Tuesday, April 18, 2023

PHƯƠNG PHÁP PHÒNG HỘ CÁC CĂN

Thích Trung Định Trong rất nhiều phương pháp tu tập thì phòng hộ các căn (bảo vệ các giác quan) được Đức Phật giảng dạy rất chi tiết.Theo quan điểm của Phật giáo, sự tiếp xúc giữa các giác quan và các đối tượng trần cảnh là một cơ hội để tham muốn, chán nản, bất thiện tràn vào tâm thức. Định lý duyên khởi chỉ ra rằng, sự tiếp xúc sinh các cảm thọ, từ cảm thọ sinh ra ái dục, từ ái dục sinh ra chấp thủ, từ chấp thủ sinh ra hiện hữu, từ hữu có sinh, già, bệnh, chết, sầu bi khổ ưu não. Khi cắt đứt một mắt xích nào trong chuỗi duyên khởi này thì khổ đau chấm dứt. Đó là ý nghĩa của phương pháp phòng hộ các căn. Khi căn tiếp xúc với trần, con người có thói quen tồn tại hai khuynh hướng phản ứng tâm lý, một là yêu thích, dễ chịu; hai là ghét bỏ, khó chịu. Theo Phật giáo, cả hai khuynh hướng trên đều do vô minh chi phối và là nguyên nhân sâu xa gây đau khổ. Chính vì thiếu hiểu biết về bản chất phụ thuộc và luôn thay đổi của các giác quan cùng các đối tượng của chúng mà con người yêu những gì hợp ý hoặc trở nên giận ghét với những gì không phù hợp và điều này làm cho chúng ta đau khổ. Có thể nói rằng đau khổ phát sinh chủ yếu là do tham, sân, si. Do vậy, phòng hộ các căn là ngăn chặn tâm tham, sân, si phát sinh do sự tiếp xúc. Trong bài giảng đầu tiên, Bài giảng về lửa, Đức Phật tuyên bố rằng: “Tất cả đều đang cháy”. Tất cả chỉ là sáu căn, sáu trần và sáu thức. Con mắt đang cháy với sắc trần, lỗ tai đang cháy với thanh trần… tương tự như vậy với các căn và trần còn lại. Chúng đang cháy với những đám cháy của phiền não và đau khổ. Tương ưng về xứ tuyên bố rằng, để đoạn tận vô minh và tạo ra sự hiểu biết chân thật, chúng ta phải quán chiếu tất cả sáu nội ngoại xứ (thập nhị xứ) là vô thường, khổ đau và vô ngã. Sáu căn đang cháy với sáu trần sinh ra tham đắm, chấp thủ, thì cũng từ nơi sáu xứ này để dập tắt, đoạn trừ chúng. Đây là con đường thực tập để đạt được Niết-bàn (S.35:147). Một con đường khác, được đề cập trong kinh Sự trống rỗng của thế giới (S.35:85), là phải thấy rằng sáu giác quan trống rỗng - trống rỗng về một cái tôi hay cái gì thuộc về tự ngã của tôi. Vì tất cả chỉ là sự phát sinh từ sáu căn, sáu trần và sáu thức, nên nó cũng là vô ngã1. Phòng hộ các căn không có nghĩa là đóng bít các giác quan không cho tiếp xúc với các trần cảnh. Điều này là không thể. Chỉ chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ các căn không để cho tâm rong ruổi tìm cầu rồi dẫn đến khổ đau. Trong kinh Tương ưng bộ, Đức Phật trình bày về phòng hộ các căn như sau:“Và làm thế nào, này các Tỷ-kheo, một người luôn phòng hộ các căn môn? Ở đây, vị Thánh đệ tử, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ưu, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ưu, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy là vị Thánh đệ tử hộ trì các căn”2. Kinh Trường bộ (kinh Sa-môn quả), Đức Phật dạy: “Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không vẩn đục”3. Hộ trì các căn bằng cách thực tập chánh niệm tỉnh giác, tâm không còn tham luyến với các trần cảnh, tâm an định và bắt đầu phát sinh niềm hỷ lạc. Đây chính là kết quả lợi lạc của pháp môn phòng hộ các căn, tức thực nghiệm một nếp sống sáng suốt, thanh thản, an lạc với cái tâm không còn bị chi phối bởi ngoại cảnh, không còn phản ứng dao động bởi mọi thứ thuận duyên hay nghịch ý. Được như vậy, hành giả không còn bị ngoại cảnh chi phối, làm chủ được tâm và bắt đầu đi vào chánh đạo. Trong kinh Trung bộ (kinh Căn tu tập), Đức Phật dạy về phương pháp chế ngự các căn như sau: “Này Ananda, thế nào là vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh? Ở đây, này Ananda, vị Tỷ-kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả’. Cho nên, dẫu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Này Ananda, như một người có mắt, sau khi mở mắt, lại nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các sắc do mắt nhận thức…”4.Vị ấy cũng thực hành như vậy với các căn còn lại. Như vậy, để phòng hộ các giác quan có hai nhiệm vụ chính cần phải làm. Một là, vị ấy phải học cách kiểm soát ham muốn của mình khi căn tiếp xúc với trần. Hai là, vị ấy học cách nhìn rõ bản chất của tất cả những cảm giác là không thật, vô thường, biến đổi. Tuy nhiên, sự thực tập này đi ngược lại thói quen của xã hội văn minh vốn đề cao chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy cảm. Do đó, phần lớn con người vẫn thường sống trong sự chi phối bởi cảm xúc giác quan. Ngành quảng cáo, du lịch, ẩm thực, âm nhạc tập trung đánh vào, nhằm thỏa mãn thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác của khách hàng để thu về lợi nhuận. Như chúng ta đã biết, ham muốn của con người để thỏa mãn về thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và các đối tượng tinh thần đã sinh ra cái gọi là nền văn minh của nhân loại. Nhưng chính những ham muốn này đã trở thành một sự thật nghiệt ngã tạo nên mối đe dọa lớn đối với sự tồn vong của chúng ta. Mâu thuẫn của nền văn minh hiện đại nằm ở ngay chính nó: trong tâm ích kỷ cố hữu của con người đã vẽ ra một viễn cảnh để con người đạt được mục đích phục vụ sự thỏa mãn cảm giác. Bất chấp những thành tựu vượt trội của nó, thật khó để giả định rằng một nền văn minh đề cao tính tự trọng và hoạt động theo cách kích thích sự gia tăng ham muốn nhục dục ở con người như hiện nay có thể đảm bảo sự phát triển liên tục và lâu dài mà không mang lại sự rắc rối. Kết quả của xu hướng này là từ những suy nghĩ tham lam và hiếu chiến xuất phát từ tính tự cho mình là trung tâm đã mở đường cho mọi tệ nạn trong xã hội. Càng nhiều người tìm kiếm sự thỏa mãn trong các thú vui nhục dục thì thế giới càng rơi vào khủng hoảng. Ngày nay, người đã hiểu được rằng lòng tham hay dục vọng là đầu mối của chiến tranh và khủng hoảng toàn cầu như: ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, v.v… Do đó, cách duy nhất để thoát khỏi tình trạng này là thực tập kiềm chế lòng tham dục. Bằng kinh nghiệm cá nhân, Đức Phật đã chỉ ra cho mọi người thấy rằng, một người không thể chinh phục được ham muốn của mình đối với các thú vui giác quan trừ khi bản thân vị ấy trải nghiệm được hỷ lạc phát sinh từ kết quả của sự thực tập thiền định. Điều này cho thấy thiền định của Phật giáo có khả năng điều phục những ham muốn nhục dục và con người có thể tìm kiếm những thú vui khác vượt lên những thú vui giác quan. Đức Phật gọi những trải nghiệm hạnh phúc sinh ra từ thiền định ‘là hạnh phúc của sự từ bỏ, hạnh phúc của sự xả ly, hạnh phúc của sự an bình và hạnh phúc của sự tỉnh giác’. Điều này giải thích trong thực tế rằng, những niềm vui sinh ra từ việc phòng hộ các căn có bản chất ôn hòa và vị tha, trong khi những niềm vui của giác quan có bản chất hung hăng và ích kỷ. Do đặc tính của chúng, niềm vui sinh ra từ thiền định trong Phật giáo được gọi là ‘những thứ tuyệt vời, thánh thiện và không sợ hãi’, trong khi những ham muốn giác quan được xem là ‘thấp hèn, xấu xa và đáng sợ’. Từ quan điểm này, chúng ta có thể nói rằng thế giới sẽ thoát khỏi thảm họa do con người tạo ra và phẩm giá con người sẽ tăng trưởng một khi việc chế ngự các căn của Phật giáo trở thành một trong những mục tiêu phấn đấu của toàn thể nhân loại. ___________________ 1 Bhikkhu Bodhi, In the Buddha’ Word, An Anthology of Discourses from the Pāli Canon, Wisdom Publications, Boston, 2005, p. 311. 2 F. L. Woodward, The Book of the Kindred Sayings, Vol.IV, pp.110-11. 3 HT.Thích Minh Châu, dịch, Trường bộ kinh, Kinh Sa-môn quả, (Sàmannaphala sutta). 4 HT.Thích Minh Châu, dịch, Trung bộ kinh, Kinh Căn tu tập, https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung152.htm

Wednesday, April 12, 2023

GIÁO PHÁP TRẦN NHÂN TÔNG THEO NHỮNG PHẠM TRÙ CỦA TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG

GIÁO PHÁP TRẦN NHÂN TÔNG THEO NHỮNG PHẠM TRÙ CỦA TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG Nguyễn Thế Đăng Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308) là Sơ Tổ kiến lập phái Trúc Lâm Yên Tử tiếp tục truyền bá tinh hoa của Phật giáo, một Phật giáo đã đồng hành cùng nhân loại suốt 1.800 năm, tính cho đến thời ngài. Giáo pháp của ngài có đầy đủ những phạm trù triết học theo quan niệm một hệ thống triết học của Tây phương. Sau đây sẽ sơ lược qua những phạm trù, những môn học ấy. 1/ Hữu thể học, bản thể học (Ontology). Với Đông phương, hữu thể hay bản thể được gọi là bản tánh, tánh. Hán Việt gọi là tính, âm Việt gọi là tánh. Như bản tánh của tâm là ‘nature of mind’. Bản tánh của tất cả mọi sự là tánh Không: “Hỏi phép chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc. Biết chân như, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật, Tổ tây đông. Chứng thực tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền nam bắc”. (Cư trần lạc đạo phú, hội thứ tư) Chân Không cũng là Chân Như, Thực Tướng, và trí huệ Bát nhã mới có thể thấu rõ thực tại Chân Như, Chân Không ấy. “Tượng chúng ấy: Cóc biết một chân không, dùng đòi căn khí” (Hội thứ mười) (Phàm chúng ấy: Biết một Chân Không, dùng theo căn cơ riêng của mỗi người). Chân Không, Chân Như là nền tảng, là bản tánh của mọi xuất hiện. Xuất hiện xấu do người làm xấu, xuất hiện tốt do người làm tốt; ai gây nhân nào thì chịu quả đó. Nhưng với người đã biết một Chân Không, thì mọi xuất hiện đều là Chân Không, Chân Như, cho nên thoát khỏi nghiệp xấu tốt của người khác. Thế nên với người biết Chân Không thì giải thoát không phải là tránh xa thế gian đầy dẫy tốt xấu này, mà là thấy mọi sự xuất hiện tốt xấu của thế gian đều là Chân Không, Chân Như. Đây cũng là hạnh Bồ tát, ở trong thế gian để giúp đỡ, giải thoát cho người khác nhưng không bị nhiễm ô bởi cái tốt cái xấu của người khác. Tánh Không đi liền với quang minh, ánh sáng mà Tổ Trần Nhân Tông nói là “tánh sáng”: “Sách dễ xem chơi, yêu tính sáng hơn yêu châu báu” (Hội thứ nhất) “Gìn tính sáng, tính mới hầu an… Di Đà là tính sáng soi…” (Hội thứ hai) Trong Cư Trần Lạc Đạo Phú, Tổ đã 5 lần nói đến “tính sáng”. Ngoài ra những từ đồng nghĩa là “tính gương”, “gương sáng” (minh kính): “Chùi cho vặc vặc tính gương” (Hội thứ sáu) “Thân Bồ đề, lòng minh kính” (Hội thứ chín) Tóm lại, bản thể, bản tánh của con người, thế giới, của tất cả mọi sự là tánh Không và tánh Sáng. 2/ Siêu hình học (Metaphysics) Trong Cư Trần, thực tại siêu hình học được nói bằng những chữ: “vô vi” (Hội thứ tư); “vô sanh” (Hội thứ năm); “vô tâm” (Hội thứ sáu), hoặc những hình ảnh như: “Địch (sáo) chẳng có lỗ, cũng phiếm chơi xướng thái bình ca” “Thiền ngõ năm câu, nằm thảnh thơi trong quê Hà hữu” (Hội thứ năm) Quê Hà hữu là quê nào có, quê không chỗ có (vô sở hữu), quê không ở nơi nào cả (vô trụ xứ). Siêu hình học nói đến thực tại siêu việt vượt khỏi và nằm ngoài thế gian hữu hạn, vô thường, khổ đau. Siêu việt tính này Đông phương gọi là Đạo, Phật giáo gọi là Niết bàn. Nhưng với Đại thừa, siêu việt tính không nằm ngoài nội tại tính, siêu việt tính là nội tại tính. Nói cách khác, đạo không nằm ngoài đời, Niết bàn không nằm ngoài sanh tử. Với Tổ Trần Nhân Tông, điều này được nhắc lại nhiều lần, và nhan đề Cư trần lạc đạo, Ở đời vui đạo rõ ràng đã nói lên đạo - đời là một thể. 3/ Nhận thức luận (Epistemology) Nhận thức luận theo Phật giáo không phải là một chủ thể hữu hạn nhận thức một đối tượng hữu hạn mà là xóa đi sự cách biệt giữa chủ thể và đối tượng để có cái thấy biết sâu sắc hơn về bản chất của chủ thể và đối tượng và bản chất của mối tương quan giữa chủ thể và đối tượng. Đây là công việc của thiền định Phật giáo. Trong ngôn ngữ Tây phương cũng có điều tương tự. Hiểu (understand) có nghĩa là hiểu bằng cách đứng (stand) dưới (under) chủ thể và đối tượng. Trong tiếng Pháp, hiểu (comprendre), thay vì một chủ thể nắm bắt (prendre) một đối tượng thì chủ thể và đối tượng cùng (com) nắm bắt lẫn nhau. Tóm lại sự hiểu không nằm ở chủ thể, cũng không nằm ở đối tượng, mà nằm nơi nền tảng từ đó phân cách ra chủ thể và đối tượng. Tổ Trần Nhân Tông nói cái biết (trong Cư trần là chữ “cốc”, “viên giác”) do dứt trừ sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng, giữa ta và người: Dứt trừ nhân ngã Thì ra thực tướng kim cương Dừng hết tham sân Mới rõ lòng mầu viên giác. (Hội thứ hai) Cái trí biết của thánh là xóa sạch sự cách biệt của ta và người, chuyển cái nghiệp phân biệt thì thành thánh trí: Chuộng công danh Lồng nhân ngã Thực ấy phàm ngu. Say đạo đức Chuyển thân tâm Định nên thánh trí. (Hội thứ mười) 4/ Tâm lý học và phân tâm học (Psychology and Psychoanalysis) Ngài không chỉ khảo sát và tìm cách chuyển hóa những phiền não nơi tâm, “Chuyển tam độc mới chứng tam thân” (hội thứ tư), “Ngăn bát thức, nén bát phong, càng đè càng bội” (hội thứ năm), “Cầm kiếm trí huệ, quét cho không tính thức thuở nay” (hội thứ bảy); mà quan trọng nhất là thấy biết bản tánh của tâm, bản tánh của tám thức, để chính trên nền tảng đó mà chuyển hóa. Bản tánh của tâm này chính là Phật, Phật thường trụ trong tâm mình: Chỉn Bụt là lòng Hãy ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ (Hội thứ ba) Vậy mới hay Bụt ở trong nhà, Chẳng phải tìm xa Nhân quên bản (gốc) nên ta tìm Bụt Đến biết hay chỉn Bụt là ta. (Hội thứ năm) Phật là bản tánh của tâm, là tánh Không và tánh Sáng. Khi đạt đến bản tánh của tâm vốn trong sạch, thế giới này biến thành cõi trong sạch hay Tịnh độ: Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương Di Đà là tính sáng soi, nào phải nhọc tìm về Cực lạc. (Hội thứ hai) Ai cũng có bản tánh của tâm, có “Bụt ở trong nhà”, nên ai cũng có thể thành Phật: Tích nhân nghĩa, tu đạo đức Ai hay này chẳng phải Thích Ca. (Hội thứ tư) 5/ Luận lý học (Logic) Luận lý học của ngài trong bài kệ Hữu cú vô cú (Câu có câu không) đi theo lý luận vượt khỏi Tứ cú (Bốn câu: có, không, vừa có vừa không, không ‘vừa có vừa không’) của Trung luận của Bồ tát Long Thọ. Phá hủy để siêu vượt khỏi bốn câu là siêu vượt khỏi giới hạn của ý thức vốn chỉ có thể hoạt động trong vòng vây của bốn câu, và do đó thấy được thực tại giải thoát, chính là tánh Không: Câu có câu không Tự cổ tự kim Chấp ngón (tay) mất (mặt) trăng Đất bằng chết đuối. … Câu có câu không Như vậy như vậy Tám chữ mở tung Mọi vấn đề dứt. Tám chữ là những cặp chữ đối nghịch, mâu thuẫn với nhau của ý thức và ngôn ngữ như: có – không, sanh – diệt, dơ – sạch, tăng – giảm… 6/ Đạo đức học (Ethics) Chữ “đạo đức” được ngài nhắc lại nhiều lần (4 lần trong 10 hội). Đạo đức đối với ngài nói riêng và đạo Phật giáo nói chung, là sự hoan hỷ, hạnh phúc, đến độ say sưa: Phiền não rồi đạo đức càng say. (Hội thứ bảy) Say đạo đức, dồi thân tâm, định nên thánh trí. (Hội thứ mười) Những chữ cùng nghĩa với đạo đức có nhiều trong bài phú như “giới hạnh”, “giới”, “nhân nghĩa”, “phúc tuệ”… chỉ việc giữ trọn vẹn giới hạnh cũng đem lại nguồn an vui như Phật Di Lặc: Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham Chỉn thực ấy là Di Lặc. (Hội thứ tư) Hơn nữa, đạo đức không chỉ riêng cho mình, mà đạo đức là xây dựng một xã hội hạnh phúc cho mọi người. Như thế trong và ngoài đều no đủ về vật chất và tinh thần. Phúc tuệ gồm no Chỉn mới khá nên người thực biết. Dựng cầu đò, giồi chùa tháp Ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu. Săn hỷ xả, nhuyễn từ bi. Nội tự tại kinh lòng hằng đọc (Hội thứ tám) 7/ Thế giới quan và nhân sinh quan (Worldview, Weltanschauung) Quan niệm về thế giới và lẽ sống, mục đích của đời người, theo ngài là như sau. Thế giới của người bình thường kinh nghiệm như là phân cách, chia rẻ, xung đột, khổ đau, là do phiền não, vô minh của họ mà thấy. Trong khi đó, thật tướng của thế giới là trong sạch, sáng tỏ, không dơ nhiễm, vô ngại như kim cương: Dứt trừ nhân ngã Thì ra thực tướng kim cương. (Hội thứ hai) Nhận biết làu làu lòng vốn Chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên Chùi cho vặc vặc tính gương Nào có nhuốm căn trần huyên náo. (Hội thứ sáu) Quan niệm về con người và mục đích của cuộc đời họ, với ngài, là cái nhìn lạc quan rốt ráo, vì nơi mỗi người vốn có cái tiềm năng thành Phật. Chỉn Bụt là lòng. (Hội thứ ba) Tiềm năng Phật, tánh Phật ấy là cái thường hiện diện dù chúng ta có biết hay không, còn phiền não, khổ đau chỉ là những xuất hiện vô thường do sống sai mà tạm khởi. Cho nên: Bụt ở trong nhà Chẳng phải tìm xa. (Hội thứ năm) Vậy cho hay: Cơ quan Tổ giáo Tuy khác nhiều đàng Chẳng cách mấy gang (Hội thứ chín) Chỉ cần đánh thức vị Phật vốn ở trong tâm thì những tà kiến, phiền não bị cháy rụi trong ngọn lửa trí huệ: Buông lửa giác ngộ Đốt hoại thảy rừng tà ngày trước … Vô minh hết Bồ đề thêm sáng Phiền não rồi đạo đức càng say. (Hội thứ bảy) 8/ Triết lý hành động (Praxis) Toàn cả cuộc đời của ngài là một cuộc đời hành động vì lợi lạc cho mình và cho người. Cuộc đời ấy có thể phân làm 4 giai đoạn như văn hóa cổ đại Ấn Độ và Trung Hoa. Nhỏ thì học đời để lên làm vua, đồng thời học đạo với Tuệ Trung thượng sĩ. Khi trưởng thành thì đảm nhận làm vua, đảm nhận trách nhiệm với xã hội, trực tiếp hai lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, đồng thời đem đạo ra ứng xử, ban bố trong đời sống nhân dân. Giai đoạn thứ ba, (tương đương với thời nay là ‘về hưu’), bớt dần việc triều chính, làm thái thượng hoàng và lo việc mở mang đạo, chẳng hạn đi thăm Chiêm Thành là một xứ sở Đại thừa ở phía Nam. Cuối cùng, giai đoạn thứ tư, hoàn toàn ‘hành đạo’, xuất gia làm Tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm, lấy Yên Tử làm ‘kinh đô’ của Phật giáo, dạy đạo cho triều đình cho đến nhân dân. Ngài đã tu trong chính cuộc đời và qua đó nâng cấp cuộc đời xã hội lên với đạo. Với ngài cuộc đời xã hội là một đạo tràng tu tập để thực hiện lý tưởng Phật giáo “tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn”. Tổ Trần Nhân Tông, qua giáo pháp của ngài, đã gồm đủ mọi phạm trù, mọi lãnh vực của triết học xưa nay. Ngài đã bao gồm mọi môn học của cái học tạo ra văn hóa nhân loại. Ngài đã thiết lập một nền tảng triết học cho Phật giáo Việt Nam và nói rộng ra, nền tảng văn hóa Việt Nam. Ngày nay, sau ngài hơn tám thế kỷ, trong một thế giới mà mọi lãnh vực đều được toàn cầu hóa, ngay cả Phật giáo của mỗi nước đều có giao thoa, tiếp biến (acculturation) với Phật giáo của các nước khác, điều may mắn cho chúng ta là đã có một nền tảng để từ đó trao đổi, giao lưu, tiếp nhận những đặc sắc của những nền văn hóa Phật giáo khác, và của văn hóa và khoa học Tây phương, nghĩa là của thế giới.

Thursday, April 6, 2023

Đông du học

Nguồn: Diễn Đàn Trái Chiều Ngày đăng: 2023-03-28 Hồi cuối năm ngoái, kẻ này có dịp đi du lịch bên Âu Châu và đã có dịp viết ít bài 'phúc trình' cho quý vị đọc để thay đổi không khí, bớt bàn chuyện chính trị quá nặng nề, đọc mãi phát mệt. Tuần này, kẻ này đang ở Tokyo, thủ đô Nhật. Nhân dịp cũng muốn có một bài 'phúc trình' cùng quý độc giả, cũng trong mục đích thay đổi không khí. Tại sao lại là "đông du học"? "Đông" vì thật sự khi từ Mỹ đi Nhật là đi về phiá tây, nhưng là đi về cái chúng ta thường gọi là 'phương đông' dĩ nhiên; "du học" vì phải thành thật thú nhận đi Nhật bao giờ cũng là đi ... 'du học', chẳng những cho dân chậm tiến an-nam-mít ta, mà cũng cho dân cả thế giới luôn. Chỉ vì thật sự mà nói, nước Nhật và dân Nhật có cả triệu chuyện tân kỳ, mới lạ, văn minh, lịch lãm,... cho tất cả chúng ta học hỏi. Đã có quá nhiều bài viết về cuộc sống bên Nhật, kẻ này sẽ không 'nhai lại' nữa, mà sẽ xin kể qua vài chuyện chính mắt thấy tai nghe, hơi lạ, ít khi thấy đăng trên diễn đàn của cộng đồng ta. Chỉ là vài câu chuyện đáng kể lại, chẳng theo thứ tự nào. Cũng chẳng có lý do gì đặc biệt. Bây giờ, xin mời quý độc giả cùng kẻ này đi... du học. Tokyo Tokyo là thành phố lớn khủng khiếp, có trên dưới 40 triệu dân. Các thành phố lớn trên thế giới như New York, Paris,... thường có một trung tâm, tiếng Mỹ gọi là 'downtown'. Tokyo có ít nhất nửa tá 'downtown', đều là những trung tâm cực kỳ lớn, với những sắc thái độc đáo riêng của mỗi khu. Chẳng hạn như trung tâm Asakusa là trung tâm tôn giáo, có ngôi chùa lớn và đẹp nhất thủ đô; Shibuya là trung tâm thương mại sầm uất nổi tiếng; Shinjuku là nơi tập trung của giới trẻ,... Tuy cực lớn và đông dân, Tokyo không bị nạn kẹt xe thường trực khắp nơi như ở Los Angeles hay bất cứ thành phố lớn nào của Mỹ. Vì Tokyo có hệ thống xe điện ngầm khổng lồ, vĩ đại và cực kỳ phức tạp. Mỗi 'nhà ga' dưới hầm của mỗi trung tâm là một rừng đường hầm đi ngang dọc và trên dưới hai ba tầng lầu của cả chục đường xe điện kết nối với nhau, và lúc nào cũng là một rừng người hấp tấp đi qua đi lại như chạy giặc. Rất rẻ nên hầu hết dân Tokyo chỉ di chuyển bằng xe điện nên đỡ bị nạn kẹt xe. Chẳng hạn đi từ trung tâm Shibuya qua trung tâm Shinjuku khoảng hơn 5km, đi taxi tốn khoảng 25 đô, đi xe điện tốn hơn MỘT đô và nhanh hơn nhiều. Dân Nhật Thế chiến thứ hai cho thấy hình ảnh mấy ông lính Nhật tàn ác dã man hơn dã thú, không một chút tình người. Bây giờ qua Nhật, hình ảnh của người Nhật hoàn toàn trái ngược hẳn. Kẻ này đi du lịch thế giới rất rất nhiều, đụng chạm với dân đủ loại chủng tộc, nhưng chưa bao giờ thấy có một giống dân lịch sự, hiếu khách như dân Nhật. Trong cái rừng đường phố chằng chịt, rừng người chen chúc và rừng xe điện đó, du khách tất nhiên không lạc mới là lạ. Kẻ này bị lạc gần như mỗi lần thò đầu ra khỏi khách sạn. Thế nhưng không có gì phải lo, vì dân Nhật cực kỳ hiếu khách và lịch sự. Mỗi lần đưa một địa chỉ hay tên một nơi nào mình muốn đi, gặp bất cứ anh chị Nhật nào đi ngang qua cũng có thể chặn lại hỏi. Thỉnh thoảng có người gấp chuyện gì đó, không thèm trả lời hay ngưng lại nghe câu hỏi, nhưng hầu hết đều lắng nghe, rồi trăm người như một, móc ngay điện thoại cầm tay, bấm bấm, rồi đưa cho coi bản đồ khu đó, rồi cố gắng chỉ dẫn mình. Nếu là nơi cách không xa lắm thì họ sẵn sàng đi trước dẫn đường mình tới nơi tới chốn. Ngày đầu tiên mới tới, đi xe điện từ phi trường tới nhà ga Shibuya, cách khách sạn khoảng 200m, kẻ này mù tịt, không biết đi lối nào, hỏi một bà trạc tuổi 50, bà ta coi địa chỉ khách sạn rồi ra dấu đi theo bà, và bà dẫn chúng tôi đi tới tận trước cửa khách sạn. Chỗ nào cũng có thang máy cuốn -escalator- Và dân Nhật luôn luôn đứng hàng một phía trái của thang cuốn, nhường chỗ trống bên phải cho những người có chuyện gấp, muốn chạy cho nhanh. Hai vợ chồng đi cùng với nhau cũng không ngoại lệ, cũng người đứng trước, người đứng sau, không bao giờ đứng hàng ngang, chặn lối đi bên phải. Kẻ này được nghe kể lại dân Nhật luôn luôn đi bên trái, vì lý do lịch sử là ngày xưa, dân Nhật dùng kiếm, đeo kiếm bên trái, rút ra bằng tay phải, nên đi bên trái để tay phải có thể rút kiếm ra đánh đối phương. Đi tour, thì tất nhiên xe buýt rất sạch sẽ, khang trang. Tất cả mọi người đứng xếp hàng thứ tự, không bao giờ chen lấn lên xe. Mà điểm đặc biệt có một không hai của dân Nhật là khách xếp hàng trước, khi lên xe, tự động đi xuống tuốt hàng ghế cuối, để khách cuối cùng ngồi hàng đầu. Một chuyện mà dân ta chắc sẽ cho là... N-G-U !!! Đi tiệm ăn Tiệm ăn ở các khu trung tâm, có thể nói có cả trăm, cả ngàn, lớn nhỏ, đủ kiểu. Phần lớn dân Nhật ăn trong các tiệm rất nhỏ, không có bàn riêng mà tất cả đều ngồi ở quầy như trong các bar bán rượu. Mỗi tiệm có chừng một chục ghế. Gặp tiệm ngon thì ngoài cửa tiệm, có vài người khách hàng kiên nhẫn đứng chờ, ôm điện thoại quẹt quẹt trong khi chờ. Trong những tiệm có bàn riêng thì mỗi bàn đều có một cái 'computer', gọi là 'tablet', là thực đơn để khách ăn tự chọn, mỗi món đều có chụp hình trông rất hấp dẫn. Tha hồ bấm, bấm xong, máy sẽ liệt kê lại tất cả các món mình đã chọn, có ghi giá tiền đầy đủ. Mình bấm 'OK' là vài phút sau, có người phục dịch mang ra đầy đủ. Tại những tiệm lớn hơn thì còn văn minh hơn nữa. Ngay cửa, có một người máy -robot- cúi rạp đầu chào, rồi dắt khách đến bàn trống, mỗi bàn có một robot đứng thường trục ngay bàn, với một 'tablet' trước ngực là thực đơn. Khách hàng chọn xong, có robot khác mang đồ ăn từ bếp tới tận bàn. Đặc biệt, tiệm ăn Nhật không bao giờ đòi 'boa'. Cái mà Mỹ gọi là tips, không có bên Nhật, chẳng phải chỉ trong tiệm ăn, mà bất cứ việc gì khác, bất cứ chuyện gì, mình cho tịps là người Nhật coi như mình nhục mạ họ. Việc họ làm là bổn phận, và khi thi hành cái bổn phận đó, họ đã được trả lương tương xứng, tips coi như của bố thí, xúc phạm họ. Nhật có một loại tiệm ăn mà dân Việt bên đó gọi là 'sushi băng chuyển', Mỹ gọi là sushi conveyor belt, tức là khách hàng ngồi chung quanh một bàn tròn lớn, trên đó các đĩa món ăn được cho chạy lòng vòng, khách ăn cứ tự lấy cho mình. Mỗi đĩa có mầu khác nhau tùy giá tiền. Khách ăn xong cứ chồng các đĩa lên bên cạnh mình. Ăn xong, có người phục dịch ra cầm cái máy nhỏ như máy xấy tóc của mấy bà, quẹt ngang qua chồng đĩa, là một giây đồng hồ sau, máy in ra giấy tính tiền, vì máy tính theo màu của các đĩa. Tin báo cho biết một tiệm ăn này, có quay phim cả tiệm vì an ninh, cho thấy cảnh một khách hàng cầm đũa của mình gắp thử một miếng cá lên xem rồi bỏ lại. Thế là ngay sau đó, tiệm này tự ý đóng cửa, bỏ cái dàn 'băng chuyển' để thay thế bằng cách phục vụ khách hàng bình thường. Chủ tiệm giải thích cái 'băng chuyển' đó tiện cho khách hàng và tiệm, nhưng vấn đề vệ sinh không kiểm soát được, nên vì muốn bảo vệ sức khoẻ cho tất cả khách hàng, ông quyết bỏ phương thức 'băng chuyển'. Câu chuyện nói lên đầy đủ tinh thần của dân Nhật. Trả tiền Tiền Nhật có nhiều bạc cắc, vẫn rất thông dụng. Trong túi ai cũng có cả lô bạc cắc, là chuyện bất tiện. Nên mỗi khi trả tiền, người ta thường cố moi móc bạc cắc ra trả trước. Dân Nhật cũng vậy. Nhưng cái khác là trong các tiệm ở Nhật, có một cái máy đếm bạc cắc cho quý vị. Quý vị chỉ cần cầm một đống bạc cắc bỏ đại vào cái lỗ lớn, máy sẽ tự động đếm số bạc cắc bỏ vào, thiếu hay thừa so với số tiền phải trả, máy sẽ hiện lên cho biết. Thiếu thì bỏ thêm, thừa thì máy tự động nhả ra số tiền thừa lại cho bạn, tất cả trong vòng một hai giây đồng hồ, khỏi mất công đứng lần mò từng đồng mất cả năm bẩy phút, làm phiền người trả tiền sau bạn. Dân Nhật kỵ nhất là trao tiền từ tay người này qua tay người khác. Họ luôn luôn đưa cái khay nhỏ ra để mình đặt tiền vào, và khi thối tiền, họ cũng luôn luôn đặt tiền trên cái khay đó đưa lại cho mình. Đi taxi Vì mang theo hành lý cồng kềnh, đi xe điện bất tiện nên kẻ này đã lấy taxi. Địa chỉ khó tìm vì ngõ ngách đường phố Nhật khá nhỏ và lòng vòng, rắc rối. Xe taxi đi lòng vòng tìm địa chỉ trong khi kim đồng hồ tính tiền nhẩy tưng tưng. Nhưng quý vị khỏi lo. Khi taxi tới nơi, bác tài bấm nút ở đồng hồ tính tiền, số tiền hiện lên phải trả giảm gần một phần ba. Kẻ này thắc mắc, hỏi lại, thì bác tài giải thích anh ta trừ số tiền đi lòng vòng tìm địa chỉ, và máy này tự động tính lại số tiền phải trả trong khoảng cách từ khi lên xe tới khi tới đúng địa chỉ. Ở xứ 'đỉnh cao của trí tuệ loài người' của ta, tài xế taxi thông minh hơn nhiều. Cố tình chở khách đi lòng vòng càng xa càng lâu càng tốt vì kiếm được càng nhiều tiền. Đồ ăn Nhật Dân Nhật nổi tiếng là dân lịch lãm, biết sống, có đầu óc nghệ thuật ít ai bằng, nhưng về 'tinh thần' ăn uống thì xin lỗi, phải nói ngay, đồ ăn Nhật tệ nhất thế giới, cho dù hình chụp lúc nào cũng có vẻ hấp dẫn nhất, cũng như cho dù có vẻ tinh khiết, ít độc nhất. Ngoại trừ cái món cá sống gọi là sushi nổi tiếng cả thế giới, còn các món ăn khác, chẳng món nào hợp khẩu vị dân thế giới ngoài dân Nhật. Món mì ramen nổi tiếng, thua rất xa mì Tầu hay Việt. Còn thua mì gói MAMA! Dân Việt tại Nhật Nước Nhật đất ít, dân đông nên rất khó vào Nhật sinh sống. Nhưng trái lại Nhật luôn luôn mở rộng cửa đón sinh viên ngoài nước vào học. Ở Nhật gần như không có dân Việt sống. Dân tị nạn có một số nhỏ được Nhật đón nhận, ngoài ra không có bao nhiêu. Tuy nhiên sinh viên Việt đang học ở Nhật rất nhiều, nghe nói vài chục ngàn. Rất nhiều người học rất giỏi, trong những trường rát khó xin vào, chưa kể trước khi được nhận, phải học cả năm tiếng Nhật trước. Đám sinh viên này, theo ý riêng kẻ này đang bị mang tiếng oan rất lớn. Một vài thành phần, khó tránh được khi có cả mấy chục ngàn sinh viên, có những hành vi bất hảo, như trộm cắp, lừa đảo. Một số người Việt trong cộng đồng tị nạn Việt tại Mỹ luôn luôn có phản ứng phóng đại những tin xấu này rồi nhục mạ tất cả dân Việt và sinh viên Việt sống tại Nhật, vì quan điểm gọi là 'chống cộng', thù ghét tất cả những gì dính líu xa gần tới VC, mà vô hình chung đã nhục mạ dân cả nước VN ta. Công tâm mà nói, dân Việt ta không thần thánh hay ma quỷ hơn các dân tộc nào khác, cho dù sống dưới chế độ chính trị nào, luôn luôn có người tốt, kẻ xấu, không thể vì một vài người xấu rồi vơ đũa cả nắm nhục mạ tất cả. Có thể một số không nhỏ là loại con ông cháu cha đám quan chức vô học, nhà quê, bần cùng VC, nay gặp thời sâu bọ lên làm người, có con du học rồi theo thói quen làm bậy, nhưng vẫn không thể vì một nhúm nhỏ làm bậy mà nhục mạ tất cả. Không thể đồng hoá dân cả nước Việt với đám lâu la VC. Chính kẻ này quen biết được hai sinh viên Việt đang du học tại Nhật, một từ Vĩnh Long, một từ Bắc Ninh. Cả hai đều hết sức lễ phép, lương thiện, hiếu khách tình nguyện làm hướng dẫn viên kiêm thông dịch viên, dắt chúng tôi đi thăm viếng Tokyo. ----------------- Chuyện dài về Nhật, kể hoài không bao giờ hết, chỉ dám xin kể lại vài chuyện để.... biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Vũ Linh Tokyo - 25/3/2023

Monday, April 3, 2023

Ý NGHĨA CỦA BẤT NHỊ TRONG PHẬT GIÁO

https://thuvienhoasen.org/a39130/y-nghia-cua-bat-nhi-trong-phat-giao
Ý NGHĨA CỦA BẤT NHỊ TRONG PHẬT GIÁO Truyền Bình Giới khoa học vẫn còn hoang mang trong nhận định thế giới vật chất đời thường là ảo, không có thực thể. Các khoa học gia hàng đầu trên thế giới bắt đầu hiểu rằng chỉ có vật ở trong tâm thức, không có vật ở ngoài tâm thức, cho nên trong thực nghiệm khoa học không thể tách riêng chủ thể và đối tượng. Vô hình trung, khoa học cũng đề cập tới lý bất nhị. Bất nhị là không phải hai hay nhiều, cũng không phải một, mà là vô lượng hay không có số lượng. Sốlượng là số đếm chỉ có trong thế giới tương đối, nhị nguyên. Thế giới đó bị hạn chế về không gian, thời gian và số lượng. Con người sống trong thế giới đó đã quá quen thuộc với các thói quen sai lầm về nhận thức, tưởng rằng đó là lẽ phải đời thường, tưởng rằng đó là khách quan nằm ngoài ý thức. Mặc dầu nhận thức này là sai lầm nhưng rất hữu dụng, tuy nhiên nó có thể đưa đến hậu quả tai hại, đó là khổ, sinh tử luân hồi. Điều đó giống như cơ học Newton rất hữu dụng trong đời thường nhưng không hoàn toàn đúng. Một điều rất nghịch lý nhưng lại có thật, đó là chính vô minh và lầm lẫn là công dụng của thế giới đời thường. Nếu chúng ta không có vô minh, không có lầm lẫn thì không thể thấy được nguyên tử là vật, không thể cảm nhận được thế giới, chỉ thấy không mà thôi. Cũng giống như nếu mắt ta không bị ảo tưởng lừa gạt, thì nhìn vào tivi chỉ thấy chấm chấm mà không thấy hình ảnh, càng không thể thấy hình ảnh chuyển động. Ảo tưởng lầm lẫn là tối cần thiết trong đời thường. Hay nói cách khác ảo tưởng lầm lẫn là nguyên lý của thế gian. Đó là lý do tại sao vô minh là mắt xích đầu tiên của chuổi thập nhị nhân duyên. Không có số lượng về khoảng cách không gian Chẳng hạn khoảng cách không gian từ Sài Gòn ra Hà Nội đi theo đường bộ là 1719 km, còn theo đường bay của hãng hàng không là 1274 km, khoảng cách theo đường thẳng là 1146 km. Nếu đi bộ theo đường mòn hoặc đi theo đường biển thì có nhiều con số khác nữa. Nhưng con số 1146 km dường như là khoảng cách khách quan theo đường thẳng, dù muốn hay không, chúng ta cũng phải vượt qua khoảng cách đó (bằng cách bay thẳng) mới đi được từ nơi này đến nơi kia. Tuy nhiên khoảng cách bằng đất đá đó thể rút ngắn lại khi quả đất bị một lực nào đó nén nhỏ lại. Bởi vì nguyên tử tạo thành vật chất là trống rỗng, nên nếu có lực gì đủ mạnh thì có thể nén cho nó nhỏ lại. Ví dụ mặt trời của chúng ta, hiện nay có đường kính 1.400.000 km, khi cháy hết nhiên liệu thì bị co rút lại, chỉ còn 6 km, khi đó nó sẽ trở thành một lỗ đen trong vũ trụ. Trái đất có đường kính trung bình 12.742 km thì khi bị biến thành lỗ đen, nó chỉ còn 1,8 cm đường kính. Điều đó có nghĩa là khoảng cách không gian bằng đất đá cũng không cố định. Vị trí của một quốc gia có khi cũng thay đổi. Sau trận động đất ngày 11-03-2011, đảo Honshu của Nhật Bản đã bị dời đi 2,4 mét. Vậy còn khoảng cách không gian bằng chân không có thật hay không ? Tiến hành thí nghiệm hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) năm 2008, nhà vật lý Nicolas Gisin và các đồng nghiệp của ông tại trường đại học Geneva, Thuỵ Sĩ, đã chỉ ra rằng, nếu có sự truyền tín hiệu từ photon này qua photon kia, thì tốc độ truyền của các trạng thái lượng tử giữa các photon vướng víu, liên kết với nhau ở hai nơi cách xa nhau 18 km, là khoảng chừng 10 triệu lần tốc độ ánh sáng (Nature, vol 454, p 861). Điều đó quá phi lý, bởi vì theo Einstein, không có tốc độ nào vượt quá tốc độ ánh sáng (khoảng 300.000 km/giây). Như vậy chỉ có thể hiểu theo như Kinh Phật nói, khoảng cách không gian chỉ là ảo tưởng trong tâm thức mà thôi, tức là không có thật. Vì vậy kinh điển Phật giáo thường nói “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” Khoảng cách không gian chỉ là tâm thức, không có thật, bất cứ khoảng cách là bao nhiêu tỉ quang niên, chỉ một niệm là đến. Kể cả đi từ vũ trụ này qua vũ trụ khác, chỉ một niệm là đến. Người bình thường chúng ta làm không được, vì tâm trí óc não của chúng ta bị trói bởi các thói quen (tập khí) sai lầm. Nếu giải thoát được, thì chỉ cần một niệm, chúng ta có thể đi tới cõi Tây phương cực lạc của Phật A Di Đà, cách xa cõi ta bà này mười vạn ức cõi Phật [Di Đà Kinh 弥陀经 nói 过十万亿佛土,有世界名曰极乐] con số chỉ nói lên là vô lượng chứ không còn ý nghĩa số đếm. Như vậy, trong hiện tượng rối lượng tử cũng như trong kinh Phật, khoảng cách không gian là không có ý nghĩa, số lượng là không có ý nghĩa. Nhiều photon có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau, thật ra không phải nhiều (bởi vì chúng đều giống nhau như chỉ có một mà thôi) nhưng cũng không phải là một (vì rõ ràng là các khoa học gia thấy chúng có mặt ở nhiều nơi khác nhau), đó là ý nghĩa bất nhị trong Phật giáo. Tính chất không có thật của khoảng cách không gian, ngày nay được ứng dụng rất hiệu quả trong tin học. Hiện nay chúng ta có thể gặp mặt, nói chuyện thân mật, nhìn thấy lẫn nhau, với bạn bè hay thân nhân, hoàn toàn không chút tuỳ thuộc hai người đang ở đâu trên thế giới, chỉ cần có đủ nhân duyên. Nhân duyên đó là phương tiện cần thiết, cũng không có gì quá phức tạp, chỉ cần một chiếc iphone, hoặc smartphone tầm trung trở lên (giá khoảng 5 triệu) có trang bị wifi hoặc 3G, hoặc một laptop hay netbook, có cài thêm Skype. Chúng ta có thể nói chuyện thoải mái với bạn bè ở bên kia bờ Thái Bình dương không sợ tốn tiền, bởi vì đàm thoại qua mạng internet, nếu truy cập internet bằng wifi thì hoàn toàn yên tâm, miễn phí hoàn toàn, gắn thêm tai nghe để cho thật thoải mái, không cần phải cầm điện thoại trên tay, tiếng nói rất rõ và ổn định. Chúng ta có thể nói chuyện lúc đang ngồi trong quán cà phê, lúc đang ngồi chơi trong công viên (trong công viên có lẽ phải truy cập internet bằng 3G) hoặc lúc đang đi mua sắm ở siêu thị hay đang ngồi ở nhà, đều có thể gặp nhau đàm đạo. Khoảng cách không gian xa xôi có thể nói đã bị triệt tiêu hoàn toàn. Không có số lượng về thời gian Pháp sư Huệ Trì là em trai của Huệ Viễn (Tổ của Tịnh Độ tông) đang ở Lư Sơn, tỉnh Giang Tây, nghe nói ở Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên đất đai màu mỡ, nhân dân giàu có, muốn đến đó truyền pháp và xem phong cảnh núi Nga Mi. Năm Long An thứ ba đời Đông Tấn (công nguyên 399 CN), ông từ biệt Huệ Viễn đi Tứ Xuyên. Huệ Viễn khuyên em ở lại hết lời mà không được, bèn than rằng “Người đời đều thích đoàn tụ, riêng mình em thích phân ly, vì sao vậy ?” Ông đáp : “Nếu là người vướng mắc ở tình cảm, thích đoàn tụ thì không nên xuất gia. Hiện tại chúng ta đã cát ái xả dục mà cầu đạo thì nên kỳ vọng gặp nhau ở Tây phương cực lạc” Thế rồi anh em chia tay. Huệ Trì lên đường đi Tứ Xuyên một mình, từ đó không ai còn biết tung tích của ông. Kể từ lúc ông lên đường đi Tứ Xuyên vào năm 399 CN đến lúc người ta phát hiện ra ông trong bọng cây là năm 1113 CN, tức đã trải qua 714 năm. Câu chuyện như sau : Bộ Sách Gia Thái Phổ Đăng Lục do Chính Thọ (Vân Môn tông) viết vào đời Nam Tống, quyển 22 có ghi lại một câu chuyện sau : Năm Chính Hòa thứ ba đời Tống Huy Tông (công nguyên 1113), tại Gia Châu Tứ Xuyên (nay là huyện Lạc Sơn nơi có tượng Phật điêu khắc vào vách núi đá cao nhất thế giới) quan địa phương có biểu tâu lên triều đình : Có cây cổ thụ bị gió thổi gãy, bên trong có một lão tăng đang nhập định, râu tóc che phủ thân thể, móng tay dài bao quanh người. Hoàng đế giáng chỉ dùng cáng khiêng lão tăng đó đưa về kinh đô (thời đó là Biện Kinh, kinh đô của nhà Bắc Tống, nay là thành phố Khai Phong tỉnh Hà Nam). Do vị sư người Tây Thiên (Ấn Độ) là Tổng Trì Tam Tạng dùng chiếc khánh đồng đánh lên để làm cho lão tăng xuất định, mới biết đó là em trai của pháp sư Huệ Viễn ở Lư Sơn, tên là Huệ Trì, nhân đi du lãm núi Nga Mi, ngồi nhập định trong bọng cây. Hoàng đế ra lệnh cho họa sĩ vẽ hình của lão tăng, và tự mình làm ba bài kệ. Huệ Trì nhập định hơn 700 năm, tuổi thọ có thể so sánh với Bành Tổ sống 800 tuổi trong sách xưa. Tuy nhiên đó chưa phải là kỷ lục nhập định lâu nhất của người trên địa cầu. Thiền sử ghi : Trong thời đại của Đức Phật, Ma Ha Ca Diếp, Quân Đồ Bát Thán, Tân Đầu Lô, La Hầu La, đều nhận lãnh lời Phật phó thác, là không nhập Niết Bàn. “Tăng Nhất A Hàm Kinh” quyển 44, “Di Lặc Hạ Sinh Kinh” quyển 1, nói : “Đại Ca Diếp cũng không về cõi Niết Bàn” mà các quyển “Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện”, “Đại Đường Tây Vực Ký” đều ghi Đại Ca Diếp nhập định tại núi Kê Túc (Kukkuṭapādagiri hay còn gọi là Tôn túc sơn Gradhakuta, nay thuộc bang Bihar, Ấn Độ, gần thành Vương Xá –Rājagaha- của nước Ma Kiệt Đà- Magadha- xưa) phát nguyện giữ thân cho đến khi Di Lặc thành Phật, khiến thân không bị hư hoại, vì vậy cho đến ngày nay, ông vẫn còn nhập định tại núi Kê Túc, là người bảo trì được thân thể lâu kỷ lục trong cõi ta bà thế giới này. Maha Ca Diếp hay Đại Ca Diếp (Mahakasyapa) là Sơ Tổ của Thiền Tông Ấn Độ, ông là đại đệ tử của Phật Thích Ca, được Phật đích thân truyền pháp Tổ Sư Thiền qua sự kiện “Niêm hoa vi tiếu”, Phật đưa cánh hoa, Maha Ca Diếp mỉm cười. Thế là đủ, vì là tâm truyền tâm, nên tất cả pháp sâu xa nhất đều được truyền. Đại Ca Diếp tuy là đệ tử của Phật nhưng ông lớn tuổi hơn Đức Phật lịch sử. Sau khi Phật nhập diệt vào năm 543 Trước CN, (năm đó được lấy làm năm đầu của Phật lịch, đến năm nay 2012 dương lịch, thì Phật lịch là 2555), Đại Ca Diếp lo làm lễ trà tỳ cho Phật xong, 3 tháng sau thì lo tổ chức kết tập kinh điển lần thứ nhất, kéo dài trong 7 tháng. Hai mươi năm sau, Đại Ca Diếp truyền tâm ấn cho A-nan, có lẽ là năm 522 TCN, ông đi vào núi Kê Túc, nhập đại định, lúc đó ông 120 tuổi. Cách đây không lâu, khoảng đầu thế kỷ 20, tiến sĩ triết học Bá Khắc Sâm, người Anh, đã được gặp tôn giả Đại Ca-Diếp tại Kê Túc Sơn, Ấn Độ, mà không biết. Sau đó theo hướng dẫn, đã quy y, trở thành tỳ kheo, đến Rangun, Myanmar thiền định và gặp lại, mới biết đó là Đại Ca Diếp. Đại Ca Diếp nhập định từ năm 522TCN đến nay 2012 DL, đã trải qua 2534 năm, có thể nói ông là người sống lâu nhất trên thế gian này. Ông ẩn thân bên trong tảng đá lớn nên không ai có thể nhìn thấy. Khi nhập định sâu như Đại Ca Diếp hay Huệ Trì, nhất niệm vô minh đã dừng lại, nên thời gian cũng dừng lại, vì thời gian cũng là do tâm tạo. Việc đó tương đương với việc di chuyển bằng với tốc độ ánh sáng. Theo thuyết tương đối của Einstein, nếu một người ngồi trong phi thuyền bay với vận tốc anh sáng thì thời gian sẽ dừng lại, người đó sẽ sống vô lượng tuổi so với thời gian của trái đất. Nhưng khoa học chưa có khả năng thực nghiệm việc này, đó chỉ là lý luận. Còn Huệ Trì và Đại Ca Diếp là những người thực nghiệm, cũng đạt được hiệu ứng tương đương với lý luận khoa học. Thời hiện đại, Hư Vân hoà thượng cũng từng nhập định lâu khoảng nửa tháng mà ông chỉ cảm nhận thời gian chỉ mới chốc lát. Câu chuyện của Huệ Trì và Đại Ca Diếp cho thấy số lượng thời gian lâu hay mau cũng là do tâm tạo chứ không có thật. Chẳng qua vì chúng ta đã quen với hạn tuổi trăm năm nên khó tin những chuyện như vậy. Không có số lượng về vật thể hay năng lượng Năng lượng là dạng tổng quát của vật chất. Nếu như vật chất có tới cả trăm nguyên tố khác nhau thì năng lượng có thể coi là dạng chung của tất cả các loại vật chất thông qua công thức nổi tiếng của Einstein : E= MC2 Nhưng năng lượng xuất phát từ đâu ? Theo vật lý lượng tử hiện đại, năng lượng xuất phát từ chân không lượng tử. Chân không lượng tử cũng chính là cái Không trong Phật giáo mà nhà vật lý Phạm Xuân Yêm mượn danh từ Không để diễn tả những khái niệm tương đồng giữa Phật giáo và khoa học. Ông nói : “Cái Không lượng tử thực là trạng thái cơ bản, là cội nguồn và chốn trở về cũng như ra đi của vạn vật. Nó không rỗng tuếch chẳng có gì mà là cái thế lắng đọng của tất cả. Chân không-Vật chất-Không gian-Thời gian chẳng sao tách biệt, cái này có là cái kia có, cái này không thì cái kia không, đó là hệ quả của Lượng tử và Tương đối! Thực thế, thuyết Tương đối hẹp liên kết Không gian và Thời gian, còn Tương đối rộng nối Vật chất với Không-Thời gian và cuối cùng Lượng tử mang Chân không về với Vật chất và như vậy kết nối cả bốn khái niệm cơ bản trên.” Chân không lượng tử (viết gọn thành Không) là trạng thái cơ bản tận cùng của vạn vật, nó vô hướng, trung hòa, mang năng lượng cực tiểu, trong đó chẳng hề vẩn gợn chút vật chất kể cả điện từ trường (ánh sáng nói riêng). Do những nhiễu loạn của năng lượng trong Không mà vật chất (cùng phản vật chất) nẩy sinh, tương tác, biến chuyển, phân rã và trở về với Không, cứ thế tiếp nối vòng sinh hủy. Tuy vậy năng lượng của Không lại vô hạn theo nguyên lý bất định Heisenberg. Cực tiểu nhưng vô hạn, nghịch lý này hẳn đòi hỏi một cuộc cách mạng trong nhận thức?” (Phạm Xuân Yêm – Cái Không trong lượng tử) Trong chân không lượng tử, Vật chất (cũng là năng lượng) cực tiểu nhưng Năng lượng lại vô hạn, đó là một nghịch lý mà lý trí duy lý của con người không thể hiểu nổi. Ta chỉ còn một cách hiểu theo Phật giáo là năng lượng cũng không có số lượng. Theo Phật giáo thì tất cả năng lượng hay vật chất đều xuất phát từ Tâm. Cái Không, hay chân không lượng tử nói theo khoa học, cũng là Tâm bất nhị. Bậc thánh như Giê su có thể vận dụng tính chất vô hạn của năng lượng để tạo ra phép mầu. Trong một buổi giảng đạo bên hồ Galilea (trên sông Jordan nay thuộc vùng Galilee Hạ) có hơn 5000 đàn ông tham dự, chưa kể đàn bà và trẻ con, họ đói. Trong số những người thân cận với ngài chỉ có 5 cái bánh và hai con cá, nhưng Giê-su có thể chia cho hơn 5000 tín đồ đến nghe giảng đạo ăn no bụng, giải tỏa cơn đói xong mà vẫn còn dư lại 12 giỏ bánh. Trong dân gian cũng có câu chuyện cái nồi Thạch Sanh đựng gạo, có thể lấy ra ăn mãi vẫn không hết. Chúng ta chỉ có một tấm ảnh, nhưng khi đưa lên internet, nó có thể được sao chép ra vô số tấm ảnh. Đây là những ví dụ về tính vô lượng hay không có số lượng của vật chất, hay năng lượng. Chỉ vì trong đời thường chúng ta không vận dụng được lý này nên “cho rằng” việc đó là hoang đường. Trong bài Tứ pháp giới, tôi có đề cập Lý Sự vô ngại pháp giới. Nếu chân không lượng tử có năng lượng vô hạn thì việc biến ra vô lượng cái bánh cho tín đồ ăn mà Giê-su đã làm, là hoàn toàn có cơ sở khoa học. Ai có đủ thần thông đều có thể làm được. Bất nhị là tuyệt đối, không có đối đãi nhị nguyên. Bất nhị không phải là hai, nhưng cũng không phải là một. Ý nghĩa của bất nhị là tuyệt đối, tức không có đối đãi nhị nguyên. Bởi vì nếu là một sẽ đối lại với hai, với nhiều. Nhị nguyên là những cặp phạm trù mâu thuẫn như : có và không, vật chất và tinh thần, sáng và tối, thiện và ác, hữu hạn và vô hạn, đúng và sai, quark và phản quark, electron và positron,…những cặp mâu thuẫn nhiều không kể xiết. Nhị nguyên phát sinh khi có sự xuất hiện của chủ thể nhận thức (subject) và đối tượng bị nhận thức (object). Tâm trong Phật giáo vốn là bất nhị, bất biến, vô sanh, vô thuỷ vô chung. Nói tóm tắt là Tâm không bị giới hạn bởi không gian, thời gian và số lượng, bởi vì nó là nguồn gốc của tất cả những cái đó, của vũ trụ vạn vật. Nhưng khi nào thì Tâm bị phân hoá thành chủ thể và đối tượng ? Như đã trình bày trong bài Niết Bàn và Chánh Biến Tri, về mặt công dụng Tâm là chánh biến tri, nó là nguồn năng lượng vô hạn. Nói theo khoa học thì Tâm là chân không lượng tử, là vô lượng lượng tử. Mỗi lượng tử có năng lượng được mô tả bằng công thức của Max Planck: E = hv (E = năng lượng, h = hằng số Planck, v = tần số dao động của lượng tử) Khi dùng electronvolt (eV) là đơn vị đo năng lượng thì: blank Hằng số này có đơn vị đo là năng lượng, nhân với thời gian tính bằng giây (s = second). Các lượng tử mà khoa học nhận thức và vận dụng cũng như diễn tả một cách cụ thể là quark, electron, photon, neutrino. Quark có nhiều loại nhưng nhiều nhất trên địa cầu là quark u (up) và quark d (down). Electron và đồng loại cũng có nhiều loại, mỗi loại có tên khác như muon, tau, nhưng chủ yếu trên địa cầu là electron. Photon là hạt ánh sáng, có khi hiện hữu dưới dạng sóng. Neutrino là hạt cực nhỏ, về mặt thực nghiệm, mới tìm thấy vào cuối thế kỷ 20. Tuyệt đại đa số vật chất trên địa cầu đều được cấu thành bởi quark u, quark d và electron. Nói chung các hạt hạ nguyên tử (hạt nhỏ hơn nguyên tử, là những thành phần cấu tạo nên nguyên tử) đều là hạt ảo. Tính chất ảo được khẳng định bởi vì không thể tách riêng chúng ra, bắt chúng dừng lại để cho ta quan sát, sờ mó, đo đếm. Chúng chỉ hiện hữu trong mối liên hệ nhân duyên chặt chẽ với nhau và cũng chỉ hiện hữu trong mối quan hệ đối đãi giữa chủ thể và đối tượng. Chủ thể có thể là người quan sát hoặc thiết bị ghi nhận. Nếu không có chủ thể thì một vật ảo như nguyên tử không tồn tại, bởi vì nó không phải là một vật có thật trong thế giới khách quan, nó chỉ tồn tại trong nhận thức của chủ thể. Một vật thể như quả táo cũng không tồn tại nếu không có người nhận thức, hay nói chính xác là nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm thể là một cấu trúc ảo bất khả tri (nói theo nhà triết học Kant). Vì là một cấu trúc ảo tức không có thật, nên nó không cản trở một cấu trúc ảo khác, chẳng hạn cái thùng sắt, như thực nghiệm di chuyển trái táo ra khỏi thùng sắt đóng kín trong đoạn phía dưới của Trương Bảo Thắng. Nói tóm tắt, tất cả nguyên tố vật chất trên địa cầu đều là cấu trúc ảo, do các hạt ảo là quark u, quark d và electron tạo thành. Chính vì Tâm có giác tánh, nó biết kết hợp các hạt ảo theo nhiều kiểu cấu trúc khác nhau để tạo thành các nguyên tố khác nhau như oxy, hydro, nitro, carbon, sắt, đồng, chì, kẽm v.v…Rồi nó biết kết hợp bốn nguyên tố oxy, hydro, nitro và carbon thành nước và các chất hữu cơ khác. Rồi nó biết tạo thành chất sống, thành tế bào, thành các cơ quan có chức năng chuyên môn trong cơ thể sinh vật như tim, gan, phổi, ruột, xương, thịt, mỡ, máu…để duy trì sự sống cho sinh vật. Rồi nó biết tạo thành các cơ quan để sinh vật có thể liên lạc với thế giới bên ngoài như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, bộ não. Tuyệt tác phẩm mà Tâm tạo ra được là con người có bộ não phát triển, có lý trí, có tình cảm. Sinh vật cũng là một cấu trúc ảo có khả năng phát sinh ra nhất niệm vô minh. Nhiều nhất niệm vô minh khởi lên liên tục tạo thành dòng tâm niệm hay tâm thức, từ đó hình thành cái ta bao gồm thân ngũ uẩn và dòng tâm niệm. Con người trở thành một chủ thể biết tư duy vì nó có ký ức, biết ghi nhớ, biết liên kết những sự kiện riêng lẻ của Sự pháp giới lại thành Lý pháp giới. Tóm lại, Tâm bắt đầu bị phân hoá thành chủ thể và đối tượng khi nó hình thành được sinh vật có cơ thể, bắt đầu hình thành cái ta. Rồi cái ta này nhận thức các vật xung quanh thành đối tượng. Khi đã xuất hiện chủ thể và đối tượng thì không gian, thời gian và số lượng cũng đồng thời hình thành. Tâm vô lượng đã phân hoá thành vô số pháp, vô số chúng sinh, vô số vũ trụ, nói chung là Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới). Chúng sinh ở cõi Vô sắc thậm chí không còn thân ngũ uẩn mà chỉ còn dòng tâm niệm. Chúng ta đừng lấy làm lạ tại sao chúng sinh không có thân thể mà vẫn là sinh vật, đó là vì tính chất ảo, vì tánh không của pháp giới, nên chúng sinh ở Dục giới tuy có thân thể vật chất nhưng thân thể đó cũng chỉ là ảo mà thôi. Khi đã xuất hiện chủ thể và đối tượng tức đã xuất hiện nhị nguyên, xuất hiện cặp phạm trù mâu thuẫn, xuất hiện sự hạn chế về không gian, thời gian và số lượng. Sự hạn chế này thì chúng ta ai cũng biết. Tuy nhiên tính chất ảo của vật chất thì ít ai biết, ít ai tin. Phật pháp đã nói đến tính chất ảo hoá của vật chất từ hơn 2500 năm nay. Khoa học ngày nay cũng bắt đầu hiểu vật chất thực ra chỉ là tâm thức. Sự ảo hoá được ứng dụng rộng rãi trong máy vi tính đem lại rất nhiều điều kỳ thú cho con người hiện đại. Nhưng giới khoa học vẫn còn hoang mang trong nhận định thế giới vật chất đời thường là ảo, không có thực thể. Các khoa học gia hàng đầu trên thế giới bắt đầu hiểu rằng chỉ có vật ở trong tâm thức, không có vật ở ngoài tâm thức, cho nên trong thực nghiệm khoa học không thể tách riêng chủ thể và đối tượng. Vô hình trung, khoa học cũng đề cập tới lý bất nhị. Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật). Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại). Khi các nhà khoa học ý thức rằng vật chất không có thực thể, không có thế giới gọi là “khách quan” chỉ có thế giới chủ quan của nhà khoa học, của nhà toán học. Tuy nhiên vì có nhiều nhà khoa học có cùng ý kiến với nhau nên họ “tưởng” rằng khách quan. Cũng vì vậy đã có nhiều nhà khoa học đề cập đến khủng hoảng của vật lý học. Chẳng hạn : David Bohm (nhà vật lý Đại học London) quan niệm rằng thực tại mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày chỉ là một loại ảo tưởng giống như một bức tranh toàn ảnh (hologram). Dường như thực tại có hai mức: một mức ở sâu hơn gọi là mức tiềm ẩn (cuộn lại) /implicate (enfolded) và một mức gọi là mức tường minh (mở ra) /explicate (unfolded). Năm 1962, cuốn “Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học” (Structure of Scientific Revolutions)của Thomas Kuhn , một trong những tác phẩm khoa học được trích dẫn nhiều nhất của thế kỷ 20, đã đặt dấu chấm hết cho quan điểm thực chứng logic -nền tảng của khoa học hiện đại (chủ yếu của phương Tây). Theo Kuhn, khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên-kỹ thuật, không gắn với bản thể, mà thuần túy là sản phẩm của tư duy con người. Hiện tại đây là quan điểm được chấp nhận rộng rãi nhất trong giới khoa học. Theo ông, không có biện pháp khách quan để đánh giá xem các lý thuyết tiến gần đến sự thật như thế nào. Ông tự nhận mình là một người thuộc trường phái Kant nhưng “với những phạm trù chuyển dịch” (“moveable categories”). Theo Kant, các phạm trù của tư duy là điều kiện tiên quyết cho mọi sự hiểu biết hoặc tri thức. Và, người ta gán cho khoa học là quy luật của tự nhiên (tức là khách quan), nhưng thực chất thì nó chính là sản phẩm của tư duy chủ quan của con người. Kuhn cũng đồng quan điểm đó, nhưng điểm mới của ông là: các phạm trù này luôn thay đổi trong các cuộc cách mạng khoa học. Như vậy, Kuhn cho rằng: khoa học không nhất thiết mang tính hợp lý (rational). Gần đây, năm 2002, Stephen Hawking công bố bài giảng “Gödel & The End of Physics” (Gödel & sự kết thúc của vật lý học), thể hiện một sự thay đổi mang tính cách mạng trong nhận thức của ông về “Lý thuyết Cuối cùng” (Final Theory) của vật lý học, khác xa với những gì ông đã trình bầy trong cuốn “Lược sử thời gian” 11 năm trước. Sự kết thúc của vật lý học theo Stephen Hawking là vì Kurt Gödel đã chứng minh định lý bất toàn. Vật lý học sẽ không bao giờ đi tới lý thuyết cuối cùng có thể giải thích tất cả mọi sự lý trong vũ trụ, bởi vì luôn luôn có mâu thuẫn phát sinh trong bất cứ hệ thống duy lý nào, dù cho chặt chẽ như toán học hay khoa học máy tính. Mâu thuẫn khiến không bao giờ có được lý thuyết cuối cùng hay lý thuyết giải thích được mọi thứ (Theory Of Everything – TOE). Nếu các nhà khoa học chỉ có khả năng lý luận về tính chất chủ quan của vật chất, của khoa học, thì kỳ nhân Trương Bảo Thắng, tuy không có nhiều hiểu biết về khoa học, nhưng lại có khả năng thực nghiệm tính chất ảo tưởng của vật chất. Vì vật chất là ảo nên Trương Bảo Thắng có thể dùng ý niệm để di chuyển một vật đi xuyên qua vật rắn khác, mà cả hai vật đều không hề hấn gì. Hãy xem cuộc biểu diễn của anh. Người chủ trì cuộc biểu diễn là Trương Chấn Hoàn, chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Công nghiệp Quốc phòng Trung Quốc : Bắc Kinh Nhân Dân Đại Hội Đường, trang nghiêm, vĩ đại, là nơi hội họp Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (tức Quốc Hội Trung Quốc) là nơi làm việc của Thường vụ Ủy viên Hội. Các hoạt động trọng đại của cả nước thường được cử hành tại đây. Các vị lãnh đạo Trung ương tiếp kiến khách nước ngoài và hội kiến với những nhân vật quan trọng đều tiến hành tại đây. Phàm những hoạt động được tổ chức tại đây đều có tính chất trọng yếu và quyền uy. Hôm nay, tại đại sảnh đường của Bắc Kinh Nhân Dân Đại Hội Đường, đèn hoa chiếu sáng, các nhà nhiếp ảnh, quay phim, ảo thuật gia, nhiều vị lãnh đạo và rất đông khán giả đều có mặt. Có người đến vì lòng hiếu kỳ, có người mang ánh mắt nghi ngờ, có người mang tâm lý vận động bài trừ, có người mang ánh mắt phủ định…tất cả vây quanh vũ đài, đợi Trương Bảo Thắng biểu diễn. Trương Bảo Thắng cảm thấy rằng lần biểu diễn này tại Bắc Kinh không giống lần trước. Lần trước là biểu diễn hội báo, không khí hài hòa, nhưng chỉ là biểu diễn tương đối dễ dàng như thấu thị, dùng mũi nhận chữ. Còn lần này trong điều kiện cực kỳ nghiêm túc để giám định công năng của anh là thực hay giả, huống chi tại hiện trường rất nhiều người đang chuẩn bị “tìm cách phá bĩnh” nữa. Nhiều máy quay phim đặt ở các vị trí trên, dưới, bên phải, bên trái, mọi góc độ, sẵn sàng theo dõi mọi động tác của anh. Không khí thật là khẩn trương . Hạng mục biểu diễn là dùng “ý niệm di chuyển vật” Ngay cả những người tin tưởng sự tồn tại của đặc dị công năng cũng mướt mồ hôi trán thay cho Bảo Thắng, trong lòng suy nghĩ : anh ấy có làm được không ? Biểu diễn bắt đầu. Trong một thùng sắt, bỏ vào hai trái táo (apple) vào, đậy nắp, dùng que hàn điện hàn kín. Người chủ trì để cho Trương Bảo Thắng dùng ý niệm lấy trái táo ra. Chỉ thấy anh im lặng, không gây tiếng động, trấn định tự tâm. Mọi con mắt nhìn chăm chăm vào người anh, quan sát nhất cử nhất động của anh. Một phút, hai phút, năm phút rồi mười phút trôi qua, đến khi bức màn trong não của anh xuất hiện một quả táo, anh mới dùng ý niệm mang trái táo đặt ở một góc của vũ đài. Lúc đó trên bức màn nhỏ trong não của anh không còn trái táo. Theo kinh nghiệm của anh, anh tin rằng một trái táo trong thùng sắt đã đi ra ngoài, trái kia vẫn còn trong thùng. Anh nói với mọi người : “một trái táo đã ra ngoài”. Nhiều người không tin, bởi vì họ thấy Trương Bảo Thắng trước sau vẫn đứng cách thùng sắt hơn một mét, anh hoàn toàn không chạm vào thùng sắt, trái táo làm sao ra ngoài được chứ ? Người chủ trì ra lệnh cho người mở nắp thùng sắt, mọi người đều phát hiện thiếu mất một quả táo. Bảo Thắng nói với mọi người, trái táo lấy ra đang nằm ở một góc vũ đài, người ta theo chỉ dẫn của anh, quả thật tìm thấy trái táo. Chính lúc mọi người bàn luận sôi nổi, có người khen ngợi, có người hoài nghi, muốn tìm một khuyết điểm nào đó, một vị lãnh đạo thuộc Ban bí thư, nói : “Tôi được lãnh đạo ủy thác đến tham gia trắc nghiệm, cuộc biểu diễn vừa rồi tôi xem không rõ lắm, tôi hi vọng có thể làm một thí nghiệm ngay trên người mình”, tiếp đó ông dùng tay chỉ chiếc huy chương trên ngực mình, nói : “mời Trương Bảo Thắng dùng ý niệm mang nó đi, được không ?” Người chủ trì biết đây là người muốn vạch khuyết điểm, nên hướng về Bảo Thắng nói : “Anh thấy được không ?”. Bảo Thắng gật đầu. Chỉ thấy anh nhìn một chút chiếc huy chương trên ngực ông bí thư, mà không thấy anh đi lại gần ông ta, cự ly giữa hai người khoảng vài mét. Khán giả tại hiện trường có người nhìn ông bí thư, có người nhìn Trương Bảo Thắng, mọi người chờ đợi anh lên tiếng trả lời. Ông bí thư cũng đắc ý chờ đợi Bảo Thắng lên tiếng trả lời “được” hoặc “không được”. Không ngờ Trương Bảo Thắng không trả lời câu hỏi, chỉ nói : “di chuyển rồi”. Ông bí thư như đang mơ chợt tỉnh, vội dùng tay sờ vào trước ngực, nhưng cái huy chương đã biến đâu mất từ lúc nào, ông hoảng hốt tìm kiếm, trên dưới đều không thấy. Trương Bảo Thắng chỉ nói một câu : “huy chương đã ở trên thân người khác rồi” Không ít người lật đật mò tìm túi trên túi dưới của mình. Trong đám đông có người kêu lên : “trên người tôi có một chiếc huy chương, nó làm sao mà đeo vào được ?” Khi chiếc huy chương được chuyền đến tay ông bí thư, ông nhận ra nó ngay, đó chính là chiếc huy chương ông vừa mới đeo trên ngực. Ông bí thư bị á khẩu không nói nên lời. Người tại hiện trường còn chưa hết ý, đều hứng thú vây quanh Trương Bảo Thắng, nhiệt tình hỏi anh về cảm giác và công năng. Khả năng kỳ lạ của Trương Bảo Thắng được các nhà khoa học Trung Quốc gọi là nhân thể đặc dị công năng. Anh đã biểu diễn rất nhiều lần cho các nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Trung Quốc, cho các nhà khoa học, về khả năng di chuyển vật thể bằng ý niệm, khả năng dùng mũi để nhận ra chữ viết trong mảnh giấy được gấp nhỏ bỏ vào phong bì dán kín, khả năng phục nguyên một tấm danh thiếp hay bức hoạ bị nhai nát, xé nát rồi bỏ vào thau nước…anh có thể phục hồi chúng như nguyên trạng, như chưa hề bị nhai nát, xé nát. Với khả năng phục nguyên kỳ diệu, anh có khả năng làm cho một người bị xe đụng chết, sống lại, khoẻ mạnh như chưa hề bị đụng xe. Nhưng thực tế anh không làm điều đó, vì nó vi phạm luật nhân quả, vi phạm nghiệp báo. Điều này đã có truyền thống từ ngàn xưa. Mục Kiền Liên là vị đại đệ tử của Đức Phật, có thần thông quảng đại, nhưng vẫn phải tuân theo luật nhân quả, chấp nhận để cho bọn ngoại đạo sát hại bằng cách lăn đá đè chết. Đức Phật cũng có kể câu chuyện về luật nhân quả như sau : Lúc Đức Phật Thích Ca chưa ra đời, nơi thành Ca Tỳ La Vệ có một làng chài lưới, trong làng có một hồ lớn chứa nhiều cá. Một năm, gặp lúc hạn hán, hồ khô nước cạn, cá trong hồ đều bị dân trong làng chài bắt hết, trong đó có một con cá thật lớn. Trong làng có một đứa bé không ăn thịt cá, thấy dân làng bắt được cá lớn đặc biệt, vì tính hiếu kỳ nên tiến đến gần, tay cầm cây gỗ gõ lên đầu con cá lớn ba cái. Sau khi Phật Thích Ca chứng đạo, vua nước Ba Tư Nặc rất mến Phật pháp, cưới con gái dòng họ Thích làm vợ, sinh được một người con là thái tử Lưu Ly. Thuở nhỏ, thái tử Lưu Ly đi học ở thành Ca Tỳ La Vệ, một hôm nghịch ngợm trèo lên tòa của Phật ngồi, bị người trong dòng họ Thích bắt gặp rầy la. Thái tử Lưu Ly vì thế mà để tâm thù hận. Khi thái tử Lưu Ly lên làm vua nước Ba Tư Nặc, vì căm giận dòng họ Thích nên xuất quân vây đánh thành Ca Tỳ La Vệ, bắt dân trong làng định giết hết. Môn đệ của Đức Phật Thích Ca đều cầu xin Phật tìm cách giải cứu dòng họ Thích qua khỏi cơn tai ách. Đức Phật trả lời: - Đó là định nghiệp của dòng họ Thích, không thể cứu được. Mục Kiền Liên tôn giả, vị đệ tử thần thông đệ nhất của Đức Phật, muốn cứu dân trong thành, tay cầm lấy bát bay lên không trung, dùng sức thần thông thu hết 500 người dòng họ Thích ra khỏi thành. Nhưng khi mở bình bát ra, thấy trên bát đều chứa đầy máu người. Chúng đệ tử hỏi Phật vì nguyên do gì sức thần thông của Mục Kiền Liên không cứu được dòng họ Thích trong thành. Đức Phật đem chuyện chài lưới của thành Ca Tỳ La Vệ bắt cá trong hồ thuật lại cho chúng đệ tử nghe. Phật nói: – Vua Lưu Ly chính là con cá lớn ngày xưa, binh lính đánh thành là những con cá trong hồ bị bắt giết. Những người bị giết trong thành Ca Tỳ La Vệ đều là những người bắt cá, ăn cá trong hồ. Đứa bé gõ vào đầu con cá lớn chính là tiền thân của ta, nên trong lúc vua Lưu Ly dẫn binh đánh thành, ta bị nhức đầu ba ngày. Thần thông cũng không thể thắng được nghiệp. Nói cho cùng thì sống chết cũng chỉ là giả tạm, không phải thật, trên đời không có gì là thật cả. Trương Bảo Thắng chỉ biểu diễn nối liền cái đuôi bị cắt rời của con chuột bạch để chứng tỏ khả năng phục nguyên mà thôi. Tóm lại, bất nhị trong Phật giáo có hai ý nghĩa cơ bản: bất nhị không phải là hai, cũng không phải là một, mà là không có số lượng. Bất nhị cũng có nghĩa là tuyệt đối, tức không có sự đối đãi giữa chủ thể và đối tượng. Thiền sư kiến tánh, ngộ đạo là cách nói của thế gian. Thật ra không có thiền sư cầu đạo, cũng không có cái tánh hay cái đạo để thấy, để ngộ. Mà chỉ có trở về với Tâm bất nhị vô thuỷ vô chung, không còn thấy có mình hay có tâm gì nữa cả. Bài đọc thêm: Đức Phật Dạy Pháp Môn Bất Nhị (Nguyên Giác)