Thursday, March 26, 2026

Cô Hồng

Người ta thường gọi chị là "cô Hồng," dù đó thực sự không phải là tên thật trong giấy khai sanh của chị. Chẳng qua vì chị không thích cái tên dành cho con trai do người cha đặt, do ông quá mong cầu con trai nối dõi sau khi bà mẹ sanh liên tiếp mấy đứa con gái. Người nhà biết ý chị không thích mang tên ngược đời đó, nên phải im lặng chấp nhận khi chị tự xưng là "Hồng" với người ngoài. Không ai nói ra vào; cũng chẳng ai đính chính làm gì. Nhưng trong gia đình, với các em, chị vẫn là "chị Tư," và cha mẹ cứ tiếp tục dùng tên khai sanh khi nói với chị. Chị cũng không bực dọc hay phản đối. Chị học không cao. Chị suy nghĩ đơn giản, thấy sao nói vậy. Khi hết lớp mười hay có lẽ sau khi rớt tú tài một, chị may mắn được người bà con giúp giới thiệu vào làm thư ký cho nhà máy điện ở Thủ đức. Ngày ngày chị dậy sớm, tự pha cà phê uống vội rồi ra góc đường gần nhà chờ xe buýt công ty đến rước đi làm. Công ty có căng-tin nên chị ăn sáng và trưa tại đó. Đến chiều chị lại đi về bằng xe buýt công ty. Khoảng 5 hay 6 giờ chị đã có mặt ở nhà. Chị thường kể về các tai nạn xe cộ khủng khiếp ở Ngã Ba Hàng Xanh mà chị thường thấy trên đường đi làm từ Sài gòn ra Thủ Đức. Trước 1975, nhờ đồng lương và việc làm ổn định, chị cảm thấy tự tin, vững vàng, hài lòng với đời sống tự lập của mình. Chị sống thoải mái. So ra, thu nhập của chị có vẻ khá nhất so với các người chị kia trong gia đình. Đi làm về và ngày nghỉ cuối tuần, chị đọc thêm báo chí để học hỏi, dẫn vài em nhỏ đi xe lam ra Sài gòn chơi, ăn mì hay hủ tiếu nơi Hải ký mì gia trên đường Lê Thánh Tôn, rồi ghé hiệu sách Khai Trí mua thêm sách về nữ công, gia chánh, đan móc, thêu thùa.... Đôi khi chị dẫn vài đứa em đi xem xi nê ở rạp Rex hay rạp Đại Nam, vì chị không có bạn trai, đi một mình thời đó không tiện. Thời gian còn lại, nhất là dịp gần Noel hay Tết, chị dốc hết sức chăm chỉ thêu may áo quần trẻ em, kiếm thêm tiền phụ giúp cha mẹ nuôi đàn em tám đứa -đứa nhỏ nhất chưa vào tiểu học. Vì bận bịu như vậy, tuổi đời chồng chất mà chị vẫn còn độc thân, và chẩng mong cầu gì hơn. Chị khéo léo tự mua máy sấy tóc, và các dụng cụ làm tóc hay trang điểm, rồi cuối tuần tự gội đầu, uốn tóc, hay chăm sóc nhan sắc của mình. Không bao giờ chị đi đến tiệm như các người phụ nữ đi làm có tiền khác cả trong nhà lẫn ngoài xóm. Chị cần kiệm lắm: mỗi dịp đi chợ Tết cuối năm, chị thích đến xem và chọn mua giầy dép hay túi sách các nơi bán "sôn." Các món hàng kha khá, dù hết hợp thời trang, tồn đọng từ năm cũ, hoặc hàng bị chê hay đã dùng của các bà vợ lính Mỹ bỏ đi trước khi bỏ về xứ, thường được đổ đống trên tấm bạt lớn trên lề đường, với tấm bảng "Đại hạ giá." Khách qua lại ghé xem, dù giá khá hời, vẫn có người mặc cả. Chị ra đời đi làm sớm, nên biết đồng tiển khó kiếm, nên chị chi tiêu dè sẻn. Ngay cả đi xe lam chị cũng để ý giá cả, và thường không để ai tính sai. Vả lại chị đã nuôi một ý định trong đầu. Chị dành dụm, mong có ngày đủ tiền sẽ mua một cuộc đất nhỏ ở ngoại thành, xây nhà riêng để về hưu được vui thú điền viên theo ý mình. Nhưng ý ấy chị luôn giữ kín trong lòng, ít nói với người nào trong gia đình. Chi yếu tim, thường bị đổ mồ hôi tay, và gặp khó khăn khi may vá, thêu thùa. Hồi còn nhỏ, chị hay hốt hoảng và sợ ma, cũng như dễ bị giật mình, lo âu thái quá. Nhưng như phần lớn các cô gái khác, khi là học sinh đệ nhị cấp, chị vương vấn một mối tình vô vọng, vì người chị yêu thầm "đã dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa." Nhưng mối tình đầu ấy lại để lại dấu ấn sâu sắc, theo chị mãi cho đến cuối đời. Cũng vì thế mà chị là người đầu tiên trong các anh chị em chọn theo Ki tô giáo. Có lẽ sau một thời gian nguôi ngoai, khi đã quá tuổi ba mươi, chị có nghĩ đến chuyện lập gia đình. Hồi theo học tiếng Anh ở Hội Việt Mỹ, hình như chị cũng phải lòng một người nữa, nhưng người ấy đã có vợ con, nên khi thấy biết cảnh nhà họ đầm ấm, chị tự nguyện âm thầm rút lui. Cha mẹ và vài thân quyến cố gắng tìm cách mai mối, giới thiệu cho chị vài nơi. Mỗi lần có người khác phái đến nhà thăm để tìm hiểu, chị cảm thấy rộn ràng, hồi hộp ra mặt. Nhưng rồi không hiểu sao, chị vẫn còn độc thân quá tuổi tam thập hơn. Rồi biến cố 1975, và chính phủ Sài gòn sụp đổ. Như bao người miền Nam lúc đó, cuộc đổi đời của chị bắt đầu. Khi đất nước Việt Nam thống nhất, thoạt đầu chị thấy hoang mang, lo sợ, nhưng cùng các người dân miền Nam khác chị hòa vào không khí chung "hồ hởi, phấn khởi" Theo chỉ thị tập trung của công ty điện nơi chị làm gần chục năm, chị tham dự các buổi mít tinh, tuần hành, biểu dương lực lượng chào mừng vào dịp lễ như một tháng năm, hai tháng chín....Chị cố gắng hết sức trong vai trò thư ký của mình như dạo trước 1975 chị đã từng làm. Nhưng rồi chẳng mấy chốc, người ta vẫn không cho chị một chỗ đứng nào nữa trong công ty. Họ bày chuyến sinh sự, "tố khổ" chị để gạt chị ra. Không ai cứu nổi một người thư ký quèn thấp cổ bé miệng, cô thế. Chị chẳng hề có một tiếng nói bênh vực nào của công đoàn, hay cấp trên. Người ta không cần chị nữa, và đã đưa người bà con của họ ngang nhiên ngồi vào chỗ của chị trước đây. Chị bất mãn tột cùng, nhưng biết làm sao? Từ đó chị dần dần rơi vào trầm cảm nặng. Như giọt nước tràn ly, trong nạn túng thiếu nghèo đói chung, chị chẳng những bị ngược đãi, mất công ăn việc làm một cách bất công, mà còn mất luôn cả sở đất nhỏ mà chị dày công tích lũy mua được sau bao nhiêu năm làm lụng vất vả. Người ta đã cướp đất của chị giữa thanh thiên bạch nhật. Không có một quan tòa nào nữa ở đất Sài gòn lúc ấy để giúp chị. Công lao đi làm, ky cõm, mua rồi vun quén, dọn dẹp mảnh vườn bé nhỏ bao năm của chị tan thành mây khói trong cơn chính biến chung! Dù chị có kêu thấu trời cũng không thể nào đòi lại được. Giấc mơ vui thú điền viên ngày nào giờ còn gì ngoài nỗi cô đơn và tuyệt vọng, khi tuổi đời của chị dần dần bước qua tứ tuần, rồi ngũ tuần. Sức khoẻ của chị bắt đầu mòn mõi theo cơn trầm cảm nặng và khẩu phần dân quèn thời bao cấp. Hy vọng tài chánh duy nhất của chị chỉ còn là chiếc máy may, là tài may, thêu, đan móc của chị ngày nào gia công mày mò, học hỏi. Chị đau đớn, thấm thía khẩu hiệu tuyên truyền "Lao động là vinh quang" tô vẽ nhan nhản khắp phố phường. Tinh thần suy sụp, chị chỉ biết quay về tìm về nguồn an ủi duy nhất nơi tôn giáo với một vài bạn đạo. Qua nhà thờ, chị cố gắng tìm cách lấy tin tức, rồi liên lạc lại với người xưa của mối tình đầu thời trung học của chị. Nhờ niềm tin yêu đó, chị tìm thấy chút an ủi. Chị nuôi chút hy vọng giữa lúc đời chị đen tối không lối thoát. Mái ấm gia đình ư? Ngôi nhà của cha mẹ chị chỉ còn là chốn chị tạm nương thân, là nơi chị mượn bàn máy may để dạy may đắp đổi qua ngày. Cha mẹ chị không còn cách nào hơn để giúp. Vả lại trong cảnh nghèo đói túng thiếu, lại còn vài đứa em nhỏ còn ăn học...họ cũng đã già, tiền hưu mất hết, và kiệt lực vì quá sức chịu đưng rồi. Chị lặng lẽ dạy may, dù không bao nhiêu. Cuộc sống của chị mỏi mòn, cứ thế mà trôi theo ngày tháng. Nhưng kẻ cắp cũng không tha. Một hôm cái guồng chỉ máy may bị kẻ gian đột nhập gỡ mất. May mà chiếc máy còn đó....Nhưng rồi cái máy may cùng các thứ đồ đạc khác trong nhà cũng dần dà không cánh mà bay, để người thân đổi lấy miếng cơm từng ngày hay, hay lại lọt vào tay kẻ gian hùng nào đó, như cái guồng chỉ nhỏ? Cả thế giới như sụp đổ dưới mắt chị. Trong lúc túng quẫn, chị đâm tức giận, phẫn nộ, ngay cả với cha mẹ, người thương yêu đùm bọc chị lâu nay....Chị bỏ nhà ra đi, đến ở cùng bạn đạo nào đó, cách nhà cha mẹ không xa lắm, nhưng đó cũng là cách chị tránh chứng kiến cảnh nhà mà lúc ấy chị bị xem là người có phần phải đóng góp giúp đỡ chăng? Không ai hiểu được. Chưa bao giờ chị cô đơn như thế. Ngày ngày chị đẩy chiếc xe tạp hóa nho nhỏ ra ngồi nơi mái hiên chật hẹp nhà người, móc áo, bán đồ tạp nhạp đắp đổi. Làm sao chị sống được những ngày tháng đó? Không ai biết được. Người thân quá bận chạy gạo từng bữa; họ có nhiều mối lo riêng. Họ cũng cùng quẫn như chị. Ngày tháng cứ thế mà trôi. Một hôm chị trở về nhà cha mẹ, ở một mình trong căn phòng nhỏ và làm bạn cùng con chó cái chị nuôi. Rồi con chó ấy đẻ cho chị một bầy chó con. Chi cảm thấy chúng thương chị như chị thương chúng. Có lẽ chúng còn cho chị ít nhiều niềm an ủi hơn con người chung quanh. Rồi nhờ bán mấy chú chó con chị kiếm được ít tiền. Chị vẫn tiếp tục nuôi tình yêu đầu đời và tìm đến chỗ dựa duy nhất của mình: nhà thờ và những người bạn đạo. Đâu đó trong không gian yên lành ấy chị tìm thấy hơi ấm tình người, cái duy nhất giúp chị còn muốn tiếp tục sống. Mái nhà cha mẹ giờ chỉ là chốn chị náo thân.... Rồi một ngày nọ hình như có người giúp chị liên lạc được với người xưa năm nào. Và từ phương trời xa xôi, có lẽ người ấy đã gửi về chút quà tặng chị. Rồi sau đó không ai rõ mối liên lạc ấy được kéo dài bao lâu. Chuyện gì đã xảy ra cho cuộc đời cô đơn và khốn khổ của "cô Hồng"? Không ai biết cả. Chị không chia xẻ cùng ai, ngoài những dòng nhật ký. Những năm tháng ấy cuộc vật lộn với miếng cơm manh áo vẫn còn đè nặng mọi người miền nam Việt nam. Và cả trong thân quyến, dù có muốn, cũng không ai giúp được ai. Chị vẫn một mình một bóng, loay hoay tìm cách tự nuôi thân để tồn tại. Chị ít chia xẻ chuyện riêng với cả người em gái mà mẹ chị nhờ đến thăm tại chỗ ở của chị. Chị viết nhật ký và rồi chị bất đầu thấy sức khoẻ mình hao mòn sa sút dần. Bệnh tim ngày một tồi tệ nhưng chị không hề nghĩ đến sức khoẻ, lý do thật đơn giàn: tiền đâu? Rồi một hôm chị bị đột quỵ, nhưng mãi một thời gian sau chị mới qua đời. Không ai rõ trong lúc bệnh như vậy, trong cô đơn và tuyệt vọng chị còn ý thức gì không và làm sao chị tồn tại? Không một người thân nào cạnh bên. Mọi người đều ở quá xa, và họ có chuyện riêng phải lo. Nghe nói người chủ nhà chỉ báo tin buồn cho thân quyến hay để đến lo chuyện mai táng cho "cô Hồng," một người cô đơn và cô độc.