Monday, April 22, 2019

Nước Mỹ Ngày Nay

                                                    
Nước Mỹ ngày nay đã hỏng rồi
Mười người dắt chó hết mười thôi
Sẵn tay một bịch đôi đâu đó
Hay để theo dòng nước cuốn trôi
Bộ hành dẫm đạp la oai oái:
"Nước Mỹ văn minh quá hóa tồi !"

04/22/2019

Saturday, April 20, 2019

Martin Luther King, Jr.

"Rediscovering Lost Values"
...
The universe hinges on moral foundations.  There is something in this universe that justifies Carlyle in saying,
"No lie can live forever."
There is something in this universe that justifies William Cullen Bryant in saying,
"Truth, crushed to earth, will rise again."
There is something in this universe that justifies James Russell Lowell in saying,
"Truth forever on the scaffold,
Wrong forever on the throne.
With that scaffold sways the future.
Behind the dim unknown stands God,
Within the shadow keeping watch above his own."
.....
If we were to go forward, we must go back and rediscover these precious valuyes --that all reality hinges on moral foundations and that all reality has spiritual control.
p.33

"There is amazing power in unity.  Where there is true unity, every effort to disunite only servesto strengthen the unity. "  p. 88

Statement at Youth March for Integrated Schools
...Whatever career you may choose for yourself --doctor, lawyer, teacher--let me propose an avocation to be pursued along with it.  Become a dedicated fighter for civil rights.  make it a central part of your life.
It will make you a better doctor, abetter lawyer, a better teacher.  It will enrich your spirit as nothing else possibly can.  It will give you that rare sense of nobility that can only spring from love and selflessly helping your fellowman.  Make a career of humanity.  Commit yourself to the noble struggle for equal rights.  You will make a greater person of yourself, a greater nation of your country, and a finer world to live in.
April 18, 1959, Washington, D.C.

p.138

"I Have a Dream"
...
I have a dream that one day this nation will rise up and live out the true meaning of its creed --
we hold these truths to be self evedent that all men are created equal.
I have a dream that one day on the red hills of Goergia the sons of former slaves and the sons of former slave owners will be able to sit down together at the table of brotherhood.
I have a dream that one day even the state of Mississippi, a state sweltering with the heat of oppression, will be transformed into an oasis of freedom and justice.
I have adream that my four children will one day live in a nation where they will not be judged by the color of their skin but by the content of their character.
I have a dream today!
I have a dreamthat one day, down in Alabama, with its vicious racists, with its governor having his lips dripping with the words of interposition and nullification; one day right there in Alabama little black boys and girls will be able to join hands with little white boys and white girls as sisters and brothers.
I have a dream today!
I have a dream that one day every valley shall be exalted, ebvery hill and mountain shall be made low, the rough places will be made plainand the crooked places will be made straight and the glory of the Lord shall be revealed and all flesh shall see it together.
....
p226

Man's inhumanity to man is not only perpetrated by the vitriolic actions of those who are bad.  It is also perpetrated by thr vitiating inactions of those who are good. p.229


Source:
The Autobiography of Martin Luther King, Jr. (Grand Central Publishing, Hachette Book Group, New York, NY: 1998).  Edited by Clayborne Carson.

"Tarantella" - Albert Pieczonka


https://www.youtube.com/watch?v=JMij_Jnklds

https://www.youtube.com/watch?v=T2f8uNkLYng
https://www.youtube.com/watch?v=ShTa_FTmXTo

Albert Emil Theodor Pieczonka (February 10, 1828 - April 12, 1912) was a composer, pianist and music instructor who resided in Germany, England, and the United States. His most famous work, the Tarantella in A Minor, remains a popular piano standard more than 100 years after his death. Albert Pieczonka was born in Königsberg on the Baltic coast of East Prussia. Today, this city, which was heavily damaged during the Second World War, is named Kaliningrad. It lies within the Kaliningrad Oblast, the westernmost exclave of Russia. Pieczonka was the youngest of three children born to Gotthilf Immanuel (1801-1872) and Friederike Caroline Dorothea (Rehlander) Pieczonka (1803-1853). He briefly attended the University of Königsberg before enrolling in the Leipzig Conservatory in 1847. This institution, the oldest music university in Germany, was founded by composer Felix Mendelssohn in 1843. While at the conservatory, Pieczonka studied under famed pianist Ignaz Moscheles (1794-1870). He may have also studied under Franz Liszt before undertaking a solo career. In 1855, Pieczonka married one of his students, Nancy "Nanny" Wohlgeboren (1836-1916). The couple had eight children, one of whom died as an infant. Two of the children, Ernst (1857-1877) and Fanny (1858-1886), were born in East Prussia. Alice (1859-1908), Kathe (1860-1938), Emily (1861-1915), Helen (1864-1896), Hans (1866-1867), and Eva (1867-1908), were born in London, England. Son, Ernst, was partially paralyzed as the result of a fall during childhood and died in England about 1876. Pieczonka's daughters’ lives were also marked by tragedy and were cut short by illness and accident. He outlived all but two of his children. In 1858, or thereabout, the Pieczonka family emigrated from continental Europe to London, England. In England, Pieczonka performed concerts and gave music lessons to children of the wealthy. It was in England that he composed several of his most recognized pieces including Dancing Waves, Polish Chivalry, and the Tarantella in A Minor. In September 1880, Pieczonka emigrated to the United States. He arrived in New York on The Queen, a three masted steamer of the British National Line. The family eventually settled on the upper east side of Manhattan at 169 East 95th Street. During the 1880s, Pieczonka, his wife, and his daughters performed together throughout the United States as the Kempa Ladies’ Orchestra. Pieczonka also gave solo concerts at venues such as Carnegie Hall in New York and the Great Auditorium at Ocean Grove, New Jersey. His performances consistently garnered favorable reviews from the press. He continued to write music and to give music lessons until shortly before his death. Pieczonka died of pneumonia in his Manhattan home on April 12, 1912. He was survived by his wife and two daughters. His widow, Nancy, died on November 18, 1916. Following Pieczonka's death, a blurb appeared in the monthly music magazine Etude: Albert Pieconka, the pianist-teacher-composer who died recently in his eighty fifth year, bore a remarkable facial resemblace to Beethoven. He studied at the University of Konigsberg and also at Leipzig Conservatory, after which he made a series of concert tours in German. His success in London won him the friendship of such men as Liszt and Rubinstein. In America he was more particularly engaged in teaching and composing. His best known work is his Tarantella.

Tuesday, April 16, 2019

Mindfully Facing Disease and Death


Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy
04. ĐẶC TÍNH CỦA NGƯỜI BỆNH VÀ NGƯỜI CHĂM SÓC
Bhikkhu Anālayo, Mindfully facing disease and death (2017)
IV.1 GIỚI THIỆU
Chương này trình bày tình huống bị bệnh từ hai quan điểm bổ sung: Phẩm chất đáng khen ngợi của người bệnh và người chăm sóc bệnh nhân. Những phẩm chất đáng khen ngợi này được mô tả trong hai bài kinh liên tiếp trong Tăng nhất A-hàm (EĀ 32.8 và 32.9). Có một sổ điểm khác biệt giữa hai bài kinh nầy và hai bài kinh tương đương trong Tăng chi bộ (AN 5.123 và 5.124).
Một trong những phẩm chất đáng khen ngợi đối với một bệnh nhân theo bản kinh trong Tăng nhất A-hàm là lòng Từ (mettā), là một trong bốn tâm vô lượng hay bốn phạm trú (brahmavihāra) thường được đề cập trong kinh điển Phật giáo: Từ, bi, hỷ, xả.
Bốn tâm vô lượng này là những thái độ lý tưởng để giao tiếp với những người khác, được đề cao trong tư tưởng và sự tu tập trong Phật giáo Sơ kỳ. Từ “phạm trú” có nghĩa là nếu một người có tâm rộng lớn như thế, khi qua đời sẽ được tái sinh cộng trú với phạm thiên (brahma), cũng có thể hiểu nếu có được một trong bốn tâm rộng lớn đó người ấy như thể đang trải nghiệm thiên đường trên trái đất này.
Tâm rộng lớn đầu tiên, tâm Từ - mettā, là thái độ của lòng tử tế và mong muốn điều tốt lành đối với người khác, mà bản chất của nó là đối nghịch với ác cảm, cáu kỉnh và ý định xấu xa. Tâm thứ hai, tâm Bi - karuṇā, là lòng trắc ẩn, sẽ là một chủ đề lặp đi lặp lại trong suốt cuốn sách này, đặc biệt dưới hình thức mong muốn giúp người khác giảm bớt đau khổ và cung cấp cho họ các phương cách đối diện với bệnh tật và cái chết. Bản chất của tâm bi là đối nghịch với ý định làm hại người khác. Tâm Hỷ - mudita là đối nghịch với sự đố kị, ghen tị và bất mãn. Tâm rộng lớn thứ tư, tâm Xả - upekkha, làm tròn toàn bộ, là một thái độ bình thản, xả ly trong các tình huống mà các thái độ khác sẽ không phù hợp. Tôi sẽ trở lại bốn tâm phạm trú nầy như một pháp hành thiền tại thời điểm cận tử trong Chương XV.
IV.2 THẢO LUẬN
Trong bài kinh đầu tiên của Tăng nhất A-hàm (EĀ 32.8), một bệnh nhân không phân biệt được loại thức ăn, thức uống thích hợp và thời gian thích hợp để tiêu thụ những thứ này thì bệnh của người ấy sẽ nặng hơn, và cũng như thế nếu bệnh nhân không dùng thuốc. Bài kinh trong Tăng chi bộ (AN 5.123) cũng có lời khuyên tổng quát tương tự. Bệnh sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu bệnh nhân không làm những gì phù hợp và, liên quan đến những gì phù hợp, không biết điều độ. Tương tự như thế nếu bệnh nhân không dùng thuốc.
Những yếu tố khác ngăn cản sự phục hồi của bệnh nhân trong bài kinh Tăng nhất A-hàm là thái độ cáu kỉnh và thiếu lòng Từ đối với người săn sóc mình. Bài kinh trong Tăng chi bộ thay vào đó mô tả một bệnh nhân không tiết lộ bệnh tình của mình xấu đi hoặc cải thiện và không thể chịu đựng cơn đau. Cả hai bài kinh có điểm chung là liệt kê năm yếu tố đối nghịch để giúp bệnh nhân phục hồi nhanh chóng. Kết hợp hai bài kinh và trình bày kết quả tóm tắt, những phẩm chất sẽ giúp bệnh nhân phục hồi nhanh chóng là:
• chỉ dùng thực phẩm và đồ uống thích hợp,
• dùng chúng đúng lúc và có chừng mực,
• uống thuốc theo toa,
• tiết lộ trung thực trình trạng bệnh và không cáu kỉnh, khó chịu,
• nuôi dưỡng lòng Từ đối với người chăm sóc và kiên nhẫn chịu đựng cơn đau.
Liên quan đến phẩm chất của một người chăm sóc bệnh nhân trong bài kinh của Tăng nhất A-hàm (EĀ 32.9) và Tăng chi bộ (AN 5.124), cả hai bài kinh đều đề cập đến vấn đề người chăm sóc thiếu khả năng hoặc thiếu năng lực phán đoán khi quản lý thuốc chữa trị. Bài kinh trong Tăng chi bộ trình bày vấn đề này bằng hai yếu tố trong đó người chăm sóc thiếu khả năng pha chế thuốc và thiếu phán đoán khi nào nên dùng thuốc và khi nào nên giữ lại. Yếu tố thứ hai trong kinh Tăng nhất A-hàm thay vào đó là sự sơ suất, điều này cũng sẽ ảnh hưởng xấu đến việc cung cấp đủ thuốc và chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân.
Một đặc tính chỉ thấy được đề cập trong bài kinh của Tăng nhất A-hàm là người chăm sóc thường hay nổi sân và ham ngủ nghỉ. Đặc tính tiếp theo trong bài kinh Tăng nhất A-hàm và bài kinh Pāli tương đương chuyển sang vấn đề người chăm sóc vì lợi ích vật chất. Trong bối cảnh Ấn Độ cổ đại, các tu sĩ phải chăm sóc lẫn nhau, do đó một số tu sĩ phải đảm nhận công việc điều dưỡng những người bị bệnh và cần được chăm sóc. Khi các nguồn vật chất do các tín đồ cư sĩ cung cấp trở nên dồi dào để hỗ trợ bệnh nhân và những người chăm sóc, đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc những người bị bệnh có thể được thúc đẩy bởi mong muốn kiếm lợi vật chất và thực phẩm cung cấp. Thay vào đó, như nêu ra rõ ràng trong bài kinh Tương ưng bộ, ta chỉ nên chăm sóc cho người bệnh vì lòng vị tha, được thúc đẩy bởi tâm Từ.
Một yếu tố khác chỉ thấy trong bài kinh Tăng chi bộ là sự ghê tởm mà một người chăm sóc bệnh nhân có thể cảm thấy khi phải lau dọn phân, nước tiểu, đồ nôn mửa và đàm mủ. Yếu tố cuối cùng trong cả hai phiên bản nêu rõ tầm quan trọng của việc trò chuyện với bệnh nhân. Bản kinh Tăng nhất A-hàm cho thấy rõ rằng, nếu người chăm sóc không quay lại trò chuyện với bệnh nhân, điều này sẽ cản trở sự phục hồi của bệnh nhân. Bài kinh tương đương trong Tăng chi bộ nói cụ thể hơn về người chăm sóc không có khả năng giải thích, khích lệ, làm cho người bệnh phấn khởi, hoan hỷ bằng những bài Pháp thoại.
Nhu cầu chăm sóc tinh thần của bệnh nhân và cung cấp một nguồn an ủi thông qua trò chuyện và khuyên dạy là một chủ đề được trình bày trong các chương tiếp theo, cho thấy Đức Phật và các vị đệ tử của Ngài vì lòng từ bi đến thăm người bệnh và người sắp chết để khuyên nhủ qua các bài Pháp thoại. Liên quan đến bài kinh trong chương này, giáo sư De Silva giải thích [*]:
Đáng chú ý ở đây là người chăm sóc bệnh nhân phải có khả năng không những chỉ chăm sóc cơ thể người bệnh bằng cách cho ăn và dùng thuốc đúng cách mà còn phải có khả năng chăm sóc tinh thần của bệnh nhân. Người ta ai cũng biết rằng lòng tử tế của các vị bác sĩ và y tá gần như có hiệu quả như thuốc chữa trị giúp bệnh nhân giữ vững tinh thần và chóng phục hồi sức khỏe. Khi một người tuyệt vọng hoặc bất lực vì bệnh tật, một lời nói tử tế hoặc một hành động dịu dàng trở thành nguồn an ủi và hy vọng.
Bài kinh trong Tăng nhất A-hàm và Tăng chi bộ tiếp tục giải trình bằng cách liệt kê năm phẩm chất tốt của người chăm sóc sẽ giúp bệnh nhân hồi phục nhanh chóng. Kết hợp hai bài kinh một cách tóm tắt và tập trung vào những điểm cốt yếu, sau đây là những phẩm chất chính của người chăm sóc sẽ tạo điều kiện cho sự phục hồi của bệnh nhân:
• dùng thuốc đúng cách,
• chú ý đến nhu cầu của bệnh nhân,
• không ghê tởm với những chất ô uế do bệnh nhân tiết ra,
• sẵn sàng trò chuyện với bệnh nhân,
• luôn duy trì một động lực vị tha và không cáu kỉnh với bệnh nhân.
Toàn bộ các phẩm chất này cho thấy giáo lý Phật giáo Sơ kỳ liên quan đến bệnh tật không chỉ giảng dạy đến những gì trực tiếp trong phạm vi tu tập đưa đến giác ngộ. Mặc dù rõ ràng đó là mục tiêu tối hậu hướng đến giác ngộ giải thoát, giáo lý đó cũng bao gồm các lời khuyên thực tế cho những người bị bệnh.
Những lời khuyên như thế không phải chỉ là những lời nói suông. Tạng Luật ghi lại câu chuyện chính Đức Phật đã tự tay chăm sóc các vị tỳ-khưu bị bệnh, như là một tấm gương truyền cảm hứng cho các vị đệ tử khác. Câu chuyện này là duyên sự để Đức Phật giảng về năm đặc tính của người bệnh và người chăm sóc bệnh nhân, như ghi lại trong tạng Luật cũng như trong Tăng chi bộ và Tăng nhất A-hàm.
Theo tạng Luật Pāli (Chương Y Phục, Đại Phấm), một ngày nọ Đức Phật tình cờ gặp một vị tỳ-khưu bị bệnh nhưng không được các bạn đồng tu quan tâm, để vị ấy nằm trong đống phân của chính mình. Với sự trợ giúp của ngài thị giả Ānanda, Đức Phật tự tay lau rửa, chăm sóc vị tỳ-khưu bị bệnh ấy. Sau đó, Ngài khiển trách các tỳ-khưu kia và dạy rằng các vị ấy phải có bổn phận chăm sóc bạn đồng tu bị bệnh, phải xem việc chăm sóc ấy như thể họ đang chăm sóc chính Đức Phật. Như ghi nhận của giáo sư De Silva [*]:
Đức Phật không chỉ ủng hộ tầm quan trọng của việc chăm sóc người bệnh, Ngài còn nêu gương sáng cao quý bằng cách tự mình chăm sóc người bệnh không còn sức lực.
Bên cạnh việc ghi nhận lòng từ bi của Đức Phật, đã tự tay lau rửa thân thể của một trong những đệ tử của Ngài, một khía cạnh đáng chú ý khác của câu chuyện trên là sự thiếu quan tâm của các vị tu sĩ. Câu chuyện mang đến ấn tượng rằng chăm sóc một người bạn đồng hành trong đời tu sĩ không nhất thiết phải được coi là một nghĩa vụ hiển nhiên, bởi vì nếu không, các tu sĩ sẽ không cần phải được khuyến dạy rằng họ nên chăm sóc người bệnh. Đức Phật rõ ràng đã phải làm gương để truyền cảm hứng cho các đệ tử xuất gia về lòng từ bi, thúc đẩy người ta sẵn sàng chăm sóc người khác, không phụ thuộc vào việc bệnh nhân có thể trả ơn về sự chăm sóc ấy. Lòng từ bi trong việc điều dưỡng như thế trở thành một khía cạnh không thể thiếu và thậm chí là đặc trưng của giáo lý của Đức Phật.
Tầm quan trọng của lòng từ bi cũng được ghi rõ trong danh sách các phẩm chất tốt của người chăm sóc và người bị bệnh, nêu ra những hậu quả có lợi của thái độ thương yêu và đồng cảm, không cáu kỉnh và bất cẩn. Đây có lẽ là khía cạnh nổi bật nhất trong chương này. Thái độ chân thành của lòng vị tha và lòng Từ sẽ giúp phục hồi sức khỏe nhanh chóng, là một thái độ cần phải được nuôi dưỡng bởi cả bệnh nhân và lẫn người chăm sóc.
Hai bộ phẩm chất gây bất lợi hoặc có lợi cho sự phục hồi của bệnh nhân có liên quan đến hai bộ phẩm chất gây bất lợi hoặc có lợi cho một hành giả trên con đường hành thiền tu tập tâm ý đưa đến giác ngộ giải thoát. Hai bộ phẩm chất này là các triền cái và các chi phần giác ngộ, sẽ là chủ đề của chương tiếp theo.
--------------------------
[*] de Silva, Lily, 1993: “Ministering to the Sick and Counselling the Terminally Ill”, in Studies on Buddhism in Honour of Professor A.K. Warder, N.K. Wagle et al. (ed.), 29–39, Toronto: University of Toronto, Centre for South Asian Studies.

Tăng nhất A-hàm, chương 32, phẩm Thiện tụ
EĀ 32.8
Hòa thượng Thích Thanh Từ và Hòa thượng Thích Đức Thắng dịch
Bình Anson hiệu đính (đối chiếu với bản Anh dịch của Bhikkhu Anālayo)
Tôi nghe như vầy. Một thời, Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các tỳ-khưu:
– “Người bệnh nào mà có năm đặc tính này thì không thể nào lành bệnh được, thường nằm liệt giường chiếu. Năm đặc tính đó là gì? (1) Người ấy không biết chọn đồ ăn thức uống; (2) người ấy không ăn đúng thời; (3) người ấy không chịu uống thuốc; (4) người ấy thường buồn rầu, khó chịu; (5) người ấy không có tâm từ đối với người săn sóc mình. Người bệnh có năm đặc tính đó thì không thể nào lành bệnh được.
“Người bệnh nào mà có năm đặc tính này thì bệnh sẽ mau lành. Năm đặc tính đó là gì? (1) Người ấy biết chọn đồ ăn thức uống; (2) người ấy biết ăn đúng thời; (3) người ấy biết uống thuốc; (4) người ấy không buồn rầu, khó chịu; (5) người ấy có tâm từ đối với người săn sóc mình. Người bệnh có năm đặc tính đó thì bệnh sẽ mau lành.
“Như vậy, này các tỳ-khưu, hãy tỉnh giác lìa bỏ năm điều trước, và lúc nào cũng ghi nhớ, thực hành năm điều sau. Các thầy phải huân tập như thế.”
Các tỳ-khưu sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

EĀ 32.8
Hòa thượng Thích Thanh Từ và Hòa thượng Thích Đức Thắng dịch
Bình Anson hiệu đính (đối chiếu với bản Anh dịch của Bhikkhu Anālayo) 
 
Tôi nghe như vầy. Một thời, Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các tỳ-khưu:
–“Nếu người săn sóc có năm đặc tính này thì người bệnh không chóng khỏi, thường nằm liệt giường. Năm đặc tính đó là gì? (1) Người ấy không biết phân biệt các loại thuốc; (2) người ấy biếng nhác, tâm không dũng mãnh; (3) người ấy thường hay nổi sân và ham ngủ nghỉ; (4) người ấy săn sóc bệnh nhân vì muốn kiếm ăn, không đúng pháp cung dưỡng; (5) người ấy không chuyện trò trao đổi với người bệnh. Người bệnh không thể nào chóng khỏi nếu người săn sóc có năm đặc tính đó.
–“Nếu người săn sóc có năm đặc tính này thì người bệnh sẽ chóng khỏi, không nằm liệt giường. Năm đặc tính đó là gì? (1) Người ấy biết phân biệt các loại thuốc; (2) người ấy không biếng nhác, luôn luôn thức trước, ngủ sau; (3) người ấy thường trò chuyện với bệnh nhân, ít ngủ nghỉ; (4) người ấy săn sóc đúng pháp cung dưỡng, không ham chuyện ăn uống; (5) người ấy có khả năng nói Pháp cho bệnh nhân nghe. Người bệnh sẽ chóng khỏi nếu người săn sóc có năm đặc tính đó.
“Như vậy, này các tỳ-khưu, khi săn sóc người bệnh, hãy tỉnh giác lìa bỏ năm điều trước, và lúc nào cũng ghi nhớ, thực hành năm điều sau. Các thầy phải huân tập như thế.”
Các tỳ-khưu sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
---------------------
Tăng chi bộ, chương Năm pháp
AN 5.123 Săn sóc người bệnh (1)
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Bình Anson hiệu đính (đối chiếu với bản Anh dịch của Bhikkhu Bodhi)
Này các tỳ-khưu, có năm đặc tính của một người bệnh khó săn sóc. Năm đặc tính đó là gì? (1) Người ấy làm điều có hại; (2) người ấy không biết vừa phải trong khi chữa trị; (3) người ấy không sử dụng thuốc; (4) người ấy không nêu rõ triệu chứng bệnh với người săn sóc mình, không báo cáo khi cần thiết rằng bệnh tình gia tăng hay thuyên giảm hay vẫn như cũ; (5) người ấy không kham nhẫn chịu đựng các cảm thọ nơi thân khởi lên đau đớn khốc liệt, cường liệt, mãnh liệt, khó chịu, đoạt mạng. Đó là năm đặc tính của một người bệnh khó săn sóc.
Này các tỳ-khưu, có năm đặc tính của một người bệnh dễ săn sóc. Năm đặc tính đó là gì? (1) Người ấy làm điều có lợi; (2) người ấy biết vừa phải trong khi chữa trị; (3) người ấy sử dụng thuốc; (4) người ấy nêu rõ triệu chứng bệnh với người săn sóc mình, báo cáo khi cần thiết rằng bệnh tình gia tăng hay thuyên giảm hay vẫn như cũ; (5) người ấy kham nhẫn chịu đựng các cảm thọ nơi thân khởi lên đau đớn khốc liệt, cường liệt, mãnh liệt, khó chịu, đoạt mạng. Đó là năm đặc tính của một người bệnh dễ săn sóc.
AN 5.123 Săn sóc người bệnh (1)
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Bình Anson hiệu đính (đối chiếu với bản Anh dịch của Bhikkhu Bodhi)
Này các tỳ-khưu, có năm đặc tính của một người không có khả năng săn sóc người bệnh. Năm đặc tính đó là gì? (1) Người ấy không biết cách pha thuốc; (2) người ấy không biết cái gì có lợi, cái gì có hại, vì thế người ấy cho những gì có hại và cất giữ những gì có lợi; (3) người ấy săn sóc bệnh nhân vì quyền lợi vật chất, không phải vì lòng từ mẫn; (4) người ấy thấy ghê tởm dọn phân, nước tiểu, đồ mửa ra, hay đàm mủ; (5) người ấy không có khả năng thỉnh thoảng chia sẻ những bài Pháp thoại để giải thích, khích lệ, làm cho người bệnh phấn khởi, hoan hỷ. Đó là năm đặc tính của một người không có khả năng săn sóc người bệnh.
Này các tỳ-khưu, có năm đặc tính của một người có khả năng săn sóc người bệnh. Năm đặc tính đó là gì? (1) Người ấy biết cách pha thuốc; (2) người ấy biết cái gì có lợi, cái gì có hại, vì thế người ấy cho những gì có lợi và cất giữ những gì có hại; (3) người ấy săn sóc bệnh nhân vì lòng từ mẫn, không phải vì quyền lợi vật chất; (4) người ấy không thấy ghê tởm dọn phân, nước tiểu, đồ mửa ra, hay đàm mủ; (5) người ấy có khả năng thỉnh thoảng chia sẻ những bài Pháp thoại để giải thích, khích lệ, làm cho người bệnh phấn khởi, hoan hỷ. Đó là năm đặc tính của một người có khả năng săn sóc người bệnh.
* * *
Tạng Luật (Vinaya Pitaka), Đại Phẩm (Mahāvagga)
VIII. CHƯƠNG Y PHỤC (CĪVARAKKHANDHAKAṂ)
Tỳ-khưu Indacanda dịch
[166] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh kiết lỵ. Vị ấy đã bị té vào đống phân và nước tiểu của chính mình. Khi ấy, trong lúc đang đi dạo quanh các trú xá cùng với đại đức Ānanda là sa-môn hầu cận, đức Thế Tôn đã đi đến trú xá của vị tỳ khưu ấy. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy té và đang nằm trên đống phân và nước tiểu của chính mình, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này tỳ khưu, ngươi bị bệnh gì?
- Bạch Thế Tôn, con bị bệnh kiết lỵ.
- Này tỳ khưu, ngươi không có người phục vụ?
- Bạch Thế Tôn, không có.
- Vì sao các vị tỳ khưu lại không phục vụ ngươi?
- Bạch ngài, con là người không có làm gì cho các vị tỳ khưu, do đó các vị tỳ khưu không phục vụ con.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, hãy đi và mang nước lại. Chúng ta sẽ tắm cho vị tỳ khưu này.
- Bạch ngài, xin vâng.
Rồi đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã mang nước lại. Đức Thế Tôn đã xối nước và đại đức Ānanda đã rửa ráy toàn bộ. Rồi đức Thế Tôn đã đỡ phần đầu còn đại đức Ānanda nâng lên ở phần chân và đặt ở trên giường. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại rồi hỏi các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, có phải có vị tỷ kheo trong trú xá ở đàng kia bị bệnh?
- Bạch Thế Tôn, thưa có.
- Này các tỳ khưu, vị ấy bị bệnh gì?
- Bạch ngài, đại đức ấy bị bệnh kiết lỵ.
- Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có người phục vụ không?
- Bạch Thế Tôn, không có.
- Vì sao các tỳ khưu lại không phục vụ vị ấy?
- Bạch ngài, vị tỳ khưu ấy là người không có làm gì cho các tỳ khưu, do đó các tỳ khưu không phục vụ vị ấy.
- Này các tỳ khưu, các ngươi không có mẹ, không có cha là những người có thể phục vụ các ngươi. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không phục vụ lẫn nhau thì khi ấy lấy ai sẽ phục vụ đây? Này các tỳ khưu, vị nào có thể phục vụ ta, vị ấy nên phục vụ những người bệnh. Nếu có thầy tế độ, thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có thầy dạy học, thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có đệ tử, người đệ tử nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có học trò, người học trò nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có vị đồng thầy dạy học, vị đồng thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu không có thầy tế độ, hoặc thầy dạy học, hoặc người đệ tử, hoặc người học trò, hoặc vị đồng thầy tế độ, hoặc vị đồng thầy dạy học, hội chúng nên phục vụ; nếu không phục vụ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Này các tỳ khưu, vị bị bệnh là khó phục vụ khi hội đủ năm điều: Là vị không làm việc cần làm; là vị không biết sự vừa phải trong việc cần làm; là vị không quen dùng dược phẩm; là vị không giải thích cho người phục vụ bệnh nhân luôn muốn điều tốt đẹp một cách rõ ràng, đúng theo thực trạng như (bệnh) đã tăng thêm là “(Bệnh) đã tăng thêm,” (bệnh) đã giảm là: “(Bệnh) đã giảm,” (bệnh) ổn định là: “(Bệnh) ổn định;” là loại người không chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc cơ thể đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, người bệnh hội đủ năm điều này là khó phục vụ.
Này các tỳ khưu, vị bị bệnh là dễ phục vụ khi hội đủ năm điều: Là vị làm việc cần làm; là vị biết sự vừa phải trong việc cần làm; là vị quen dùng dược phẩm; là vị giải thích cho người phục vụ bệnh nhân luôn muốn điều tốt đẹp một cách rõ ràng, đúng theo thực trạng như (bệnh) đã tăng thêm là “(Bệnh) đã tăng thêm,” (bệnh) đã giảm là: “(Bệnh) đã giảm,” (bệnh) ổn định là: “(Bệnh) ổn định;” là loại người chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc cơ thể đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, người bệnh hội đủ năm điều này là dễ phục vụ.
Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân không thích hợp để phục vụ người bệnh là vị hội đủ năm điều: Là vị không có khả năng để phân phát thuốc men; không biết điều gì cần làm và điều gì không cần làm, làm điều không cần thiết và không làm điều cần thiết; phục vụ người bệnh vì mục đích tài vật và không có tâm từ; ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa; không có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng bài Pháp thoại lúc này lúc khác. Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân hội đủ năm điều này là không thích hợp để phục vụ người bệnh.
Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân thích hợp để phục vụ người bệnh là vị hội đủ năm điều: Là vị có khả năng để phân phát thuốc men; biết điều gì cần làm và điều gì không cần làm, không làm điều không cần thiết và làm điều cần thiết; có tâm từ và phục vụ người bệnh không vì mục đích tài vật; không ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa; có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng bài Pháp thoại lúc này lúc khác. Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân hội đủ năm điều này là thích hợp để phục vụ người bệnh.

Trich tu sach:
Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy 
Bhikkhu Analayo (2017).
Mindfully Facing Disease and Death: Compassionate Advice from Early Buddhist Texts.
(http://budsas.net/dlpp/bai304/index.htm)
Bhikkhu ANALAYO (1962-)

Centre for Buddhist Studies, University of Hamburg, Germany
Tỳ-khưu Analayo sinh năm 1962 tại Đức. Sư xuất gia gieo duyên năm 1990 tại chùa Wat Suan Mokkh ở miền nam Thái Lan. Năm 1994, Sư đến Sri Lanka xuất gia với ngài Hòa thượng Balangoda Ananda Maitreya, và sau đó thọ giới tỳ-khưu với Hòa thượng Pemasiri vào năm 2007 trong hệ phái Shwegyin Nikaya (bắt nguồn từ hệ phái chính Amarapura Nikaya). Tuy nhiên, Bhikkhu Bodhi là vị thầy chính.
Sư hoàn tất chương trình tiến sĩ tại University of Peradeniya năm 2000 và luận án tiến sĩ được xuất bảm thành sách với tựa đề “Satipaṭṭhāna, the Direct Path to Realization”. Cuốn sách được nhiều người khen ngợi, đã được tái bản nhiều lần và dịch sang 10 thứ tiếng. Bản tiếng Việt được Cư sĩ Nguyễn Văn Ngân dịch, với tựa đề “Satipaṭṭhāna, Con đường thẳng tới giác ngộ”, xuất bản năm 2017.
Hiện nay, Sư là giáo sư Phật học tại Trung tâm Phật học của Đại học Hamburg, Đức quốc (Centre for Buddhist Studies, University of Hamburg), Đại học Phật giáo Pháp Cổ, Đài Loan (Dharma Drum Buddhist College, Taiwan). Sư là đồng sáng lập viên Nhóm Nghiên cứu A-hàm (Āgama Research Group) và là giảng sư của Trung tâm Phật học Barre, Hoa Kỳ (Barre Center for Buddhist Studies).
Hiện nay (2018), ngài trú và tịnh tu tại Trung tâm Phật học Barre, bang Massachusetts, Hoa Kỳ.
Các nguồn thông tin:
Source: