Your vision will become clear only when you look into your heart.... Who looks outside, dreams. Who looks inside, awakens. Carl Jung
Tuesday, March 17, 2026
Cảm nhận Berlin: Từ Rhinstrasse đến Đồng Xuân
https://baotiengdan.com/2026/03/11/cam-nhan-berlin-tu-rhinstrasse-den-dong-xuan-ky-1/
Cảm nhận Berlin: Từ Rhinstrasse đến Đồng Xuân (Kỳ 1)
11/03/2026
Nguyễn Thọ
11-3-2026
Cuối tuần qua tôi lại quay về Berlin, nơi tôi trải qua tuổi trẻ những năm 1960 thế kỷ trước. Từ năm 1991 sang Köln định cư đến nay, tôi đã quay về Berlin cả chục lần và luôn chứng kiến sự thăng trầm của cộng đồng người Việt ở đây.
Những năm đầu sau thống nhất nước Đức, khi Chủ nghĩa Xã hội ở miền Đông sụp đổ thì mấy chục ngàn người Việt cũng mất phương hướng. Tự do và hàng hóa phương Tây tràn vào không thay thế được mối lo thất nghiệp, nỗi sợ cho tương lai. Người ta tung tóe, đổ xô nhau buôn bán, chộp giật. Nhiều người lãnh tiền đền bù 3.200 DM để về nước, nhưng không ít kẻ sau khi tiêu hết số tiền đó lại “Đức quay”. Dù sao chộp giật ở một đất nước mà tất cả còn đang ngơ ngác vẫn dễ hơn xứ trời Nam, nơi “đánh quả” là phương sách ngự trị từ sau năm 1975. Thế là những “Ghetto cao tầng” lần lượt xuất hiện ở Đông Đức.
Đó là những tòa nhà lắp ghép 5-6 tầng với hàng trăm phòng ký túc xá, từng được CHDC Đức dành cho công nhân nước ngoài. Công nhân đi làm cả ngày, tối về nấu nướng ăn uống, may vá và cuối tuần là nơi trao đổi hàng hóa, mua bán, đóng thùng gửi hàng về nước. Tuy lối sống đậm chất nông dân Việt đã làm cho các “Chung cư thợ” (Arbeiterwohnheim) đó khác hẳn các tòa cao tầng của người Đức về tiêu chuẩn vệ sinh, sự ngăn nắp và tiếng ồn. Nhưng các ông quản lý người Đức vẫn giữ được chúng trong một khuôn khổ tạm chấp nhận được.
Bức tường Berlin đổ khiến nước CHDC Đức qua đời. Người Việt thất nghiệp chỉ biết tự nuôi sống bằng cách của mình. Tất cả các khu nhà tập thể đương nhiên trở thành cái chợ, thành nhà kho, văn phòng bán buôn, quán ăn, tiệm cắt tóc v.v. và v.v. Tòa nhà Rhinstrasse 85 từng là một trong những ghetto như vậy. Gọi là ghetto, vì chỉ có người Việt sống chen chúc trong đó, người Đức không dám bén mảng đến. Kể cả cảnh sát cũng ngại vào, nếu không có án mạng.
Năm 1994 tôi có việc phải vào đó. Thật khiếp đảm khi đi trong cái hành lang sặc một loại mùi hổ lốn từ thuốc là, mùi tanh cá và nước mắm pha dầu cù là, mờ mờ khói nhang. Tôi suýt phát nôn khi nhìn thấy một bồn tắm nước đỏ lờ lờ, chứa đầy lòng lợn, tanh mùi máu. Ông bạn rủ ngồi lại “làm bát cháo lòng với tiết canh!”, nhưng tôi phải bỏ chạy ngay.
Cả một thời kỳ dài hơn chục năm trời, báo chí Đức hay nhắc đến Zigaretten-Mafia (mafia thuốc lá) sau những vụ án mạng do tranh chấp lãnh địa và bảo kê. Tất cả người Việt kinh doanh đều khiếp sợ các băng đảng mang súng AK của “Bộ đội khu 4”. TV-Đức hay đưa những mẩu tin về ráp bố (Razzia) các khu chợ cóc bán quần áo, tạp phẩm của người Việt.
Niềm hân hoan thống nhất nước Đức đem lại cho người Việt từ hai miền cũng không kéo dài. Những ngày sau khi bức tường đổ, người Việt Tây Berlin giang tay đón những người đồng bào “mới được giải phóng”. Người miền Đông, được gọi là “Cộng”, tuy ngại ngùng nhưng cũng sẵn sàng đón nhận những cử chỉ đùm bọc của các bác “Kiều” miền Tây, vốn đã hội nhập vững vàng vào xã hội tư bản. Ngày đó không có “ba que” không có “bò đỏ, bò vàng”. Rồi “Kiều” giúp “Cộng” làm đơn xin tỵ nạn, xin trợ cấp xã hội mà không cần biết đến “hòa giải, hòa hợp dân tộc”.
Chỉ một thời gian sau, sự khác biệt về văn hóa, về lối sống lại xé hai cộng đồng này ra khỏi nhau. Các bác “Kiều” quay lại với nhau trong các hội “Người Việt ty nạn”. Ngày Tết ngày lễ họ vẫn tụ họp, dưới lá cờ tam tài và bài ca “Tiếng gọi công dân” [1] để nhớ về quê hương.
Ở Đông Berlin, các hội “Đồng hương”, “Phụ nữ”, “Cựu chiến binh” mọc lên như nấm. Ngày Tết, lễ bà con vẫn quây quần, quân phục, quân hàm, hát vang bài ca “Năm anh em…”, hoặc “Như có Bác Hồ…”, bất kể là đang đang xin tỵ nạn chính trị hay bán thuốc lá chui.
Bức tường trong đầu bỗng mọc lên, vô hình nhưng sừng sững.
Giữa vết cắt Bắc – Nam đó có một thứ không thể bị xé. Đó là những gia đình “xuyên vĩ tuyến”. Khối chàng sinh viên miền Nam đã yêu cô thợ dệt, thợ may Bắc. Có anh bộ đội Bắc sau ra quân được sang Đông Đức “đổi đời”. Chưa kịp đóng hòm to, hòm nhỏ gửi về thì nhà máy sập tiệm. Mò sang Tây Đức làm phụ bếp tiệm ăn chưa lâu anh đã phải lòng cô gái con ông chủ gốc Nam.
Nhiều mối tình vẫn bền đến hôm nay.
***
Dân tộc Đức cũng không thoát khỏi bức tường vô hình trong đầu. Sau những ngày ôm nhau trong nước mắt, mừng hội ngộ, Đông Đức trở về với bi kịch của chế độ bao cấp XHCN đang đổ vỡ. Các xí nghiệp quốc doanh đều đóng cửa vì dùng đồng DM để thanh toán nên mất hẳn sức cạnh tranh. Có nhà máy được bán với giá tượng trưng 1,0 DM mà cũng không ai mua.
Thất nghiệp tràn lan. Dân tình bỏ đi. Đông Berlin bỗng vắng vẻ điêu tàn với những con phố mà toàn bộ mặt tiền lở lói thảm hại. Người ta đổ tội cho bọn ngoại quốc làm cho họ mất việc, đổ tội cho bọn tư bản miền Tây sang đây bóc lột. Phát xít mới thắng thế. AfD đang dần trở thành lực lượng chính trị mạnh nhất Đông Đức.
Nước Đức thống nhất không tốn viên đạn, không ai bị trả thù, một cô đoàn viên chế độ cũ được làm thủ tướng suốt 16 năm. Sách báo, phim ảnh XHCN nay vẫn lưu hành… Vậy mà bức tường trong đầu vẫn xuất hiện. Thế thì cái hố ngăn cách giữa người Việt với nhau không hề dễ xóa bỏ, khi vẫn còn nhiều kẻ cố tình hay vô ý cầm xẻng đào tiếp.
***
Tuy người Việt và người Đức khác nhau rất nhiều, nhưng có một điều giống nhau không thể chối cãi, đó là tính chăm chỉ, cần cù. Một chính khách nào đó của Đức từng nói: “Người Việt là người Phổ Á châu” (Vietnamesen sind die Preussen Asiens). Đức tính chung này cùng đưa đến một kết quả: Đông Đức sau 30 vất vả, khốn khổ nay đã hồi phục. Hôm nay tôi không thể phân biệt được là mình đang đi ở Đông hay Tây Berlin nữa.
Những người Việt bán thuốc lá lậu, bán rau, bán hoa, quần áo cũng vậy. Họ đã thoát khỏi cảnh rét run đứng bên cạnh xe hàng từ sáng đến tối, lúc nào cũng lo bị cảnh sát chộp. Một tầng lớp doanh nhân mới đã hình thành và những trung tâm thương mại Đồng Xuân, Thái Bình Dương ra đời để thay thế những ghetto Rhinstrasse.
Tất cả các bước thăng trầm này cũng được Minh Thứ, một cậu em rất giang hồ ở Berlin kể lại trong cuốn “Những Mảnh Đời Phiêu Bạt” [2] bằng lối viết sinh động và chân thực.
***
Nhưng cho dù là Đồng Xuân, Thái Bình Dương, Sapa (Praha) hay Chợ Hổ (Budapest) thì chúng vẫn là những “cái chợ” kiểu Việt Nam theo đúng nghĩa. Cho dù chính quyền Berlin đã đặt tên cho bến tàu điện “Herzbergstr/ Dong Xuan”, thì công an và phòng thuế vẫn coi đây là địa bàn hoạt động của mafia và bọn trốn thuế.
Có lần tôi vào một quán ăn khang trang trong chợ, bỗng ngạc nhiên nhìn thấy khẩu hiệu “Chào mừng đồng chí A, ủy viên TƯ Đảng, Bộ trưởng bộ B. đến thăm Berlin! Ngày… tháng”. Mặc dù đã một tuần trôi qua mà tấm khẩu hiệu vẫn hiên ngang treo trên cái sân khấu có đàn organ, bộ trống kèn sáng lòe, như muốn kéo dài cảm giác tự hào cho ông chủ quán.
Sự vươn lên từ Rhinstrasse đến Đồng Xuân là không nhỏ, nhưng vẫn thiếu vắng chất văn hóa đáng phải có sau 35 năm hội nhập.
Tôi đến Berlin lần này để giới thiệu sách “Xuyên Qua Mọi Chiến Tuyến”. Buổi họp mặt đã được các bạn Thu Ha Do, và Nguyen Ngoc Hoa chuẩn bị chu đáo, với sự ủng hộ của Madam Tuyết. Anh Phạm Duy Thoại, giáo sư nhãn khoa và bạn Trương Hồng Quang, một nhà nghiên cứu văn học Đức/ Việt nhận giúp đỡ về nội dung.
Những gì cảm nhận được trong hai ngày tại trung tâm sự kiện Madam Tuyết Herzbergstr. 57 đã khiến tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.
(Còn tiếp)
[1] “Tiếng Gọi Thanh Niên”, nhạc và lời Lưu Hữu Phước 1941. Năm 1956 nhà nước VNCH đổi thành “Tiếng gọi Công Dân” và coi là quốc ca.
[2] Minh Thứ, Những Mảnh Đời Phiêu Bạt. NXB Văn Học 11.2025
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/1-41.jpg
Ghi chú của tác giả: Buôn bán thuốc lá lậu trong những năm 1990 ở Đông Đức. Nguồn: Spiegel
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/2-9.jpg
Bên tàu điện Herzbergstr/ Dong-Xuan ngay trước mặt chợ Đồng Xuân Berlin. Nguồn: VnExpress
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/2-8-195x300.jpg
Ghi chú của tác giả: Ảnh bìa bút ký “Những Mảnh Đời Phiêu Bạt” là một bức tranh sống động về cuộc đời chìm nổi của phần đông người Việt Đông Berlin.
https://baotiengdan.com/2026/03/15/cam-nhan-berlin-khong-gian-van-hoa-moi-ky-2/
Cảm nhận Berlin: Không gian văn hóa mới (Kỳ 2)
Nguyễn Thọ
Không chỉ ở Đức, học sinh, sinh viên Việt mới nổi tiếng là học giỏi. Một nghiên cứu năm 2013/2014 cho thấy, 47,2% học sinh cấp một gốc Đức vào được trung học mở rộng (Gynasium) để thi lấy bằng tú tài. Tỷ lệ này ở con em người Việt là 64,4%, gấp năm lần trẻ em Thổ Nhĩ Kỳ [1].
Chúng ta thường gắn thành tích này với truyền thống ham học của mình. Nhưng người Đức còn nhìn thấy ở đó tư tưởng tôn trọng khoa bảng của Khổng giáo. Người Việt gặp nhau hay khoe thành tích học hành của con cái (trên mạng thì thôi rồi), không ai khoe con mình là thợ sửa mái nhà hay thông ống khói.
Dù sao thì việc đó đã giúp người Việt tha hương khắp năm châu đổi đời, mở mặt. Gặp lại chú Dân, bán cơm ở gần công ty tôi trước kia, được nghe là cả hai cháu đều thành đạt, đang làm cho các công ty lớn của Mỹ, Đức. Tôi mừng cho chú và cho biết bao ông bố, bà mẹ đã trải qua đắng cay vất vả để nuôi con cái thành đạt như vậy. Thế hệ các cháu không còn vướng quá khứ “Thuyền nhân” hay “Thợ khách” nên không phân biệt “Kiều-Cộng”. Họ đang thổi sức sống mới vào sinh hoạt cộng đồng Hải ngoại.
Nữ văn sĩ Phạm Khuê, ca sĩ nhac Rap Trọng Hiếu và nhiều văn nghệ sỹ khác đã đưa Việt Nam trở lại nước Đức. Tác phẩm của họ kết hợp tinh hoa của cả hai nền văn hóa, dành cho cả hai cộng đồng.
Chương trình truyền hình của Mai Thi Nguyen-Kim, trưng bày của nghệ sĩ tạo hình Sung Tieu không hề liên quan đến quê nhà, nhưng fan của họ mỗi khi nghĩ đến Việt Nam không còn liên hệ với chiến tranh, đói ngèo, thiên tai hay thuốc lá lậu nữa.
Hơn cả những văn nghệ sĩ này là hàng ngàn người Việt trẻ thế hệ 2 hoặc 3 đã tiếp quản từ cha mẹ hoặc gây dựng các cơ sở ẩm thực mới. Họ không còn ngại ngùng nấp sau danh hiệu “Chinarestaurant” mà trương hẳn những cái tên Việt như “Nội”, “Quán Ngon”, “Cơm Phở”. Cách phục vụ, bài trí ở các quán này đều rất hiện đại, khác hẳn thời cha chú họ nên lôi kéo rất nhiều thanh niên bản xứ. Nhờ đó mà các từ “Nước Mắm”, “Bánh Mỳ”, “Phở”, “Nem Sài Gòn” đã len lỏi vào tiếng Đức, tiếng Pháp.
Chàng trai Trung Van Nguyen ở Na Uy còn đầu tư xây dựng cả một nhà máy nước mắm “Nuomami”. Những đầu bếp nổi tiếng ở đó đang giúp đưa nước mắm của Trung vào bếp ăn của các bà nội trợ.
***
Tuy nhiên lối sống và cách làm ăn của người Việt mang từ quê nhà sang vẫn đang mạnh lên, xuất phát từ dòng di cư mới. Trên tàu điện, xe bus tôi gặp rất nhiều cặp vợ chồng trẻ nói giọng miền Trung. Tất cả đều từ Việt Nam sang 2-3 năm nay. Nạn thiếu lao động và chính sách visa 8 tháng [2] của Đức là một nguyên nhân cho hiện tượng này.
35 năm sau khi bức tường đổ, làn sóng di cư thứ hai đã xuất hiện. Tôi nhiều lần đi qua miền Trung hào nhoáng. Thì ra những tòa villa kín cổng cao tường, những chiếc xe Mercedes đen bóng, những khu lăng mộ cầu kỳ tối mắt được chi phí từ nguồn lao động nước ngoài gửi về. Có những làng mà 80% gia đình có con em đang “cày” ở nước ngoài.
Đa số người ra đi ngày nay không phải để trốn đói nghèo như xưa, mà tìm cơ hội giàu nhanh. “Lý tưởng” đó tìm thấy ở những Đồng Xuân, Thái Bình Dương, Sapa thế giới của mình. Cưới giả, lậu thuế, làm chui, lừa bịp vẫn thịnh hành, bất chấp mọi thành tích hội nhập của thế hệ mới kể trên.
Trong khung cảnh đó, nỗ lực đưa lối sống văn hóa, nghiêm túc và chuyên nghiệp hóa kinh doanh cho cộng đồng đã được một số người đặt ra. Các bạn tôi ở 57 Herzbergstr. là một ví dụ. Khi tôi báo tin cho Gerhard Will, nhà Việt Nam học hàng đầu của Đức, rằng sẽ đến giới thiệu sách của mình ở địa điểm trên, anh ta tìm trên Google và hỏi: Madame Tuyết là ai mà có Galerie?
Mme Tuyết cùng các bạn chị thuê tòa nhà 5 tầng này không chỉ để làm phòng tranh, tiệm làm đẹp mỹ phẩm SPA, lớp tiếng Đức, trung tâm sự kiện cho các buổi bán đấu giá tranh, giới thiệu sách, gặp gỡ báo chí, sinh nhật, hội hè mà còn là nơi giúp cho giới Startup tìm đến con đường làm ăn hợp pháp. Đa số những người trẻ mà tôi gặp trên tàu điện nói trên đều tìm đến con đường khởi nghiệp bằng nghề móng tay. Ngành “Neo” (Nail) ở Đức nay nằm trọn trong tay người Việt, như các tiệm Sushi và ăn nhanh mỳ xào.
Người Việt vốn “Liều mình như chẳng có” nên từ móng tay, họ đã chuyển sang chân các cô đầm, rồi sang thẩm mỹ sắc đẹp. Sờ đến da, người ta đã bắt đầu tính đến các liệu pháp botox để căng da các bà đầm già. Tuy ông bác sĩ Đức không nói trắng ra điều đó, nhưng tại lớp học do viện thẩm mỹ của ông phối hợp tổ chức hôm 08.03, tôi biết ông cảnh báo các doanh nhân xứ liều chớ đùa với pháp luật Đức.
Rõ ràng những hội thảo kiểu này tại Trung tâm sự kiện Mme Tuyết đang góp phần chuyên nghiệp hóa ngành móng tay Việt Nam đang bành trướng, hướng nó vào con đường hợp pháp.
***
Phòng tranh của Nguyễn Ngọc Hòa ở tầng 1 khiến tôi bất ngờ một cách thú vị. Sau khi tốt nghiệp khoa Triết và quản trị kinh doanh ở Đức, Hòa về Việt Nam sống 7 năm liền. Ở đó, triết gia trẻ gặp gỡ nhiều họa sĩ, nghệ sĩ Việt Nam. Họa sĩ Bàng Sĩ Nguyên, đồng thời cũng là một nhà thơ, nhà triết học đã thuyết phục được Hòa rằng, trong mọi giai đoạn lịch sử của đất nước, nghệ thuât luôn có chỗ đứng của nó, luôn vượt qua mọi khuôn khổ chính trị.
Nghệ sĩ đam mê luôn tìm cách thoát khỏi rào cản, tìm mọi cách để lại các dấu ấn của xã hội. Từ hơn 10.000 năm trước, người cổ đại đã khắc hình trong các hang động miêu tả cuộc sống con người. Phòng tranh của Hòa ở tầng 1, vì vậy mang tên là Art Cave (Hang nghệ thuật).
Chàng triết gia trẻ khiến tôi ngạc nhiên, khi cậu so sánh sự tương đồng về lịch sử giữa hai dân tộc Đức – Việt. Cả hai cùng trải qua chủ nghĩa phong kiến kéo dài, rồi chỉ đạt được một thời kỳ dân chủ ngắn ngủi (Cộng hòa Weimar 1918-1933, hiến pháp 1946 của VNDCCH), rồi chiến tranh, độc tài, thống nhất đất nước, phát triển kinh tế và nay cả hai đang tìm, tuy bằng cách khác nhau, con đường để tồn tại trong thế giới mới mà luật chơi của kẻ mạnh đang ngự trị.
Nhiều ý kiến khác về nghệ thuật Pháp, nghệ thuật Đông Dương và ảnh hưởng của chúng đến văn hóa Việt Nam đương đại của Hòa khiến tôi phải thốt lên: “Bọn Triết thường hệ thống hóa các vấn đề theo kiểu mà ít ai nghĩ ra”. Trong khuôn khổ bài này, tôi không thể kể hết về cuộc đối thoại thú vị đó.
Việc bán tranh của Hòa khiến tôi tò mò. Tuy là kẻ mù chữ về hội họa, nhưng tôi biết rằng bán được tranh không phải là điều dễ dàng. Nó yêu cầu tính chuyên nghiệp cao, Hiểu biết sâu và quan hệ xã hội rộng. Vì vậy tôi cố gắng ngồi dự buối đấu giá tranh của các họa sĩ Bàng Sĩ Nguyên, Giáng Vân, Trần Nhật Thắng , Bùi Hữu Hùng. Tất cả các bước đều được Hòa chuẩn bị rất chu đáo. Từ tiểu sử các họa sĩ, phân tích khuynh hướng nghệ thuật của họ và giới thiệu các bức tranh đấu giá đều khá chuyên nghiệp.
Điều tôi không ngờ là nhiều bức tranh đã bán được tại chỗ với giá từ 500 đến 1000 Eur. Trong số những người mua có Hiếu, con trai của Ho Nga Hue , bạn học nghề của tôi ở Königs Wusterhausen từ năm 1967. Nga cũng giống tôi, chỉ là những người thợ sống đơn giản, nhưng Hiếu và Lâm (con dâu) đang đại diện cho lớp trung lưu mới. Các cháu đang sửa nhà và phòng khách sắp tới sẽ có chỗ cho hội họa hiện đại.
(Còn tiếp)
_________
Chú thích:
[1] https://www.cicero.de/innenpolitik/migration-bildung-schule-vietnam-bildungserfolg
[2] Hiện nay Đức thiếu lao động nặng nề nên muốn tuyển mộ lao động từ Việt Nam sang giải quyết các công việc đơn giản (lái xe, xây dựng, phụ bếp..) với visa 8 tháng. Sau đó tùy theo từng trường hợp, có thể gia hạn hoặc về nước. Người Việt phá rào khá nhiều nên chính sách này đang bị xem xét.
Một số hình ảnh và chú thích của tác giả, minh họa cho bài viết:
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/1-3-1536x1152.jpeg
Hội thảo về Startup ngành móng tay và SPA, kết hợp với một viện thẩm mỹ của Đức
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/2-3.jpeg
Triết gia và tiều phu
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/1-4-726x1024.jpeg
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/3-10.jpg
Hang nghệ thuật với triễn lãm “Form und Formlosig keit (Hình thức và không hình thức)
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/2-4.jpeg
Nước mắm Nuomami sản xuất ở xứ lạnh bắc cực đang có mặt khắp thế giới.
https://baotiengdan.com/2026/03/26/cam-nhan-berlin-khong-gian-van-hoa-moi-ky-3/
Cảm nhận Berlin: Không gian văn hóa mới (Kỳ 3)
Trong buổi giới thiệu sách ở Đại học Hamburg hồi cuối tháng giêng, có bạn hỏi: Khó khăn nhất mà anh gặp phải khi xuất bản sách ở Việt Nam là gì?
– Không phải là chế độ kiểm duyệt, không phải là các thủ tục nhiêu khê khi xin phép xuất bản, xin phép phát hành, nộp lưu chiểu. Thói lười đọc sách của dân ta là khó khăn lớn nhất.
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2024 cả nước đã in và phát hành 51.443 tựa sách, với tổng số lượng 597 triệu bản in. Như vậy mỗi người dân có khoảng 5,97 đầu sách trung bình để đọc. Con số này so với Đức (6,25) là rất đáng tự hào.
Nhưng trong thực tế thì bức tranh lại khác hẳn. Người Đức thuộc loại đọc sách trung bình, nhưng đi tàu, xe bus luôn thấy có người cầm sách đọc. Ở ta thì chỉ thấy bà con nhìn vào điện thoại di động. Tác động của internet và smartphone vào thói quen đọc sách thì nước nào cũng bị, nhưng sự khác biệt về tiêu thụ sách in nằm ở cuộc sống văn hóa trong từng xã hội.
Tuy số đầu sách/người 2024 không chênh nhau nhiều nhưng hai con số nêu trên nói sự khác biệt giữa hai nền xuất bản. Ở Đức, 100% các nhà xuất bản sống bằng doanh thu, do vậy việc in sách nào, in bao nhiêu là một tính toán hết sức kỹ lưỡng, có nghiên cứu kỹ về nhu cầu văn hóa và tình hình chính trị đương thời. Do đó, có thể nói là đa số sách in ra được đọc hoặc sử dụng hết. Nếu không thì ngành xuất bản đã tự triệt tiêu từ lâu.
Ở ta thì xuất bản nằm trong tay nhà nước nên đầu tiên phải thực hiện các nghĩa vụ chính trị của cấp trên giao cho, trong đó có những đầu sách mang tính chất tuyên truyền nên được nhà nước (hoặc đảng cầm quyền) bao tiêu. Một ví dụ gần đây là ra mắt sách của cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng [1]. Tôi chỉ nghe loáng thoáng là quyển sách gồm 900 trang. Năm 2024 ông cựu thủ tướng đã ra 6 tập khác với tổng số 4000 trang. Chắc chắn sách của ông đều phát hành với số lượng cả chục ngàn bản. Ai mua thì không biết, nhưng các cơ quan đoàn thể từ trung ương đến cấp xã đều sẽ bỏ kinh phí ra mua theo chỉ thị.
Ví dụ kiểu này nhiều lắm. Tôi đã đến vài nhà xuất bản và ấn tượng đầu tiên những núi sách không tiêu thụ được chất ngay ở sảnh vào. Tôi cho con số 1-2 sách/ đầu người Việt đọc mỗi năm thực tế hơn.
Tôi còn được biết là các NXB cấp phép một số lượng lớn đầu sách “tự biên, tự tiêu” của nhiều cá nhân, gia đình, gia tộc.. Họ chỉ viết về nội bộ, tặng nhau trong cộng đồng, không cần lỗ lãi, không cần biết sách có được đọc hay không.
Tôi viết sách vì muốn chia sẻ suy nghĩ với bạn đọc, nhưng cũng muốn bán được sách để bạn đọc cùng gánh vác chung tay các hoạt động nhân đạo mà tôi theo đuổi. Do vậy viết như thế nào, phát hành ra sao là một cân nhắc không dễ.
Nhờ vào các kênh phát hành thì nhuận bút 10% không đủ tiền cà phê, đi lại cho mấy năm vất vả. Tôi chọn con đường tự phát hành cũng đề giữ bản quyền và có doanh thu. Tự phát hành, đơn thương độc mã tất không dễ thành công. Tôi không hay tặng sách vì người bỏ tiền ra mua sách chắc sẽ đọc, người được tặng vu vơ, chưa chắc đọc, mà để trên giá phủ bụi là nhiều.
Vì vậy tôi rất mừng mỗi khi có dịp được giới thiệu sách ở đâu đó để được bán thẳng cho bạn đọc, chí ít cũng 30-40 quyển mỗi lần.
***
Được các bạn Thu Ha Do và Nguyen Ngoc Hoa nhận lời tổ chức giới thiệu sách tại Berlin hôm 07.03.26 tôi rất mừng. Sự kiện này được tổ chức trong khuôn viên của chị Tuyet Tran Thi, 57 phố Herzbeg như đã kể trong bài trước. Hội trường được bài trí và trang bị rất hợp cho sự kiện văn hóa. Các bạn sắp xếp buổi giới thiệu sách trước phiên bán đấu giá ảnh nghệ thuật nên khéo kết hợp được hai lớp người yêu văn hóa nghệ thuật với nhau.
Ban tổ chức còn mời được hai học giả Việt là giáo sư Phạm Duy Thoại và tiến sĩ Trương Hồng Quang cùng giúp tôi giới thiệu sách.
Mới đến hội trường tôi gặp ngay một cậu Đức cao to, đẹp trai đến mua sách. Cậu bảo mua cho vợ. Đúng là trai Tây lấy vợ Việt thì chiều hết kiểu. Ông bạn Gerhard Will, đồng tác giả cuốn “Việt Nam, huyền thoại và hiện thực” cũng đến. Bà Anke, một người Đức nói tiếng Việt giỏi hơn nhiều người Việt, cũng có mặt.
Rồi có một em gái đi cùng bạn, khởi hành từ sáng sớm ở Zwickau, vượt 300km đến dự. Chúng tôi chỉ quen nhau qua mạng, nhưng rất quý mến nhau. Sách mới ra, em đã đặt ngay 10 cuốn cho cả làng. Thấy em đến, tôi rời sân khấu xuống bắt tay. Em dúi vào tay tôi một phong bì mà tối về nhà, tôi mới biết là em gửi tặng 1.000 EURO để tôi giúp những số phận cần được giúp. Tôi nhắn tin “anh phải ghi tên em để công khai số tiền”. Em không đồng ý.
Có những bạn bè với những hoàn cảnh éo le, bệnh tật, tuổi già vẫn đến dự, khiến tôi rất cảm động.
Tôi mời hai nhân chứng trong sách là Ted Engelmann từ Denver USA và Phạm Hùng Phong từ Mũi né vào dự online để giao lưu với bạn đọc. Sự kiện bắt đầu từ 14:00 – 17:00 giờ Đức, tức là 6:00h-9:00h ở Mỹ và 20:00-23:00h ở Việt Nam nên rất khó cân bằng. Mãi đến 16:30h, khi các cuộc tranh luận kết thúc tôi mới gọi cho Ted. Ông bạn dậy từ 8:00 sáng, cà phê cho tỉnh ngủ để chờ online. Một cuộc đối thoại sinh động qua ba ngôn ngữ Anh, Đức, Việt. Đáng tiếc là không còn thời gian cho anh Phong ở Việt Nam.
Cuốn sách với những chủ đề vốn xưa nay bị coi là nhạy cảm như “Địch-Ta”, ”Cải cách ruộng đất”, “Nhân văn-Giai phẩm”, “Cải tạo”, “Thuyền nhân” tất nhiên sẽ tạo ra các câu hỏi và tranh luận có thể gây khó chịu cho người nọ người kia, nhưng tôi thấy bình thường, không cần đề cập đến. Tôi chỉ nhắc lại một số ý kiến về “Bức tường trong đầu” khiến tôi rất lưu tâm.
Nhà báo Vũ Lương nói rằng đã rất lâu, anh mong muốn có những sinh hoạt chung của cả hai cộng đồng Việt Nam, cả “Cờ đỏ” và Cờ vàng” mà không biết cách làm nào. Rào cản còn quá lớn.
Facebooker Nguyễn Doãn Đôn nói là anh ta từng đi bộ đội trước khi sang Đức nên được mời vào ban chấp hành “Hội cựu chiến binh Việt Nam” ở Berlin. Anh rất bất bình khi thấy hội “Cựu chiến binh” mà chỉ mời bộ đội bên này, ngày lễ hội thì quân phục, cầu vai sặc sỡ, hát toàn các bài ca tiêu diệt quân thù. Anh bảo nếu không mời các cựu chiến binh phía bên kia, nay đang định cư ở Berlin thì anh không tham gia hội nữa!
Anh bạn Hà Nôi Phô cũng vượt 300km từ Hannover đến dự. Anh mang theo một nhạc phẩm tự sáng tác, cũng có tựa là “Xuyên Qua Mọi Chiến Tuyến” để hát tặng mọi người. Nhạc phẩm đầy cảm xúc đã được hội trường vỗ tay tán thưởng, vì nó khiến mọi người nghĩ về bức tường trong đầu.
Ông bạn Gerhard Will thì nhắc đi nhắc lại: Cậu phải tìm cách nào đó dịch cả hai quyển sách “Hai Quê Hương” và “Xuyên Qua Mọi Chiến Tuyến” sang tiếng Đức. Chủ đề của chúng không gói gọn trong không gian lịch sử, chiến tranh Việt Nam, mà gồm nhiều vấn đề khiến người Đức chưa biết đến. Nhất là nhiều chuyện của nước Đức được kể lại dưới nhãn quan của một người Việt”.
Cảm ơn Thu Ha Do, Nguyễn Ngọc Hòa, Mme Tuyết, anh Phạm Duy Thoại, anh chị Lưu Nghiêm Ngọc, Anh em Trương Hồng Quang, em Bảo Phạm Quốc , các bạn Ho Nga Hue , Hà Nôi Phô, Nhan Mytho, các em Hảo Võ Thị, Giang Nguyen, Dạ Thảo Phương, Lê Minh Hà, Quynh Nga Pham và nhiều bà con khác ở Berlin đã tặng tôi một buổi gặp gỡ ấm cúng, thân tình.
(Hết)
Một số hình ảnh của tác giả đăng kèm theo bài viết:
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/1-90-1536x1024.jpg
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/2-18-1536x1024.jpg
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/1-91.jpg
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/2-19-1536x1024.jpg
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/1-92-1536x1024.jpg

