi của ông trùm lấp tất cả những ý niệm phân biệt, đánh giá của người đối diện.
Mùa hè năm nay, lão tăng từ quê nhà qua thăm. Mượn một thiền đường nơi thị tứ làm chỗ tương ngộ một văn nhân. Cả hai đều “văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình.” Lão tăng có bệnh nan y, có lẽ là không chữa được nữa; chỉ mượn dịp đi xa để từ giã những người hữu duyên. Văn nhân thì có tâm bệnh—cái bệnh là hay bất mãn, bất phục, có lẽ cũng khó chữa. Nơi thiền đường, lão tăng nhờ thiền chủ đặt sẵn hai ghế dựa song song, quay mặt về hướng tôn tượng Đức Phật Thích Ca; không có bàn ghế nào khác trước mặt, nên khoảng cách từ chỗ này với bàn thờ Phật là một khoảng không gian rộng, trống. Văn nhân bước vào, xá Phật rồi quay sang bái lão tăng. Từ tăng phòng, lão tăng cũng vừa mới bước vào chánh điện, chắp tay đáp lễ, chờ văn nhân bước đến, mời ngồi nơi ghế còn lại. Từ vị trí này, cả hai cùng nhìn về một hướng. Im lặng khá lâu như thể cuộc hội ngộ chỉ là để dùng tâm mà nghe tâm. Văn nhân ký tặng hơn mười tác phẩm mà lão tăng yêu cầu để đem về cho thư viện ở quê nhà. Câu chuyện ở tù, bị biệt giam trong tác phẩm ấy có thực không, hay chỉ là hư cấu. Dạ, có thực; nhưng chỉ thực một phần thôi, không phải tất cả là thực. Lão tăng gật gù. Một chặp, lão tăng đặt bàn tay ấm lên lưng bàn tay văn nhân, vỗ về. Cố gắng, cố gắng nha. Vào đời hành đạo không dễ đâu.
 Bẵng đi gần nửa năm. Rồi một sáng sớm, nghe tin lão tăng viên tịch. Nhớ lại cuộc tương ngộ đầu tiên và cũng là cuối cùng của hôm ấy, chợt sa lệ. Trong nhập nhòa nước mắt và tâm tưởng, chỉ nhớ hình bóng một lão tăng đôn hậu, hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ, ngôn ngữ bình dân, và đặc biệt là nơi nhân cách ấy, tất cả các danh xưng, nhãn hiệu, chức vị, đều không thể bám vào.
Theo dõi tang lễ qua một đoạn phim quay trực tiếp đăng lên mạng, chỉ thấy một kim quan bằng gỗ đơn giản, màu nâu, được mười mấy đệ tử tục gia mặc áo tràng lam khiêng. Có lẽ kim quan cũng nhẹ như tâm thái của lão tăng khi còn sinh tiền; chỉ là vì phải đặt trên một giàn gỗ kềnh càng, nên nặng. Tăng nhân mấy trăm vị đưa tiễn kim quan đến lò thiêu. Nghi lễ đơn giản. Tiếng niệm Phật vang đều cho đến khi kim quan được đặt gọn vào hầm lò thiêu. Từ phương ngoại, văn nhân tĩnh tọa nơi bàn viết, chắp tay cung kính tiễn biệt. Có một vầng mây trắng, nhẹ nhàng bay cao. 
 California, ngày 19 tháng 10 năm 2018 
Vĩnh Hảo
https://thuvienhoasen.org/a30543/nhe-nhu-may


Sunday, October 14, 2018

"Rip Van Winkle"(2) --- Washington Irving (1783-1859)



Thật vậy, chàng tuyên bố làm việc nơi trang trại của mình là vô ích, đó là một mảnh đất nhỏ phiền hà nhất xứ.  Mọi thứ liên quan đến nó đều hỏng cả, và dù chàng có cố thế mấy, nó cũng hỏng như thế.  Rào dậu thì đổ nát; bò nuôi hoặc đi lạc mất hoặc vào chỗ trồng bắp cải.  Cỏ dại trên đồng của Rip mọc nhanh hơn những nơi khác.  Mỗi khi Rip sửa soạn ra đồng làm việc thì trời lại đổ mưa.  Mảnh đất Rip thừa tự dần dần nhỏ lại từng mẫu đất một dưới sự quản lý của chàng, cho đến khi nó chỉ còn hơn một luống để trồng khoai và giống bắp của người da đỏ, đến nông nỗi đó, nó vẫn là nông trại tồi tệ nhất trong xóm.
Đám con của chàng cũng thế, rách rưới, cù bơ cù bất như trẻ vô thừa nhận.  Cậu con tên Rip của chàng, một thằng bé lôi thôi lếch thếch, sinh ra hệt cha nó, hứa là nó sẽ thừa hưởng những thói quen và quần áo cũ của cha.  Người ta thường thấy thằng bé theo sát gót mẹ như một chú ngựa con, mặc chiếc quần thùng thình cha nó vất cho.  Thằng bé phải dùng tay giữ quần cao lên một cách khó khăn, giống như một phụ nữ quý phái nhấc chiếc váy dài lê thê của mình khi gặp phải thời tiết xấu.
Tuy vậy Rip Van Winkle lại là một trong những người hạnh phúc trên đời, với tính ngờ nghệch, thiếu khôn ngoan của mình, một người nhìn đời dễ dãi, với chàng ăn bánh mì trắng hay bánh mì nâu đều được, miễn sao ít phải suy nghĩ hay không bị rắc rối, một người thà đói với đồng xu dính túi còn hơn phải làm việc để kiếm một đồng bảng*Anh.  Nếu chỉ sống một mình, có lẽ Rip sẽ bằng lòng với một đời nhởn nhơ nghêu ngao huýt gió cả ngày; nhưng bà vợ không ngớt cằn nhằn bên tai chàng về tật ăn không ngồi rồi, cẩu thả, và làm lụn bại cả gia đình của chàng.  Từ sáng, trưa đến tối, miệng lưỡi bà vợ không bao giờ ngừng, bà cứ nhắm mọi điều chàng nói hay làm mà tuôn ra một tràng cho cả nhà nghe.  Đối với tất cả những bài lên lớp của vợ, Rip chỉ có một cách đáp lại, và vì đã quá quen cách ấy, nó biến thành thói quen luôn: chàng chỉ nhún vai, lắc đầu, va đưa mắt nhìn lên trời, chẳng nói chẳng rằng.  Nhưng cách ấy càng khiến vợ chàng nổi thêm cơn thịnh nộ; thế là chàng hoan hỉ rút lui ra khỏi nhà, lối thoát duy nhất của các ông chồng sợ vợ.   
Chỗ dựa duy nhất trong nhà cho Rip là con chó Wolf của chàng.  Con chó cũng sợ bà chủ như chàng, vì bà chủ xem cả hai là một cặp lười biếng, và thậm chí còn nhìn nó bằng cặp mắt hằn học vì bà cho nó là nguyên nhân khiến ông chủ lệch lạc như thế.  Sự thật thì con chó có đầy đủ các đức tính của một con chó tốt, rất can đảm khi đi đánh hơi tìm kiếm dấu vết trong rừng.  Nhưng có lòng can đảm nào chịu nổi miệng lưỡi kinh khủng một người đàn bà lúc nào cũng đay nghiến?  Ngay khi bước vào nhà, chòm lông trên đầu nó liền rủ xuống, đuôi thì cụp lại đụng đất hoặc cuộn tròn nép giữa hai chân, nó len lén chuồn đi, không muốn bà chủ thấy nó, mắt lấm lét dòm chừng bà.  Không để bà nện nó nhừ tử bằng cán chổi hoặc cái vá múc thức ăn, nó đã kịp phóng nhanh ra cửa miệng kêu ăng ẳng. 
---
*pound: đơn vị tiền tệ của Anh, Jersey, Guernsey, và đảo Man, Nam Georgia, quần đảo Sandwitch phía nam, ; thường được gọi là đồng "pound," cũng có tên gọi khác, ít phổ thông hơn, là "sterling." 
Được dùng ở Liên hiệp Anh, Jersey, Guernsey, Đảo Man, South Georgia, quần đảo Sandwich Islands phía nam, lãnh thổ ở Nam cực của Anh, và quần đảo núi lửa Tristan da Cunha ở nam Đại tây dương.  Một bảng/pound gồm 100 xu/pence.  Ký hiệu đồng bảng Anh là £.

The pound sterling, commonly known as the pound and less commonly referred to as Sterling, is the official currency of the United Kingdom, Jersey, Guernsey, the Isle of Man, South Georgia and the South Sandwich Islands, the British Antarctic Territory, and Tristan da Cunha. It is subdivided into 100 pence. Wikipedia
The pound sign (£) is the symbol for the pound sterling—the currency of the United Kingdom and previously of Great Britain and the Kingdom of England.
(Còn tiếp)