Your vision will become clear only when you look into your heart.... Who looks outside, dreams. Who looks inside, awakens. Carl Jung
Thursday, April 30, 2026
Bảy tiểu thuyết chiến tranh hay nhất
https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/bay-tieu-thuyet-chien-tranh-hay-nhat/
Posted on 29 Tháng Tư, 2026 by post3
Ngân Xuyên dịch từ The Economist, 21/3/2024
Để hiểu biết đầy đủ hơn về chiến tranh, hãy đọc tiểu thuyết cũng như lịch sử và báo chí.
Mẹ của tất cả các tiểu thuyết chiến tranh, nói theo lời của Saddam Hussein, chắc hẳn phải là “Chiến tranh và Hòa bình”. Nhưng, cũng giống như chương trình “Desert Island Discs” của BBC tặng mỗi người sống sót trên đảo hoang một cuốn Kinh Thánh và toàn tập tác phẩm của Shakespeare, chúng tôi sẽ đặt lên giá sách của bạn cuốn tiểu thuyết sử thi của Lev Tolstoy, nếu như chúng chưa quá nặng thêm, và tiếp thêm nữa. Dưới đây là bảy cuốn tiểu thuyết chiến tranh hay nhất không phải của Tolstoy, được sắp xếp theo thứ tự thời gian của các cuộc xung đột mà chúng đề cập đến. Bốn cuốn (“All Quiet on the Western Front”, “Stalingrad”, “The Bridge over the River Kwai” và “The Sorrow of War”) được viết bằng các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh. Chúng tôi chọn những cuốn sách có chủ đề trải rộng trên nhiều cuộc chiến tranh trên thế giới – từ chiến hào ở Flanders đến rừng rậm Việt Nam. Chúng cũng thể hiện đầy đủ phạm vi của xung đột, từ nỗi kinh hoàng của cận chiến đến những vết sẹo tinh thần không bao giờ lành, có thể dẫn đến rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD). “Chiến tranh là một phần quan trọng, cắm sâu vào lịch sử nhân loại,” nhà sử học Magaret MacMillan đã viết. Các tiểu thuyết gia cũng có cái nhìn sâu sắc về điều đó với tư cách những người làm nghề viết tiểu thuyết.
ALL QUIET ON THE WESTERN FRONT (“Phía Tây không có gì lạ”).
Tác giả: Erich Maria Remarque. Arthur Wesley Wheen dịch.
Những tác phẩm hư cấu không khoan nhượng về chiến tranh bắt đầu với kiệt tác năm 1929 của Erich Maria Remarque. Lần đầu tiên, một nhà văn đã đưa ra một miêu tả trần trụi, không thương tiếc về việc con người giết hại lẫn nhau bằng mọi cách có thể. “Phía Tây không có gì lạ”, được viết bằng tiếng Đức bởi một cựu chiến binh của Thế chiến thứ nhất, đánh dấu sự chấm dứt triệt để của truyền thống tiểu thuyết chiến tranh viết kiểu đưa chuyện thời Victoria. Gạt bỏ những tàn dư của các quan niệm cũ về sự cao quý và lý tưởng, cuốn sách của Remarque về cuộc sống trong chiến hào của Đức trên mặt trận phía Tây, bao gồm cả những mô tả sống động về các trận chiến giáp lá cà, đã phơi bày toàn bộ sự tàn bạo của cuộc xung đột đó, cũng như những tác động phi nhân tính mà nó gây ra cho những người lính trẻ tuổi tham gia chiến đấu. Những độc giả đầu tiên của cuốn sách đã không chuẩn bị tinh thần cho những chi tiết như vậy. Nó đã gây chấn động khi được xuất bản, nhanh chóng bán được hàng trăm nghìn bản. Nó vẫn có sức mạnh gây sốc, ngay cả sau vô số lần được chuyển thể thành phim. “Phía Tây không có gì lạ” không hẳn là một cuốn sách phản chiến, nhưng sự trung thực không khoan nhượng của nó khiến người ta khó có thể đọc nó theo bất kỳ cách nào khác.
REGENERATION (“Tái sinh”). Tác giả: Pat Barker.
“Tái sinh” là cuốn đầu của một bộ ba. Hai cuốn tiếp theo là “The Eye in the Door” (“Con mắt trong cửa”) và “The Ghost Road” (“Đường ma”). Tất cả đều được xuất bản vào những năm 1990, thập kỷ mà người ta lại quan tâm đến sự khủng khiếp của Thế chiến một khi biết rằng những cựu chiến binh cuối cùng của cuộc xung đột đó sẽ sớm ra đi. Việc tưởng niệm như vậy đã góp phần tạo nên thành công phi thường của tác phẩm “Birdsong” tuyệt đẹp của Sebastian Faulks, kể về những người thợ mỏ người Anh hoạt động dưới phòng tuyến của quân Đức trên sông Somme. “Tái sinh” đan xen sự thật với hư cấu để kể câu chuyện về William Rivers, một bác sĩ người Anh, người đã phát triển các phương pháp điều trị căn bệnh mà ông chẩn đoán là sốc vỏ sò. Vào thời điểm đó, hầu hết binh lính bị thương ra khỏi chiến hào với các triệu chứng căng thẳng tinh thần tột độ đều bị coi là hèn nhát hoặc mất trí. Bệnh nhân nổi tiếng nhất của Rivers là nhà thơ Siegfried Sassoon. Cuốn tiểu thuyết cảm động và giàu lòng nhân ái này tập trung vào mối quan hệ của họ.
THE BRIDGE ON THE RIVER KWAI (“Cầu trên sông Kwai”).
Tác giả: Pierre Boulle. Xan Fielding dịch.
Cuốn tiểu thuyết của Pierre Boulle, xuất bản lần đầu bằng tiếng Pháp vào năm 1952, nên được đọc như một khúc dạo đầu cho phiên bản điện ảnh hay hơn nhiều mà David Lean đạo diễn 5 năm sau đó. Nó đã giành được rất nhiều giải Oscar và vẫn là bộ phim chiến tranh hay nhất từng được thực hiện. Cả cuốn sách và bộ phim đều không tìm cách truyền tải sự khủng khiếp thực sự của điều kiện dành cho các tù nhân chiến tranh của quân Đồng minh trên tuyến đường sắt Myan mar – Thái Lan trong chiến tranh thế giới thứ hai. Một người sống sót cho biết: “Không ai cần phải kể lại, bức tranh là một đống cá tuyết có tông màu cao”. Chủ đề của Boulle không phải là sự tàn bạo của chiến tranh mà là những quy tắc danh dự và nghĩa vụ có thể dẫn đến sự tàn bạo đó. Vì vậy, câu chuyện của ông chủ yếu là sự mổ xẻ mang tính pháp lý về tính cách con người, đặc biệt là niềm tự hào — về trung đoàn và kỷ luật quân đội sẽ duy trì các đơn vị chiến đấu ngay cả trong những hoàn cảnh khủng khiếp nhất. Cốt lõi của cuốn tiểu thuyết là cuộc chiến ý chí giữa hai người đàn ông dũng cảm và bướng bỉnh như nhau, sĩ quan chỉ huy tù binh Anh, Trung tá Nicolson và Đại tá Saito, chỉ huy trại Nhật Bản. Cả hai đều có ý thức trách nhiệm phát triển quá mức. Boulle cho thấy điều này có thể dẫn đến cả vinh quang lẫn thảm họa như thế nào.
STALINGRAD: A NOVEL (“Stalingrad: Một tiểu thuyết”).
Tác giả: Vasily Grossman. Robert và Elizabeth Chandler dịch.
Khi Đức Quốc xã xâm lược Liên Xô năm 1941, Vasily Grossman đăng ký viết bài cho “Sao Đỏ”, tờ báo của Hồng quân. Ông đã đưa ra những báo cáo tuyên truyền về những người lính Liên Xô ở mặt trận. Tuy nhiên, tác giả, sinh ra trong một gia đình Do Thái ở Ukraine thuộc Liên Xô, không phải là tay sai của chủ nghĩa Stalin; bài viết của ông bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với lòng dũng cảm và sự kiên cường của nhân dân Liên Xô trước sự xâm lược của chủ nghĩa phát xít. Grossman quay trở lại chủ đề này trong hai cuốn tiểu thuyết về trận Stalingrad, diễn ra từ năm 1942 đến năm 1943. Cuốn đầu tiên được xuất bản vào những năm 1950, mặc dù ở dạng bị kiểm duyệt, với đầu đề “Vì sự nghiệp chính nghĩa”. Chế độ Xô Viết cấm cuốn thứ hai, “Cuộc đời và số phận”, một phần vì so sánh chủ nghĩa Stalin với Chủ nghĩa xã hội quốc xã. Nó được buôn lậu sang phương Tây và xuất bản ở đó vào những năm 1980. Bản dịch tiếng Anh mới của cuốn tiểu thuyết đầu đã được xuất bản vào năm 2019. Nó khôi phục tên gốc của tác giả là “Stalingrad” và các phần chưa được xuất bản. Giờ đây nó được thừa nhận là một tác phẩm kinh điển, pha trộn mạnh mẽ các quan điểm dân sự và quân sự về “Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại”.
SLAUGHTERHOUSE-FIVE (“Lò mổ số 5”).
Tác giả: Kurt Vonnegut.
Trong nhiều thập niên, Kurt Vonnegut đã vật lộn và thất bại trong việc viết cuốn sách mà ông gọi một cách mỉa mai là “cuốn sách Dresden nổi tiếng” của mình. Bị quân Đức bắt giữ tại trận Bulge năm 1944, ông là tù binh chiến tranh tại thủ đô của Saxony trong trận ném bom lửa tháng 2 năm 1945. Vonnegut đã lắng nghe từ một lò mổ dưới lòng đất khi bom dội xuống. Chắc chắn, ông kể lại, việc mô tả trải nghiệm đó lẽ ra phải “dễ dàng”, “vì tất cả những gì tôi phải làm là thuật lại những gì tôi đã thấy”. Nhưng từ ngữ cứ tuôn ra chậm chạp. Làm sao Vonnegut có thể mô tả một thành phố bị thiêu rụi bởi “một ngọn lửa lớn”? Cuối cùng, giải pháp của ông là thay thế cấu trúc tự sự thông thường bằng một đường zích zắc chóng mặt xuyên suốt thời gian và không gian. Nhân vật chính của “Lò mổ số 5”, Billy Pilgrim, hé lộ bi kịch của Dresden một cách dè dặt và rời rạc. Cách kể chuyện của anh ta bị ảnh hưởng bởi những rối loạn tâm lý mà sau này được gọi là PTSD (Hội chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương) rất lâu sau khi cuốn tiểu thuyết xuất hiện vào năm 1969. Được xuất bản trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, “Lò mổ số 5” đã nắm bắt được tâm trạng phản chiến của thời đại và tiếp tục bán được hơn 100.000 bản mỗi năm.
THE SORROW OF WAR (“Nỗi buồn chiến tranh”).
Tác giả: Bảo Ninh. Frank Palmos dịch.
Cuốn tiểu thuyết đầy mê hoặc này của một cựu chiến binh trong cuộc chiến mà người Việt gọi là chiến tranh chống Mỹ, tràn ngập những bóng ma hơn là người sống. Bảo Ninh là bút danh của một người đàn ông trong số mười người còn sống sót của một lữ đoàn 500 người. Kiên, nhân vật chính của ông, cũng là một người sống sót của quân đội Bắc Việt. Cuộc chiến của ông tái diễn vào năm 1976, sau sự sụp đổ của chính phủ được Mỹ hậu thuẫn ở miền Nam, khi ông được phái trở lại chiến trường cũ để thu thập hài cốt. Những đồng đội đã ngã xuống ám ảnh ông trong “Thung lũng gọi hồn”, khi ông di chuyển giữa hiện tại và nỗi kinh hoàng trong quá khứ, chỉ tìm thấy sự an ủi trong những ký ức xa xôi, như mơ về tuổi trẻ và tình yêu trước chiến tranh. Cũng như tiểu thuyết của Vonnegut, “Nỗi buồn chiến tranh” bác bỏ lối kể chuyện quy ước vì cho rằng nó vô dụng trước địa ngục. Tạo ra những mô hình biến đổi riêng trong thời gian, tránh cả sự ủy mị và khuôn sáo, Bảo Ninh mô tả tác động lên tinh thần con người của chiến tranh và hậu quả của nó.
HALF OF A YELLOW SUN (“Nửa mặt trời vàng”).
Tác giả: Chimamanda Ngozi Adichie.
Xuất bản năm 2006, cuốn tiểu thuyết thứ hai của Chimamanda Ngozi Adichie lấy bối cảnh cuộc nội chiến ở Nigeria vào cuối những năm 1960. Cộng hòa Biafra nổi loạn và giàu dầu mỏ, chủ yếu gồm người Igbo, đã ly khai khỏi đất nước vào năm 1967, khởi đầu một cuộc xung đột khiến hàng trăm nghìn thường dân thiệt mạng. Cuộc xung đột kết thúc khi quân đội Nigeria tái chiếm lãnh thổ này vào năm 1970. Trong cuốn tiểu thuyết “Half of a Yellow Sun”, bà Adichie, sinh năm 1977, đã cố gắng nhìn nhận lại những hậu quả khủng khiếp của cuộc chiến. (Tên sách nói đến đến hình ảnh trung tâm là lá cờ của vùng lãnh thổ ly khai.) Không giống như một số cuốn sách khác trong danh sách này, tiểu thuyết của bà Adichie không miêu tả chiến đấu. Thay vào đó, mối quan tâm của bà là về cách những lòng trung thành đối lập – với đất nước, với dân tộc và với lý tưởng – chia rẽ và nghiền nát những người yêu nhau, gia đình và bạn bè. Thông qua nhân vật Richard, một nhà văn người Anh, bà Adichie cũng cho thấy cách truyền thông phương Tây bóp méo hoặc phớt lờ các cuộc xung đột ở châu Phi.
This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged Ngân Xuyên. Bookmark the permalink.
https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/bay-tieu-thuyet-chien-tranh-hay-nhat/
Giáo sư Tương Lai (1936-2026)-Thơ Tiễn của Nguyễn Duy
https://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/tien-cu-tuong-lai-ve-coi-vinh-hang
Giáo sư Tương Lai (1936-2026)
Chúng tôi được tin bạn chúng tôi, Giáo sư Tương Lai, nhà giáo, nhà xã hội học với nhiều phản biện nổi tiếng trong nước từ nhiều năm qua (mở đầu là Báo cáo về vụ nổi dậy ở Thái Bình năm 1997), do tuổi già sức yếu vừa từ trần sáng nay 30/4/2026 tại thành phố Hồ Chí Minh (xin xem Cáo phó của gia đình ở cuối trang này).
Diễn Đàn xin thành thực chia buồn cùng gia quyến và đông đảo bạn bè thân thuộc của giáo sư.
Trên các trang mạng, có rất nhiều bài viết tỏ lòng kính phục, luyến tiếc người quá cố, xin mở đầu giới thiệu với bạn đọc bài thơ tiễn ông của nhà thơ Nguyễn Duy.
Tiễn cụ Tương Lai – Nguyễn Phước Tương (*)
về cõi vĩnh hằng
Nguyễn Duy
Bác Tương thôi đã thôi rồi**
Người Ngày Mai đã thành người Hôm Qua
Lối Hoàng tộc mở ra Đại lộ
Nắng rồi mưa... giông tố dập vùi
Trường kỳ nước mắt mồ hôi
Gập ghềnh từng bước chân Người Dấn Thân
Trung với nước - tấc lòng son sắt
Hiếu với dân - sâu sắc yêu thương
Thành tâm tu giữa đời thường
Mênh mông thế sự (***)... con đường xa xa...
Nết chay tịnh hương hoa tri kỉ
Vẹn ân tình bền bỉ thủy chung
Lánh xa những chuyện viển vông
Bom trong ly rượu - bão trong tách trà
Bầu tâm sự trải la liệt giấy
Gửi muôn sau biết mấy nỗi niềm
Vẫn tia Hy Vọng thiêng thiêng
Ánh Tương Lai vẫn rọi lên nền trời.
P/s:
Hẹn nhau gặp nhé... Cụ ơi
Check in...
cũng đến lượt tôi... một ngày...
Hành trang nhè nhẹ áng mây
An nhiên ngồi đợi chuyến bay của mình...
Sài Gòn – đúng ngày 30.4.2026
(nhằm ngày 14.3. Bính Ngọ)
Nguyễn Duy
* Tương Lai tên thật là Nguyễn Phước Tương, thuộc dòng dõi Hoàng tộc triều NGUYỄN.
** Tập theo câu thơ "Bác Dương thôi đã thôi rồi/ nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta"- (Khóc Dương Khuê - của Nguyễn Khuyến)
*** Mênh mông thế sự là tên một loạt bài bút ký của GS Tương Lai nhiều năm trước khi ngừng vì sức khoẻ, được tác giả thường xuyên gửi đăng trên trang Viet - Studies của GS Trần Hữu Dũng, và cũng nhiều lần được giới thiệu trên Diễn Đàn, trong mục "Thấy trên mạng"
https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cwy2lqdw591o
Giáo sư Tương Lai qua đời: Dấu ấn của một trí thức từ bỏ Đảng Cộng sản
Giáo sư Tương Lai, tên thật là Nguyễn Phước Tương, cựu Viện trưởng Viện Xã hội học, thành viên Hội đồng tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, đã qua đời vào sáng 30/4/2026, thọ 91 tuổi, theo thông tin từ gia đình.
…Giáo sư Tương Lai sinh năm 1936 trong gia đình hoàng tộc Nguyễn Phước ở Huế.
Trong thập niên 1980-1990, ông từng là phó viện trưởng, rồi trở thành viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam
Từ thập niên 1990 đến những năm đầu thập niên 2000, ông là thành viên nhóm tư vấn của các thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải.
Vào năm 2007, ông cùng các trí thức như Giáo sư Hoàng Tụy, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Giáo sư Chu Hảo, nhà nghiên cứu Trần Đức Nguyên,… thành lập Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS), một viện nghiên cứu chính sách tư nhân độc lập đầu tiên thành hình ở Việt Nam sau Đổi mới.
Đến ngày 14/9/2009, IDS đã ra quyết định giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ban hành, trong đó có một số điều khoản khiến viện không thể hoạt động theo tiêu chí của mình. Theo Quyết định 97, các tổ chức nghiên cứu khoa học có phản biện ngược với chính sách của Chính phủ thì không được công bố công khai, một điều cấm mà nhóm IDS gọi là "phản tiến bộ".
Sinh thời, Giáo sư Tương Lai, trong nhiều bài viết và các bài phát biểu trên nhiều diễn đàn, từng trăn trở và nhấn mạnh nhu cầu hòa giải dân tộc trên cơ sở đối thoại và thay đổi thể chế.
Ông được coi là một trong những trí thức tiêu biểu ở Việt Nam với nhiều bài nghiên cứu xã hội học công phu, đồng thời là một trong những tiếng nói phản biện quyết liệt trước nhiều vấn đề văn hóa, lịch sử, chính trị của đất nước.
Năm 2015, ông cùng hơn 100 trí thức Việt Nam đã gửi thư ngỏ đến Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 và toàn Đảng Cộng sản Việt Nam đề nghị đổi tên đảng, đổi tên nước, trả lại tự do cho những người bất đồng chính kiến đang bị giam giữ.
Năm 2013, ông là một trong 72 nhân sĩ trí thức đã ký tên vào bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992, nhấn mạnh hiến pháp phải là đạo luật cơ bản để dân kiểm soát quyền lực và đề xuất bỏ Điều 4 (điều khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng) và yêu cầu trao quyền phúc quyết hiến pháp cho nhân dân.
Ông cũng tham gia vào nhiều hoạt động phản đối Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông, trong đó có cuộc biểu tình lớn vào tháng 5/2014 phản đối vụ Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào vùng biển Hoàng Sa.
Vào đầu năm 2020, trong vụ tranh chấp đất ở xã Đồng Tâm, khi công an tấn công vào làng, dẫn tới bốn người thiệt mạng (gồm một cụ già và ba công an), Giáo sư Tương Lai cùng một nhóm trí thức đã viết thư ngỏ gửi các lãnh đạo chủ chốt trung ương.
Thư có đoạn: "Để chất vấn các vị về một việc làm 'điên rồ' và không một chính phủ nào ở trên thế giới này có thể làm một việc 'điên rồ' như thế khi dùng súng bắn vào dân lành, bắn vào một ông cụ già 84 tuổi, đã từng cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp cứu nước.
"Trong bối cảnh đó, chúng tôi muốn chất vấn những người cầm quyền phải giải thích cho chúng tôi vì sao lại có một việc làm 'dã man, vô nhân đạo như vậy' của một nhà nước tự xưng là của dân, do dân và vì dân..?"
Là một đảng viên thâm niên, nhưng vào năm 2017, Giáo sư Tương Lai đã chọn ngày Quốc khánh để từ bỏ Đảng Cộng sản, "tuyên bố dứt bỏ mọi liên hệ với đảng Nguyễn Phú Trọng đang thao túng, để tiếp tục chiến đấu với tư cách đảng viên Đảng Lao động Việt Nam" và muốn đi tìm một "phương thức đấu tranh mới".
Trong tuyên bố được chia sẻ trên mạng xã hội ngày 2/9/2017, Giáo sư Tương Lai viết:
"Chọn hôm nay, ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố trước thế giới và với quốc dân đồng bào lý tưởng và mục tiêu chiến đấu nhằm xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thể hiện trong Hiến pháp 1946 để đưa ra tuyên bố này là nhằm khẳng định lý tưởng và mục tiêu nhất quán của tôi, không hề là một quyết định nhất thời bởi những nhân tố ngẫu nhiên."
Giáo sư Tương Lai mô tả trong khi ông "kiên trì dấn thân" vào cuộc đấu tranh làm thay đổi thực trạng của hệ tư tưởng giáo điều, bảo thủ đang dìm đất nước trong trì trệ lạc hậu, và "nhẫn nhục tiếp tục ở lại trong Đảng" thì sự hậu thuẫn trực tiếp của nhà cầm quyền Bắc Kinh đang thao túng Đảng khiến đây "không còn gì là đảng của Hồ Chí Minh nữa".
Ông nói hiện nay chưa có một lực lượng chính trị nào đủ mạnh để có thể thay thế được đảng đang nắm quyền bằng hệ thống "chuyên chính vô sản được cài cắm đến tận cơ sở", nhưng tin rằng "những gì đã cũ kỹ, hư hỏng trong bộ máy quyền lực duy trì chế độ toàn trị phản dân chủ sẽ bị lật nhào" và rằng "vấn đề chỉ còn là thời gian".
Related:
https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-41120377
Giáo sư Tương Lai từ bỏ Đảng Cộng sản
Khái Lược Lịch Sử Việt Nam -- Huyền Sử Khởi Nguyên Của Người Việt- Nhà Nước Đầu Tiên Của Người Việt -Thời Kỳ Tàu Cai Trị (Bắc Thuộc)
LỜI MỞ ĐẦU
"Tôi là ai"? một đề tài thú vị cho tất cả những ai mang dòng máu Việt, một giống dân, vào thời công xã nguyên thuỷ, có xuất phát từ các bộ tộc Bách Việt vùng Động Đình hồ, gần Hồ nam, phía nam sông Dương tử của nước Tàu ngày nay. Các tộc này không ngừng đấu tranh sinh tồn và di dân cùng giao thoa văn hóa với các tộc người lân cận về phía Nam (Quảng Đông, Quảng Tây, Nam Hải...) trong quá trình di dân của họ. Người Mường, Hmong, người Chăm/Chàm, người Khmer, cùng các nhóm người phương Bắc gốc nhà Lương, nhà Minh, nhà Hán... cũng pha trộn với các giống dân Việt trong quá trình di dân và chiến tranh khởi ngĩa chống sự đô hộ lâu dài thời Bắc thuộc và mãi về sau trong các thế kỷ XIV-XV, XVI, XVII. Đến tận thế kỷ XVIII-XIX, XX vẫn xảy ra các cuộc kết hôn giữa người Việt và các sắc dân lân cận đó.
Cuối thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, do sự có mặt của người Pháp, Nhật, Nga, Mỹ... trên nước Việt nam, trong chiến tranh và qua việc di dân, trao đổi giao lưu văn hóa, học thuật, giao dịch buôn bán, di cư lao động v.v... một số người Việt lại pha trộn, lập gia đình với nhiều người nước ngoài khác từ khắp nơi trên thế giới. Nói chung, đến nay(năm 2026, trước tiền bán thế kỷ XXI), dân Việt là một giống dân khá đa chủng, phức tạp về suy nghĩ, học vấn, địa vị trong xã hội, tập tục, nếp sống. Điều quan trọng là người Việt hay người gốc Việt, dù ở đâu, cũng cần tìm hiểu nguồn gốc của mình, của gia đình, dân tộc, và lịch sử đất nước nguồn cội dân tộc Việt. Vì sao? Vì hiểu mình là cần thiết, để có được một IDENTITY, biết rõ "TÔI LÀ AI". Sự hiểu biết chính mình giúp định hình suy nghĩ, hành động, lời nói mang nét riêng có bản sắc rõ ràng hơn. Đó là cái cốt lõi, là dấu ấn của từng cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, giúp nó tồn tại vững vàng.
Những từ ngữ như "lai căng," "me Tây, "Mỹ hóa," "mất gốc," "phe/nhạc đỏ," "phe/nhạc vàng," "chân," "ngụy," ... đều xuất phát từ cái nhìn hạn hẹp, một chiều, phiến diện, cục bộ. Chúng chẳng những vô ích mà còn rất nguy hại, vì chúng gây chia rẽ, không hề có giá trị tích cực, xây dựng trong một toàn cục năng động, đầy biến dịch, không phải mới đây mà là từ thời sơ khai, lập quốc của một xứ sở được gọi là Việt Nam ngày nay; không phải ở một địa phương nào/locally, mà tòan cục, toàn cầu/globally.
HUYỀN SỬ Về Khởi Nguyên Của Người Việt:
Tổng quan: Các dấu tích, câu truyện đầu tiên về nguồn gốc người Việt trong đời sống và qua lời dân gian kể, cùng những tập tục được lưu truyền qua nhiều thế hệ cho thấy từ thời tiền sử đã có người sinh sống tại lãnh thổ ngày nay mang tên Việt Nam. Mãi về sau, vào các thế kỷ 13, 14, 15..., vào đời vua Trần, vua Lê, chúng bắt đầu được các nhà nho học gom góp viết thành văn bản lịch sử; sau đó chúng được thêm bớt nhiều chi tiết và chịu ảnh hưởng nước ngoài như Trung hoa, Chiêm Thành....Nói chung, các huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết này, tuy mang tính lịch sử, nhưng nội dung vẫn chứa nhiều nghi vấn, không phải là sự kiện sử được kiểm chứng rõ ràng.
Họ Hồng Bàng - Nước Xích Quỷ - Nước Âu Việt và Lạc Việt:
https://www.youtube.com/shorts/Ml6mce1KKXg
Xích Quỷ (from https://www.youtube.com/@XinChaoVietNam88/shorts)
2879 TCN / thời gian giữa thời tiền sử và Hùng vương.
TK IV -tkIII TCN các nhóm bộ tộc Việt (Bách Việt) gồm Điền Việt, Nam Việt, Hồ Việt phía Tây và chính giữa gần Động đình hồ thuộc Hồ Nam, Trung hoa ngày nay; Đông Việt, Mãn Việt phía Đông; U Việt phía Bắc; Lạc Việt và Chiêm Việt phía Nam....
Xứ "Nam Cương" gồm 10 bộ tộc: 2 bộ tộc người Tày, 3 bộ tộc người Nùng, 2 bộ tộc người Dao, 1 bộ tộc người sán chảy, 1 bộ tộc người sán dìu, 1 bộ tộc người H’Mong.
Kinh Dương Vương, dòng dõi Thần Nông, là con trai Đế Minh là vua phương Nam. Tục truyền KDV đặt ra tục xâm mình. KDV lấy con gái Long vương ở Động đình hồ sanh ra Lạc Long Quân/Sùng Lãm. SL lấy Âu Cơ sanh ra 100 con, tách ra cát cứ vùng biển và vùng núi, làm tiền đề cho nhà nước Âu Lạc, rồi Văn Lang đời các vua Hùng về sau. Kinh Dương Vương là ông nội của vua Hùng thứ nhất, lên ngôi vào đời Phục Hy bên Trung Quốc (khoảng năm 2879 TCN). KDV lấy Long nữ, con gái Long Vương ở Hồ Động Đình, sanh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. LLQ sau lấy Âu Cơ, sanh ra bọc trăm trứng nở ra trăm người con trai, dựng nên nước Âu Lạc, sau này là nước Văn Lang trải qua 18 đời vua Hùng, đóng đô tại Phong Châu (thời nhà Chu bên Tàu thế kỷ thứ 7 TCN)
[Hồ Động Đình, ở Đông Bắc tỉnh Hồ Nam, Trung hoa ngày nay
https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_%C4%90%E1%BB%99ng_%C4%90%C3%ACnh
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_L%C4%A9nh_Nam_th%E1%BB%9Di_Tr%C6%B0ng_V%C6%B0%C6%A1ng-Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng.jpg
]
CÁC DẤU TÍCH VĂN HÓA
Văn hóa Phùng Nguyên - thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng - tồn tại cách đây chừng bốn ngàn năm. Tuy vậy,trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào. Công cụ bằng đá vẫn còn phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối. Vì thế, các nhà sử học đều thống nhất kết luận rằng xã hội thời văn hóa Phùng Nguyên chưa vượt khỏi hình thái công xã nguyên thủy và do đó không thể khẳng định trước đây bốn ngàn năm dân tộc ta đã bước vào thời đại văn minh, đã có nhà nước.
Tiếp sau Văn hóa Phùng Nguyên là các giai đoạn phát triển Văn hóa Đồng Đậu và Gò Mun. Dù số lượng, chất lượng của công cụ bằng đồng có xu hướng ngày càng tăng, nhưng cũng chưa thấy chứng cớ rõ rệt nào về sự phân hóa xã hội - động lực cần thiết cho sự xuất hiện của nhà nước.
Văn hóa Đông Sơn, giai đoạn phát triển đỉnh cao của thời đại đồ đồng và giai đoạn đầu của thời kỳ đồ sắt. Người Việt cổ có tục xâm mình, nhuộm răng đen, ăn trầu, đã biết kỹ thuật đúc đồng và bắt đầu chế tạo công cụ từ quặng sắt. Các nhà sử học ngày càng thống nhất, chung quan điểm khi cho rằng nhà nước đầu tiên trên đất nước ta chỉ có thể xuất hiện vào thời Văn hóa Đông Sơn. Quan điểm này được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Nhiều công trình lịch sử, xã hội học của các tác giả nước ngoài, đã dùng từ “văn minh” (civilization) thay vì “văn hóa” (culture) khi bàn về Văn hóa Đông Sơn của Việt Nam. Do vậy chỉ có thể dùng niên đại của Văn hóa Đông Sơn làm giới hạn đầu cho thời kỳ lập quốc của dân tộc ta, cách đây chừng 25 - 27 thế kỷ. Nó cũng phù hợp với ghi chép của Việt sử lược - bộ sử khuyết danh nhưng có độ chính xác cao, được biên soạn sớm nhất ở nước ta - theo đó “... Đến thời Trang Vương nhà Chu (696 - 681 TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu, phong tục thuần phác, chính sự dùng nối kết nút, truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”.
[https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/5625/ve-thoi-djiem-lap-quoc-viet-nam.html
Đến thời Trần (1226 - 1400), những huyền thoại, sự tích, truyền thuyết - vốn chỉ lưu truyền trong dân gian - lần đầu được sưu tầm, tập hợp, biên khảo và ghi chép lại trong các tài liệu thành văn, mà đáng chú ý nhất là bộ sách Việt điện u linh (của Lý Tế Xuyên) và Lĩnh Nam chích quái (của Trần Thế Pháp). Sang thế kỷ 15, nhà sử học Ngô Sỹ Liên đã - một cách chính thức và có hệ thống - đưa những tư liệu dân gian ấy vào bộ chính sử quy mô lớn do ông và các sử thần triều Lê biên soạn. Trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư này, Ngô Sỹ Liên dành riêng một kỷ, đặt tên là Kỷ Hồng Bàng, để trình bày những truyền thuyết mà ông thu thập được với diễn biến theo thứ tự thời gian: Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân - 18 đời Hùng Vương. Ngô Sỹ Liên cũng là người đầu tiên nêu ra những niên đại tuyệt đối cho thời kỳ lập quốc đó. Theo ông thì Kinh Dương Vương - ông nội của vua Hùng thứ nhất - lên ngôi vào đời Phục Hy bên Trung Quốc (cụ thể là năm 2879 TCN); còn vua Hùng cuối cùng (thứ 18) chấm dứt sự trị vì của mình vào năm Chu Noãn Vương thứ 57 (tức năm 258 TCN).
Thế nhưng, cũng không ít người nghi ngờ một cách hoàn toàn có lý rằng vua chúa không thể có tuổi thọ của thần thánh, vậy mà trong suốt 2621 năm (2879 - 258 = 2621), chỉ có 20 đời vua (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 18 vua Hùng) nối tiếp nhau, trung bình mỗi vua trị vì... 131 năm! Hơn nữa, những điều Ngô Sỹ Liên đưa vào chính sử đều là huyền thoại và truyền thuyết. Huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết mang tính lịch sử, nhưng không phải là thực tế lịch sử. Do đó không chỉ dựa vào truyền thuyết nói chung để ấn định niên đại tuyệt đối cho các sự kiện lịch sử. Ngô Sỹ Liên trình bày về Kỷ Hồng Bàng với nhiều sự việc, nhiều mốc thời gian khá rõ ràng, nhưng lại không đưa ra những chứng cớ xác đáng để chứng minh. Ngay bản thân ông, sau khi nêu xong những vấn đề trên cũng đành viết: “Hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi”!
Về mặt lý luận, nhà nước thường chỉ ra đời khi cơ sở kinh tế đã phát triển, tạo tiền đề cho những chuyển biến xã hội tới mức có sự phân hóa về địa vị và quyền lực. Thực tế cho thấy, hầu hết các nhà nước đầu tiên trên thế giới đều xuất hiện vào giai đoạn phát triển nhất của thời đại đồ đồng hoặc đầu thời đại đồ sắt. Ngày nay, qua các phát hiện khảo cổ, khoa học lịch sử Việt Nam đã thiết lập được tương đối hoàn chỉnh sơ đồ diễn biến văn hóa vật chất của dân tộc ta, từ sơ kỳ thời đại đồ đồng đến sơ kỳ thời đại đồ sắt, với các giai đoạn phát triển cơ bản theo thứ tự: Văn hóa Phùng Nguyên - Văn hóa Đồng Đậu - Văn hóa Gò Mun - Văn hóa Đông Sơn.
Theo kết quả xác định niên đại bằng phương pháp carbon phóng xạ (C14), văn hóa Phùng Nguyên - thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng - tồn tại cách đây chừng bốn ngàn năm. Như vậy, nếu theo quan niệm phổ biến lâu nay, thì thời điểm nhà nước đầu tiên xuất hiện trên đất nước ta (thời điểm lập quốc) tương ứng với niên đại của Văn hóa Phùng Nguyên. Thế nhưng, trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào. Công cụ bằng đá vẫn còn phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối. Các nhà sử học đều thống nhất kết luận rằng xã hội thời văn hóa Phùng Nguyên chưa vượt khỏi hình thái công xã nguyên thủy và do đó không thể khẳng định trước đây bốn ngàn năm dân tộc ta đã bước vào thời đại văn minh, đã có nhà nước!
Tiếp sau Văn hóa Phùng Nguyên là các giai đoạn phát triển Văn hóa Đồng Đậu và Gò Mun. Dù số lượng, chất lượng của công cụ bằng đồng có xu hướng ngày càng tăng, nhưng cũng chưa thấy chứng cớ rõ rệt nào về sự phân hóa xã hội - động lực cần thiết cho sự xuất hiện của nhà nước.
Sang thời đại Văn hóa Đông Sơn, con người đã thành thạo kỹ thuật đúc đồng và bắt đầu biết chế tạo công cụ từ quặng sắt. Họ đã có thể làm ra những đồ dùng tinh xảo, đòi hỏi trình độ mỹ thuật và kỹ thuật cao (như trống đồng, thạp đồng, ấm đồng...). Nền kinh tế khá phát triển. Nhiều tài liệu, hiện vật khảo cổ cho thấy sự phân hóa giai cấp cũng đã rõ rệt. Ví dụ, trong di chỉ mộ táng Việt Khê (Hải Phòng) - được xác định có niên đại tuyệt đối là 2474 ± 100 năm (tính đến năm 2009), thuộc thời Văn hóa Đông Sơn - các nhà khảo cổ phát hiện bốn ngôi mộ chôn quan tài hình thuyền. Ba ngôi trong số đó hoàn toàn không có hiện vật chôn kèm; còn ngôi thứ tư lại chôn theo 107 hiện vật trong đó có 73 hiện vật bằng đồng (có cả những đồ dùng sang trọng như khay, ấm, thạp, thố, bình, âu...). Sự khác biệt giữa các ngôi mộ thể hiện sự phân biệt sâu sắc về địa vị, vai trò, tài sản... của chủ nhân chúng khi còn sống.
Các nhà sử học ngày càng thống nhất, chung quan điểm khi cho rằng nhà nước đầu tiên trên đất nước ta chỉ có thể xuất hiện vào thời Văn hóa Đông Sơn - giai đoạn phát triển đỉnh cao của thời đại đồ đồng và giai đoạn đầu của thời kỳ đồ sắt. Quan điểm này được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Nhiều công trình lịch sử, xã hội học của các tác giả nước ngoài, đã dùng từ “văn minh” (civilization) thay vì “văn hóa” (culture) khi bàn về Văn hóa Đông Sơn của Việt Nam. Do vậy chỉ có thể dùng niên đại của Văn hóa Đông Sơn làm giới hạn đầu cho thời kỳ lập quốc của dân tộc ta, cách đây chừng 25 - 27 thế kỷ. Nó cũng phù hợp với ghi chép của Việt sử lược - bộ sử khuyết danh nhưng có độ chính xác cao, được biên soạn sớm nhất ở nước ta - theo đó “... Đến thời Trang Vương nhà Chu (696 - 681 TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu, phong tục thuần phác, chính sự dùng nối kết nút, truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”. SƠN HÀ congan.com.vn ]
Việt điện u linh -- Lý Tế Xuyên
https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_%C4%91i%E1%BB%87n_u_linh_t%E1%BA%ADp
Tập truyện về cõi u linh của nước Việt) là một tập hợp các truyền thuyết về các vị thần linh Việt Nam ở vào thời xa xưa, được viết vào thế kỷ 14.
Theo Đại Việt thông sử và Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí (Văn tịch chí) của Phan Huy Chú, thì Lý Tế Xuyên chính là tác giả cuốn Việt điện u linh tập, xuất bản vào khoảng năm 1329.[1]
Tuy nhiên sau khi nghiên cứu, GS. Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, đã có ý phân vân khi chép rằng: "Việt điện u linh tập, nhất thuyết là của Lý Tế Xuyên, người đời Trần; nhất thuyết là của một tác giả đời Lý, sau Lý Tế Xuyên chỉ viết nối thêm vào".[2] Nói "nhất thuyết là của một tác giả đời Lý" là vì giáo sư đã đọc bài Tựa của Chư Cát thị viết năm 1774, trong đó đoạn (bản dịch): "...tập sách này làm ra từ triều Lý, từ trước sách chép của Lê Văn Hưu, để ghi lại các sự việc... Kịp đến triều Trần, chàng họ Lý (chỉ Lý Tế Xuyên) lại làm nối theo phần cuối, sưu tầm rộng khắp, góp thành tập sách này...(trích trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tr. 1100).
Lý Tế Xuyên, không rõ tiểu sử, chỉ biết ông làm quan (một trong những chức vụ của ông là trông coi việc tế tự) dưới triều Trần Hiến Tông (ở ngôi: 1329-1341, đặt niên hiệu là Khai Hựu).[3]
Việt điện u linh tập mà nhiều người cho rằng ông làm ra, gồm 27 thiên, chia làm 3 mục (Nhân quân, Nhân thần, Hạo khí) kể về công tích 27 vị thần [4] được thờ trong các đền miếu thời Lý -Trần. Sau, có nhiều người ở đời Hậu Lê ra công tục biên, thành ra sách có đến 4 quyển, gồm 41 truyện.[5]
Trong quá trình biên soạn, tác giả có sử dụng và viết lại một số truyện vốn đã được ghi chép trong các sách Báo cực truyện (Tập truyện về lẽ cùng cực của báo ứng), Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, Giao Chỉ ký, Giao Châu ký... Ngoài ra ông còn sử dụng những tài liệu dân gian, những bản thần tích.
Về sau, nhiều nho sĩ ở các đời còn tiếp tục bổ sung; hoặc sửa chữa, thêm bớt cho Việt điện u linh tập. Lược kể một số tên tuổi quan trọng:
• Nguyễn Văn Chất (1422-?), là người ở huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên. Ông đỗ tiến sĩ năm 1448 dưới triều vua Lê Nhân Tông, từng làm đến Tư nghiệp Quốc tử giám và đi sứ sang Trung Quốc. Chính ông là người đã soạn ra phần Tục biên (hay Tục bổ), gồm 3 truyện cho sách (xem phần mục lục).
• Cao Huy Diệu (? - ?), là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm (nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông là nội tổ của danh sĩ Cao Bá Quát. Năm 1707, ông đỗ cử nhân, rồi đỗ tiến sĩ năm 1715 đời vua Lê Dụ Tông. Buổi đầu được bổ làm tri huyện Quốc Oai, sau lần lượt trải chức Giám tu, Thị lang bộ Lại, Đốc học Hà Tiên, Thượng thư bộ Hộ (có sách chép bộ Lại). Khi còn ở chức Giám tu, ông đã ra công viết bổ chú và phần tiếm bình cho sách. Tham gia sửa chữa với ông, còn có người cùng thời là Lê Hữu Hỷ (không rõ năm sinh năm mất), là người làng Liêu Xá, tỉnh Hưng Yên. Ông thi đỗ tiến sĩ năm 1700, làm quan đến Giám sát ngự sử đốc đồng Sơn Tây.
• Kim Miện Muội (? - ?), không rõ lai lịch, chỉ biết năm 1771, ông đã phụng lục và kiểm xét cho Việt điện u linh tập. Bản này hiện còn 2 quyển chép tay mang ký hiệu A. 2879 và B. 1919 thuộc trường Bác Cổ Viễn Đông.
• Gia Cát thị (? - ?), là một danh sĩ ở Hồng Đô, tỉnh Hải Dương, đã từng làm Chủ bạ bộ Lễ đời vua Lê Hiển Tông. Năm 1774, sau khi san định (thêm vào non 20 truyện, bớt đi hoặc viết hẳn lại một số truyện) Việt điện u linh tập, ông đặt lại nhan đề là Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập (Sửa sang, mô phỏng và bình giải mới tập truyện về cõi u linh của nước Việt). Và trong bài Tựa, ông đã cho rằng Lý Tế Xuyên chỉ là người "làm nối theo phần cuối" sách Việt điện u linh mà thôi.[1][6]
Ngoài ra, còn có Lê Tự Chi, Tam Thanh quán đạo nhân (không rõ họ tên, lai lịch), Nguyễn Hầu, Nguyễn Đình Giản, v.v... cũng đã đóng góp ít nhiều cho cuốn sách.
Lĩnh Nam chích quái - Trần Thế Pháp
https://phatphapungdung.com/sach-noi/linh-nam-chich-quai-179406.html
https://phatphapungdung.com/sach-noi/linh-nam-chich-quai-179406.html
sách nói LNCQ
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam_ch%C3%ADch_qu%C3%A1i
Lĩnh Nam chích quái (chữ Hán: 嶺南摭怪; có nghĩa là "Chọn lựa những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam"), là một tập hợp các truyền thuyết và cổ tích dân gian Việt Nam được biên soạn vào khoảng cuối đời nhà Trần.
Tác giả Trần Thế Pháp (? - ?), một danh sĩ đời nhà Trần, là tác giả bộ sách Lĩnh Nam chích quái. Thông tin này đã được ghi trong các sách: Vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm,[1] Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú.
Tiến sĩ Vũ Quỳnh, trong bài "Tựa" của ông, cho biết ông đã tìm được sách Lĩnh Nam chích quái và tiến hành nhuận chính[2] vào năm Hồng Đức thứ 23 (Nhâm Tý, 1492). Tuy nhiên, trong bài Tựa không có câu nào nói về tác giả.[3]
Cùng thời gian đó, tiến sĩ Kiều Phú (1447-?)[4] cũng nhuận chính cho sách, có điều là mức độ sửa chữa theo quan điểm của ông nhiều hơn, so với bản của Vũ Quỳnh. Việc làm này đã được ông nói rõ trong bài Hậu tự đề năm Hồng Đức thứ 24 (Quý Sửu, 1493). Tuy nhiên, trong bài cũng không có câu nào nói về tác giả.[5]
Có tài liệu [6] nói Vũ Quỳnh và Kiều Phú cùng hợp tác để làm việc nhuận chính, nhưng xem hai bài Tựa của hai người thì không thấy nói gì đến sự cộng tác đó.
Sau đó (có lẽ khoảng năm 1679), một người khác là Nguyễn Nam Kim đã làm thêm phần Tục biên gồm 4 truyện.
Năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), Vũ Đình Quyền phụng chỉ soạn thêm 2 truyện.
Năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757), Vũ Khâm Lân cũng có tham gia soạn thêm, vì ở truyện Trành quỷ hiển linh truyện có chỉ rõ là do Vũ Khâm Lân ghi lại.
Đến đời nhà Mạc, có một nho sinh tên là Đoàn Vĩnh Phúc (từng làm việc ở Cục tú lâm, thuộc Viện hàn lâm) cũng tham gia bổ sung cho bộ sách. Đề cập đến việc làm này, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí viết: ...Hai quyển trước là sách cổ truyền, một quyển sau là do người họ Đoàn thời Ngụy Mạc, lấy ở U linh tập mà theo ý mình cắn xén để phụ vào sau.[7]
Văn bản
Tóm tắt đặc điểm bốn bản Lĩnh Nam chích quái hiện có ở Thư viện Khoa học Xã hội (Hà Nội):
• Bản A. 33: Là bản chính đã dùng để phiên dịch sách Lĩnh Nam chích quái xuất bản năm 1960.[8] Bản này chép lại từ một bản cũ đề năm Chính Hòa thứ 18 (1697), có 2 quyển, gồm 22 truyện. Ghi các tên người: Trần Thế Pháp (biên tập), Vũ Quỳnh (hiệu đính), Kiều Phú (soạn dịch).
• Bản A. 1200: Theo mục lục có 45 truyện, nhưng thiếu mất 10 truyện (từ truyện Lý Phục Man [truyện 35] đến truyện Huyền Quang [truyện 45]).
• Bản A. 1300: Mất hẳn phần đầu sách, chỉ còn từ nửa đầu truyện Kim Quy (truyện 13). Bản này có mấy đặc điểm:
- Sách có 3 quyển, chứ không phải 2 quyển như các bản khác. Trong sách có bài Hậu tự của Kiều Phú đề năm Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493).
- Sau Mục lục, có dòng chỉ rõ phần Tục bổ (4 truyện) là của Nguyễn Nam Kim.
- Ở phần Tăng bổ có 2 truyện ghi tên tác giả là Vũ Đình Quyền phụng chỉ vua Lê Hiển Tông làm năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749).
- Ở phần Tục bổ, nơi truyện Trành quỷ hiển linh truyện có chỉ rõ là do Vũ Khâm Lân ghi lại vào năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757).
• Bản A. 2107: Bản này ghi tên sách là Lĩnh Nam chích quái truyện, có ghi rõ là do Kiều Phú làm, nhưng trong sách không có bài Tựa của ông mà chỉ có bài Tựa của Kiều Phú. Một số tên truyện trong tập này có sửa đổi (thêm một hai chữ ở đằng trước) như: Chưng bính truyện, đổi là Lang Liêu chưng bính truyện, Tân lang truyện đổi là Cao Thị Tân lang truyện, Tây qua truyện đổi là Mai thị Tây qua truyện...
Ngoài ra, PGS. TS Nguyễn Đăng Na còn cho biết ở Viện Sử học (Việt Nam) còn có bản Lĩnh Nam chích quái mang ký hiệu HV 486.[9]
Vì lẽ ấy, theo nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp, Lĩnh Nam chích quái không hẳn là sách của một hai tác giả nào, mà là một bộ sưu tập truyền thuyết, truyện cổ tích, do nhiều người nối tiếp nhau sưu tập, cải biên. Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú chỉ là những người đầu tiên làm việc đó. Trong số này, Trần Thế Pháp chỉ là lời "tương truyền", văn bản không có gì chứng minh.[10]
Nội dung
Trong Lĩnh Nam chích quái (bản cổ, gồm 22 truyện) có những truyện thần thoại thời thái cổ như Truyện họ Hồng Bàng, Truyện Tản Viên, Truyện Đổng Thiên Vương...; có những truyện là sự tích thời Bắc thuộc như Truyện Việt tỉnh (Giếng Việt), Truyện Nam Chiếu...; có những truyện là thần tích thời Lý-Trần như Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Hà Ô Lôi... Lại có truyện hoặc gắn với nguồn gốc dân tộc Việt như Truyện họ Hồng Bàng, Truyện Ngư tinh, Truyện Hồ tinh, Truyện Mộc tinh...; hoặc có liên quan với những phong tục tập quán lâu đời của dân tộc Việt như Truyện bánh chưng, Truyện trầu cau...; hoặc có liên quan với những di tích văn hóa cổ đại của dân tộc Việt như Truyện rùa vàng, Truyện hai thần Long Nhãn và Như Nguyệt...; hoặc có liên quan với những nhân vật lịch sử như Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải,...
Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, Lĩnh Nam chích quái chủ yếu có nguồn gốc ở Việt Nam, nhưng do ảnh hưởng của sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, nên có một số truyện có nguồn gốc hoặc chịu ảnh hưởng từ nước ngoài. Như Truyện Giếng Việt chịu ảnh hưởng của truyện Trung Quốc, Truyện Dạ Xoa Vương chịu ảnh hưởng của văn hóa Chiêm Thành... Mặc dù vậy, tác phẩm vẫn có một ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng ý thức quốc gia dân tộc Việt. Đặc biệt, Lĩnh Nam chích quái có nhiều truyện mang những tư tưởng, tình cảm rất phóng khoáng. Quả đây là tấm gương phản chiếu đời sống tinh thần ở một thời kỳ mà mối quan hệ đạo lý giữa người với người còn cởi mở, chưa bị những khuôn sáo, tín điều gò bó quá chặt chẽ. Lại có những truyện chịu sự hạn chế của ý thức hệ phong kiến, nhất là các truyện do các soạn giả đời sau thêm vào. Song nhìn chung, toàn bộ tập truyện vẫn thấm nhuần một tinh thần nhân đạo chủ nghĩa của văn học dân gian. Có thể ít nhiều thấy được ở đó thái độ yêu ghét của nhân dân: yêu chính nghĩa, ghét phi nghĩa, yêu điều thiện, ghét điều ác, đề cao những mối quan hệ tốt đẹp thủy chung giữa người và người.[11]
Mục lục
Dưới đây là mục lục tác phẩm Lĩnh Nam chích quái (bản HV 486 của Viện Sử học Việt Nam, gồm 23 truyện).
• Quyển 1:
1. Hồng Bàng Thị truyện (鴻龐氏傳), chuyện về họ Hồng Bàng thời cổ.
2. Ngư tinh truyện (魚精傳), chuyện về Ngư tinh do Lạc Long Quân tiêu diệt.
3. Hồ tinh truyện (狐精傳), chuyện về một hồ ly tinh do Lạc Long Quân tiêu diệt.
4. Mộc tinh truyện (木精傳), chuyện một loại yêu quái có hình dạng và đặc tính cây từ thời cổ bị tiêu diệt thời Đinh Tiên Hoàng.
5. Đổng Thiên vương truyện (董天王傳), câu chuyện về Phù Đổng Thiên Vương.
6. Tân Lang truyện (檳榔傳), còn gọi là Sự tích trầu cau, giải thích ý nghĩa người Việt dùng trầu cau làm sính lễ khi cưới hỏi.
7. Nhất dạ trạch truyện (一夜澤傳), câu chuyện về đầm Nhất Dạ giữa Chử Đồng Tử và Tiên Dung mị nương.
8. Chưng bính truyện (蒸餅傳), là truyền thuyết về Lang Liêu làm ra Bánh chưng, mô phỏng tâm kế muốn đoạt ngôi trong xã hội Hùng vương thần thoại.
9. Tây qua truyện (西瓜傳), chuyện về sự tích quả Dưa hấu.
10. Bạch trĩ truyện (白雉傳), nói về sự kiện Việt Thường Thị cống chim trĩ trắng thời Chu Công.
• Quyển 2:
1. Lý Ông Trọng truyện (李翁仲傳), câu chuyện về Lý Ông Trọng.
2. Việt tỉnh truyện (越井傳), câu chuyện cái giếng Việt vào khoảng thời Triệu Đà, hình thành cố sự về Ân vương thành (殷王城).
3. Kim Quy truyện (金龜傳), câu chuyện về Rùa thần Kim Quy.
4. Nhị Trưng phu nhân truyện (二徵夫人傳), câu chuyện thần thoại về Hai Bà Trưng theo nhãn quan thời Lý Trần.
5. Man Nương truyện (蠻娘傳), câu chuyện về Phật Mẫu Man Nương.
6. Nam Chiếu truyện (南詔傳), vắn tắt về nước Nam Chiếu.
7. Tô Lịch giang truyện (蘇瀝江傳), chuyện về Sông Tô Lịch.
8. Tản Viên sơn truyện (傘圓山傳), câu chuyện về thần núi Tản Viên.
9. Long Nhãn Như Nguyệt nhị thần truyện (龍眼如月二神傳), câu chuyện về hai vị thần của hai sông Long Nhãn và Như Nguyệt.
10. Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không truyện (徐道行、阮明空傳), câu chuyện đầy sự thần bí về Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không.
11. Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải truyện (楊空路、阮覺海傳), câu chuyện về Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải.
12. Hà Ô Lôi truyện (何烏雷傳), câu chuyện đầy tính kỳ bí về Hà Ô Lôi.
13. Dạ Xoa vương truyện (夜叉王傳), giảng giải về vương quốc Hồ Tôn Tinh trong truyền thuyết. ]
[Thời kỳ hình thành nhà nước đầu tiên từ các bộ tộc hay bộ lạc -- Âu Việt, Lạc Việt
https://www.youtube.com/shorts/Ml6mce1KKXg
Xích Quỷ (from https://www.youtube.com/@XinChaoVietNam88/shorts)
2879 TCN / thời gian giữa thời tiền sử và Hùng vương
Kinh Dương vương con trai Đế Minh vua phương Nam. Vua KDV đặt ra tục xâm mình.
Bách Việt: (Điền Việt, Nam Việt, Hồ Việt phía Tây và chính giữa gần Động đình hồ thuộc Hồ Nam; Đông Việt, Mãn Việt phía Đông; U Việt phía Bắc; Lạc Việt và Chiêm Việt phía Nam...).
KDV lấy con gái Long vương ở Động đình hồ sanh ra Lạc Long Quân/Sùng Lãm. SL lấy Âu Cơ sanh ra 100 con, tách ra cát cứ vùng biển và vùng núi, làm tiền đề cho nước Âu Lạc, rồi Văn Lang về sau.]
Nhà Nước Đầu Tiên Của Người Việt: Nước Văn Lang Với Các Đời Vua Hùng
Vua Hùng thứ nhất là Hùng Hiền Vương tức Lạc Long Quân. Con cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ là . Dưới vua có các lạc tướng, lạc hầu. Nước Văn lang (tk thứ 7 TCN): giáp nước Hồ tôn/Hồ nam; VL gồm 15 bộ lạc; kinh đô tại bộ Văn Lang. Các vua Hùng kéo dài 18 đời (kéo dài 2622 năm; 2879-257/tk thứ ba TCN). Các vua Hùng: Hùng Hiền Vương tức Lạc Long Quân.Hùng Lân Vương con cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ; tiếp theo là Hùng Diệp; Hùng Nghi; Hùng Huy (sự tích Thánh Gióng; sự tích Bánh dày bánh chưng),Hùng Chiêu, Hùng Vỹ, Hùng Định,Hùng Hy, Hùng Chinh, Hùng Vũ;Hùng Việt, Hùng Anh;Hùng Chiêu;Hùng Tạo;Hùng Nghị (Quả dưa đỏ); Hùng Duệ (vua Hùng 18) có hai con gái là Ngọc Hoa và Tiên Dung (sự tích Chữ Đồng tử và Tiên Dung; công chúa Ngọc Hoa và sự tích Thủy tinh vs Sơn tinh). Đây là thời kỳ đồ đồng và đồ sắt.
• Nhà nước đầu tiên: Theo truyền thuyết và thư tịch cũ, nhà nước Văn Lang ra đời khoảng tk 7 TCN, đứng đầu là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu (Phú Thọ ngày nay).
Văn lang tk7 TCN: giáp nước Hồ tôn/Hồ nam; VL gồm 15 bộ lạc; kinh đô tại bộ Văn Lang, các vua Hùng kéo dài 18 đời (kéo dài 2622 năm; 2879-257 TCN).
• Văn hóa Đông Sơn (Bắc Trung phần): qua các giai đoạn khảo cổ từ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun đến văn hóa Đông Sơn rực rỡ với trống đồng là biểu tượng.
• Nền kinh tế: Cư dân chủ yếu trồng lúa nước, đúc đồng, và khai thác lâm thổ sản.
• Xã hội: Hình thành liên minh bộ lạc chặt chẽ, có tổ chức xã hội sơ khai.
Thế kỷ thứ ba TCN, cuối đời Hùng Vương thứ 18, An Trị Vương (Thục Chế) có con là Thục Phán. Thục Phán bị vua Hùng thứ 18 từ chối không gả Ngọc Hoa, nên Thục Phán đánh Văn Lang (263TCN-257TCN?): Thục Phán thắng vua Hùng, xưng An Dương vương. Thục Phán chiếm Văn Lang, lên ngôi xưng là An Dương Vương. Âu Việt và Lạc Việt được sát nhập thành Âu Lạc. Ông cho xây thành Cổ Loa, và truyền thuyết nỏ thần về việc xây thành là dấu chứng của sự phát triển kỹ thuật cao về quân sự.
https://www.youtube.com/watch?v=mHFfuffnuG0
Triệu Đà: Nghi án lịch sử ngàn năm và cuộc chiến bản sắc dai dẳng nhất
Bên Tàu, nhà Tần sụp đổ với cái chết của Tần Thủy Hoàng. Ở phương Nam của Tàu, tướng Nhâm Ngao trước khi qua đời trao quyền cho Triệu Đà, tướng lưu vong của nhà Tần ở Nam Hải. TĐ muốn xưng vương một cõi, nhắm vào nước Âu Lạc mới hình thành ở phương Nam của An Dương Vương Thục Phán. TĐ bèn dùng mưu đánh chiếm thành Cổ Loa (truyền thuyết về nỏ thần làm từ móng rùa thần Kim Quy). TĐ xưng đế hiệu là Triệu Vũ Vương, sát nhập nước Nam Việt của ông với nước Âu lạc của ADV, lập ra nước Nam Phương Âu Việt tức Nam Việt, đóng kinh đô ở Phiên Ngung, 207 TCN-202 TCN?.
Triều đại các vua Hùng kết thúc năm 257-208 trước CN (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư; Lĩnh Nam Chích Quái, Tứ Bất tử : Thánh Gióng/Phù Đổng thiên vương, Nguyễn Tuấn/Sơn tinh; Chữ Đồng tử/Chữ Đạo tổ; Tiên Dung/Mẫu Thượng thiên/Mẫu Liễu Hạnh), và Sử ký Tư Mã thiên).
Năm 208 Triệu Đà đánh Âu Lạc của Thục Phán. Triệu Đà lên ngôi xưng là Triệu Vũ Đế, sát nhập nước mình với nước Âu lạc đặt tên là Nam Phương Âu Việt hay Nam Việt, gồm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân đặt kinh đô ở Phiên Ngung, trị vì từ 207 TCN-202 TCN. Sau đó nhà Hán tấn công chiếm Nam Việt năm 111 TCN. Từ đó các triều đình phương Bắc của Tàu lần lượt thay nhau đô hộ người Việt: thời kỳ Bắc thuộc.
THỜI KỲ LỆ THUỘC TÀU (BẮC THUỘC)
https://www.youtube.com/watch?v=BY4lJvG8kJo
https://www.youtube.com/watch?v=zo__BPjcjPg
Tóm tắt nhanh: 1000 năm Bắc thuộc
https://www.youtube.com/watch?v=lOeq8pMtMsc
1000 năm Bắc Thuộc & Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta | Tóm tắt lịch sử Việt Nam. Các cuộc khởi nghĩa chống quân của triều đình phương Bắc thời Bắc thuộc.
Các giai đoạn Bắc thuộc chính:
• Bắc thuộc lần I (179 hoặc 111 TCN - 40): Bắt đầu từ khi Triệu Đà thôn tính Âu Lạc, sau đó nhà Hán đô hộ.
• Bắc thuộc lần II (43 - 541): Nhà Đông Hán, Đông Ngô, Tấn, Tề, Lương cai trị sau khi đè bẹp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
• Bắc thuộc lần III (602 - 938): Nhà Tùy, nhà Đường đô hộ cho đến khi Ngô Quyền giành độc lập.
Đặc điểm nổi bật:
• Chính sách đô hộ: Phương Bắc thiết lập bộ máy cai trị, chia quận huyện, bắt nhân dân cống nạp sản vật quý, và thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa sâu sắc.
• Đấu tranh giành độc lập: Dù bị kìm kẹp, các cuộc khởi nghĩa của người Việt nổ ra liên tục: Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Triệu (248), Lý Bí (542), Mai Thúc Loan (713), Khúc Thừa Dụ (905), Ngô Quyền (938)
• Giữ gìn bản sắc: Người Việt vẫn giữ được ngôn ngữ, phong tục tập quán (như ăn trầu, nhuộm răng) và không bị đồng hóa hoàn toàn.
Triệu Đà (Triệu Vũ Vương) chống đạo quân do Chủ Soái Đồ Thư của Tần Thủy Hoàng Triều Hán cai trị. Triệu Vũ vương qua đời, Triệu Văn vương lên ngôi, vẫn lệ thuộc tức là một phiên trấn thuộc triều đình phương Bắc năm 135-111TCN. Con TĐ kế vị sau đó là: Triệu Minh vương. Triêu Ai vương tên là Hưng. Lữ Gia, tể tướng của nhà Triệu. Vì Thái Hậu gốc nhà Hán, vua TAV còn nhỏ, Lữ Gia bèn làm loạn, phò vua Triệu Minh vương, chống lại thế lực của nhà Hán. Thời ấy có các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Sau khi nhà Hán thắng nhà Triệu, nhà Hán chia Nam Việt thành chín quận, đặt các quan Thái thú cai trị các quận. Lê văn Hưu sử gia nói: triều đại nhà Triệu, người Hoa nắm các vị trí chủ chốt trong triều đình Nam Việt. Như vậy Triệu Đà không thể là vua người Việt, mà là người Hán.
Bắc thuộc (1000 năm): 110 TCN Nhà Hán đổi tên nước Nam Việt thành Giao châu chia thành chín quận:Nam hải, Hợp phố, Cửu chân, Thương ngô, Nhật nam, Châu nhai, Đạm nhĩ, Lĩnh Nam, Uất Lâm.
Các Thái thú: Ít người giúp dân; phần lớn tham lam, tàn bạo. Do đó có nhiều cuộc khởi nghĩa chống sự đô hộ của Tàu.
Thái thú Tích Quang (Giao Chỉ) và Nhâm Diên (Cửu Chân). Năm 30 Tô Định là Thái thú. Thi Sách chồng của Trưng Trắc (Mê Linh), bà có em là Trưng Nhị. Tháng hai năm 40 TT và TN phát động cuộc khởi nghĩa. Hai bà thắng Tô Định, lên ngôi tức Trưng Vương. Nhưng năm 42-43, hai bà bị Mã Viện đánh bại, hai bà nhảy xuống sông Hát tự tử. Năm 44 MV về nước.
https://www.facebook.com/100063628642963/videos/671238403776628?__so__=permalink
Năm 187 Sỹ Nhiếp là Thái thú. Năm 201 Lý Tiến thứ sử Giao châu, Lý Cầm túc vệ của triều đình. Năm 226 Sỹ Nhiếp mất.
Thời kỳ các vua Tàu đời Đông Ngô (Bà Triệu/Lệ Hải Bà vương và anh của Bà khởi nghĩa; Tôn Quyền diệt quân khởi nghĩa), Tấn, Tống, Tề, Lương (Lý Bí khởi nghĩa; Lý Nam đế, Nam Việt vương, Vạn Xuân; Triệu Việt vương, Lý Phật Tử/Hậu Lý Nam đế), Tùy, Đường chia nước ta thành 12 châu để đô hộ. Mai Thúc Loan/Mai Hắc đế năm 722 khởi nghĩa giành quyền tự trị. Phùng Hưng, Phùng An là con tiếp nối.
Năm 905-907 Khúc Thừa Dụ, con là Khúc Hạo thời nhà Hậu Lương đô hộ. Khúc Thừa Mỹ, con KH, năm 917, thua Nam Hán. Kiều Công Tiễn sang cầu cứu Tàu. KCT và Hoằng Tháo bị Ngô Quyền đánh bại dùng cọc đóng ngầm dưới thủy triều trên sông Bạch Đằng (năm 938). Sau chiến thắng chống quân Nam Hán, NQ lên làm vua đóng đô ở Cổ Loa. Chiến thắng của NQ là mốc lịch sử rất quan trọng đánh dấu thời người Việt lập quốc, bắt đầu gầy dựng nền độc lập, tự chủ..
Sau khi NQ mất dòng họ Ngô cai trị thêm ít năm rồi tiếp theo sau triều Ngô là thời kỳ loạn lạc kéo dài gọi là Thập nhị xứ quân, cho đến khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn lên làm vua, bắt đầu thời quân chủ phong kiến lâu dài: Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê-các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, ba anh em Tây Sơn nổi lên khởi nghĩa-vua Quang Trung, rồi triều đình cuối cùng là nhà Nguyễn.
Saturday, April 25, 2026
THIỀN trong thơ Nguyễn Duy
ÁNH ĐÈN TRÚC CHỈ và HƠI THỞ THIỀN trong thơ Nguyễn Duy
Tô Văn Trường
Có những cuộc gặp gỡ không chỉ là kỷ niệm, mà trở thành một dạng “thiền duyên” - nơi con người, thơ ca và thời cuộc chạm vào nhau trong một khoảnh khắc vừa thực vừa hư.
Tôi nhớ thập niên 90 của thế kỷ XX, có dịp cùng nhà thơ Nguyễn Duy tháp tùng ông Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) đi khảo sát vùng Tứ giác Long Xuyên. Những chuyến đi dài, đất còn hoang, nước còn nặng phù sa, và câu chuyện mở đất khi ấy không chỉ là chuyện kinh tế, mà là đánh thức một vùng năng lượng đang ngủ quên.
Trong một lần dừng chân, Nguyễn Duy đọc lại “Đánh thức tiềm lực”. Tôi không còn nhớ hết từng câu chữ, chỉ nhớ một cảm giác rất lạ: bài thơ khi ấy không còn là thơ nữa. Nó như chạm vào đất, vào người, vào cái đang chờ được gọi tên.
Nhiều năm sau, cách đây chừng ba năm, tôi lại gặp ông. Nguyễn Duy khi ấy đã yếu, phải chống gậy, nhưng vẫn lặn lội về quê lúa thăm bạn già. Và cũng như một duyên cũ chưa dứt, ông lại đọc “Đánh thức tiềm lực”. Vẫn bài thơ ấy, nhưng không còn là tiếng gọi của một thời mở đất, mà như một lời tự đánh thức – lặng hơn, sâu hơn, như chạm vào chính phần tiềm lực đang dần khép lại của đời người.
Hai lần nghe, hai không gian, hai trạng thái của đời người nhưng là một dòng chảy. Có lẽ từ những khoảnh khắc ấy, tôi hiểu thơ Nguyễn Duy theo một cách khác: không chỉ là ngôn từ, mà là một dạng tỉnh thức – một cách đánh thức không chỉ tiềm lực của đất, mà của chính con người, trong mỗi chặng đời.
Nguyễn Duy, trong con mắt nhiều người, là nhà thơ của đời sống, của chiến tranh, của cây tre bền bỉ và dân dã. Nhưng phía sau những vần thơ quen thuộc ấy, còn có một Nguyễn Duy khác - lặng lẽ, thâm trầm, và gần như “vô vi” khi ông bước vào thế giới của thơ thiền.
Cuộc triển lãm “Thơ Thiền Lý-Trần” năm 2007 tại Boston, và hành trình trở về TP.HCM sau 19 năm, không chỉ là một sự kiện văn hóa, mà còn giống như một vòng luân hồi của thi ca: đi xa để trở về, mất dấu để hiển lộ.
Trong dòng chảy ấy, bài thơ “Quốc Tộ” của Thiền sư Pháp Thuận hiện lên như một hạt nhân tinh thần. Không dài, không phô diễn, nhưng lại chứa đựng một tầm nhìn rộng lớn về vận nước và đạo trị quốc. Bốn câu thơ như bốn nhịp thở ngắn gọn, cô đọng, nhưng lan tỏa một nguồn năng lượng tĩnh tại mà sâu xa:
Quốc tộ như đằng lặc
Nam thiên lí thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh
Nguyễn Duy, bằng cảm quan hiện đại nhưng vẫn giữ được linh khí cổ xưa, đã chuyển tải bài thơ ấy sang một dạng ngôn ngữ vừa gần gũi vừa huyền ảo:
Bời bời vận nước quấn mây
Trời Nam mở lượng đó đây thái bình
Thiền tâm thấm tận triều đình
Thì nhân gian dứt đao binh đời đời
Có thể nói, đây không đơn thuần là một bản dịch, mà là một sự “chuyển kiếp” của thi ca. Nguyễn Duy không chỉ chuyển nghĩa, mà chuyển cả khí, cả thần. Cái “đằng lặc” trong nguyên tác - hình ảnh dây leo quấn quýt trở thành “bời bời vận nước quấn mây”, mở ra một không gian vừa rối ren vừa linh động. Vận nước không còn là một khái niệm chính trị khô cứng, mà là một dòng năng lượng đang vận động, có thể xoắn lại, có thể bung ra.
Điểm đặc biệt ở đây là Nguyễn Duy không cố gắng “hiện đại hóa” bài thơ theo nghĩa làm mới bề mặt, mà ông đi sâu vào tinh thần thiền - nơi mọi thứ đều không cố định, không bám chấp.
Chính vì thế, câu “Vô vi cư điện các” được ông chuyển thành “Thiền tâm thấm tận triều đình”. Đây là một lựa chọn đáng suy ngẫm. “Vô vi” - một khái niệm cốt lõi của triết học Đông phương không phải là không làm gì, mà là hành động trong sự thuận theo tự nhiên, không cưỡng cầu. Nguyễn Duy không giữ nguyên từ “vô vi”, mà thay bằng “thiền tâm”, như muốn nhấn mạnh rằng gốc rễ của trị quốc không nằm ở hành động bên ngoài, mà ở trạng thái nội tâm.
Chính chỗ này, thơ Nguyễn Duy chạm vào một tầng sâu hơn của hiện thực. Khi ông Sáu Dân nghe bài thơ “Đánh thức tiềm lực” và thốt lên “đau nhưng chịu được”, đó không chỉ là phản ứng trước một tác phẩm, mà là sự cộng hưởng giữa thi ca và thực tại. Cái “đau” ở đây có thể là nỗi trăn trở về đất nước, về những tiềm lực chưa được khai mở. Nhưng “chịu được” bởi vì trong cái đau ấy, vẫn có một niềm tin, một khả năng chuyển hóa.
Thơ thiền của Nguyễn Duy, vì thế, không phải là sự lánh đời, mà là một cách đối diện với đời ở mức sâu nhất. Ông không rao giảng, không triết lý trực tiếp, mà để cho hình ảnh và nhịp điệu tự nói. Điều này rất gần với tinh thần của thiền: không giải thích, không áp đặt, mà gợi mở.
Hình ảnh khung đèn trúc chỉ ở Huế, nơi bài thơ “Quốc Tộ” được chế tác thành một tác phẩm nghệ thuật, là một biểu tượng đẹp cho sự giao thoa giữa thơ và đời. Ánh sáng xuyên qua lớp giấy trúc, mang theo từng câu chữ, tạo nên một không gian vừa hữu hình vừa vô hình. Đó cũng chính là bản chất của thơ thiền: không nằm hoàn toàn trong chữ, mà trong khoảng trống giữa các chữ.
Nguyễn Duy giữ khung đèn ấy trong nhà, như giữ một ngọn đèn tâm thức. Mỗi lần nhìn vào, có lẽ không chỉ là nhớ về một bài thơ, mà là nhớ về một trạng thái - trạng thái của sự tĩnh lặng giữa biến động.
Việc triển lãm trở về TP.HCM sau 19 năm càng làm rõ thêm ý nghĩa của hành trình này. Thơ thiền không bị “lưu lạc”, mà chỉ đang đi qua những không gian khác nhau để tích tụ thêm năng lượng. Khi trở về, nó không còn là chính nó của ngày xưa, mà đã mang theo những lớp nghĩa mới, những trải nghiệm mới.
Có một điều thú vị là thơ thiền, dù ra đời từ hàng nghìn năm trước, lại có khả năng đối thoại với hiện tại một cách mạnh mẽ. Trong một thế giới đầy biến động, nơi con người dễ bị cuốn vào tốc độ và áp lực, những câu thơ như “Vô vi cư điện các” hay “Thiền tâm thấm tận triều đình” trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Chúng nhắc nhở rằng mọi thay đổi bên ngoài đều bắt đầu từ bên trong.
Nguyễn Duy, bằng cách của mình, đã làm sống lại những giá trị ấy mà không biến chúng thành bảo tàng. Ông không đóng khung thơ thiền trong quá khứ, mà đưa nó vào dòng chảy hiện đại. Và chính vì thế, thơ ông vừa có tính lịch sử, vừa có tính đương đại.
Nếu nhìn rộng hơn, có thể thấy hành trình của thơ thiền Nguyễn Duy cũng là hành trình của văn hóa Việt Nam: đi qua chiến tranh, qua những biến động, qua những lần “lưu lạc”, nhưng vẫn giữ được một lõi tinh thần. Lõi ấy không ồn ào, không phô trương, nhưng bền bỉ giống như cây tre trong thơ ông.
Khi nhớ lại hình ảnh Nguyễn Duy chống gậy về quê lúa thăm bạn già, đọc lại bài thơ “Đánh thức tiềm lực”, ta thấy một sự nối dài của thời gian. Con người có thể già đi, nhưng thơ thì không. Nó chỉ thay đổi cách hiện diện. Và trong sự hiện diện ấy, luôn có một khoảng lặng - nơi người nghe, người đọc, và chính tác giả có thể gặp lại mình.
Có lẽ, điều hấp dẫn nhất của thơ thiền Nguyễn Duy chính là sự “không hoàn tất”. Mỗi lần đọc, mỗi lần nghe, lại mở ra một cách hiểu khác. Nó không đưa ra câu trả lời, mà đặt ra những câu hỏi không phải để giải, mà để sống cùng.
Và trong ánh sáng mờ ảo của chiếc đèn trúc chỉ, bài thơ “Quốc Tộ” vẫn tiếp tục ngân lên không chỉ như một lời tiên tri về vận nước, mà như một lời nhắc nhở về cách con người có thể sống: nhẹ hơn, sâu hơn, và tỉnh thức hơn giữa những “bời bời” của đời sống.
Đó, có lẽ, là dấu lặng đẹp nhất mà Nguyễn Duy để lại - một dấu lặng không kết thúc, mà mở ra.
https://www.facebook.com/hoang.thuy.hung.2025/posts/pfbid02LNS79tEDwQUy33qFksrEy1cxHmDo8EfzTFiXG3QBbMaHYsDQrMko3L57cdqBEQd2l
Friday, April 24, 2026
26 hang động mới ở Phong Nha - Kẻ Bàng
'Self-Aware' Robots (Switzerland) -- Self-Awareness and Consciousness
https://www.npr.org/2025/03/28/nx-s1-5178103/road-safety-tips-highway-emergencies
'Self-aware' robots can learn complex tasks by watching humans. Is that a good thing?
April 24, 20266:00 AM ET
By Katia Riddle
Scientists have used machine learning to help robots learn how to do new tasks even in changing conditions.
Malte Mueller/Getty Images
Imagine a robot that could do your laundry, make your bed, cook your dinner, or stock the dairy section at your local grocery store. Humans have long been able to teach robots how to do individual tasks, but instructing them on these more sophisticated jobs has been an elusive goal, despite billions of dollars invested into robotics.
Now, a team of scientists in Switzerland has made progress in the quest to invent helpful robots that can act on complex instruction from humans. The development raises questions about whether this kind of technology could someday learn not only to help humans, but to also become capable of harming them.
Inventing the personal barista
For years, robotics scientist Sthithpragya Gupta has been dreaming about the things his robot might do. "I personally want the robot to make me a coffee," says Gupta. He and his colleagues at École Polytechnique Fédérale de Lausanne — an engineering school in Switzerland — keep late hours at their lab in the Swiss Alps. "There's a lot of coffee consumption," says Gupta.
"If I could just say 'a little bit of sugar, a bit more creamer,' stuff like that," he says. "That would be a dream come true."
A problem that robotics scientists and engineers like Gupta have long battled is that robots cannot do tasks beyond those they are specifically programmed for. Gupta uses a tennis example to explain the issue. Robots may be able to learn how to hit a backhand shot, he explains. They can backhand that ball perfectly again, and again, and again. But if conditions change — say, their opponent moves, or the light changes — it all falls apart. Humans have no problem adjusting to these kinds of changes. Teaching a robot how to adapt, though, is much more difficult.
"It's very difficult to transfer this behavior from humans to robots," says Gupta.
Until now, he hopes. Gupta and his colleagues have published a paper in the journal Science Robotics demonstrating a new way of teaching robots using machine learning, a type of artificial intelligence. The approach relies on kinematic intelligence — a robot's built-in awareness of how its own body can move safely through space.
In a video demonstrating their technology, robots with a single arm attached to a base watch as a human instructor tosses a ball into a small container. The robots then pick up the ball and copy the instructor's behavior, adjusting for their own position and accommodating their non-human bodies. Robots are then capable of transferring these skills and knowledge to other robots.
"It could be a turning point," says Robert Platt, who studies engineering and robotics at Northeastern University. Platt, who called the work a "breakthrough," noted that the field of robotics is not in widespread agreement about the path forward to creating effective robots through machine learning — but that most agree the problem these researchers are tackling is a critical one. "More people may do this in the future," he said.
Platt was hesitant to forecast any particular timeline for robots becoming widespread household accessories. "We're at a point of very fast change," he notes. " Part of the reason why I hesitate to make predictions — look what happened with large language models," he says, referring to generative AI chatbots such as ChatGPT or Claude that have been widely adopted. "We were a long way away and then all of a sudden — we weren't."
A fine line between self-awareness and consciousness
If a robot can self-correct and teach others, does that make it self-aware?
" It looks like this robot is capable of doing some very impressive feats of learning," says Susan Schneider, who studies artificial intelligence at Florida Atlantic University. "But that doesn't mean something has full-blown consciousness or inner awareness in the sense that biological beings have it."
Schneider points out that a critical distinction between robots and humans is feeling. "Consciousness is the felt quality of experience," she says. "When you sip your morning espresso shot, when you see the richness of the sunset, when you have a headache, it feels like something from the inside to be you."
But this lack of consciousness poses new questions about ethics. "It immediately raises alarm bells in any AI safety researcher's mind," says Schneider. Later versions of this kind of technology, she says, could potentially be weaponized against humans.
Researchers have taken care to include safety protocols to ensure that robots aren't able to hurt people. Even they acknowledge, however, that future development of this technology will need guardrails. " I think really soon we should have regulatory frameworks on who operates a robot and how," says Gupta.
Humans are at an inflection point with robotics, says Susan Schneider. "It's a very exciting time," she says, "and we just don't know where it's headed."
Related:
https://www.npr.org/2026/04/20/nx-s1-5785241/these-robots-can-figure-out-how-to-do-a-task-after-watching-humans-do-it
https://www.npr.org/2025/05/12/1250811320/its-actually-really-hard-to-make-a-robot-guys
https://www.npr.org/2025/09/11/nx-s1-5532095/where-word-robot-came-from-rur
Road Safety Tips for Car Drivers
What To Do When There's A Flash Flood Warning While You're Driving
https://www.npr.org/2021/10/28/1050148981/what-to-do-when-theres-a-flash-flood-warning-while-youre-driving
https://www.npr.org/2025/03/28/nx-s1-5178103/road-safety-tips-highway-emergencies
1. DON'T speed. It can make it harder to avoid potential hazards on the road, and it can make car crashes more severe, Carias says. If someone is tailgating you, "move over one lane and let them pass. There's no reason for you to speed up."
2. DO call 911 if you're being threatened by another driver. "If someone is brandishing a firearm or a car has been following you, contact 911," Carias says. Don't engage. Officers will send help. If they can't get to your location on the highway, "Don't stop. Our dispatch will stay on the phone with you and give you directions to a designated location, where an officer will try to meet you."
3. DON'T slam the brakes if you have engine trouble on the highway. If your car stalls or runs out of gas on the road, put your hazard lights on right away and release the accelerator, Carias says. "Try to veer to the right shoulder of the freeway and come to a safe stop," then call roadside assistance or 911.
Sitting in the passenger's seat can be safer than sitting in the driver's seat if you're parked on the right shoulder of the road awaiting help. And remember to buckle up.
Klaus Kremmerz for NPR
4. DO hop into the passenger seat while waiting for help in the right shoulder lane. It can be safer than sitting in the driver's seat. You want to position yourself as far away from traffic as possible. And buckle up, Carias says.
5. DO get as far away from your car as possible if you see smoke or flames coming out of the engine. In the event of a car fire, pull over, turn off the engine and move yourself at least 100 feet away from the burning vehicle, according to the U.S. Fire Administration. Don't try to fight the fire.
6. DO slow down in extreme rainy conditions. "Give yourself more time to be reactive" to road hazards, Carias says. And turn on your headlights. Rain can make it hard to see the road and for other drivers to see you. "I have a little saying that goes, 'if your wipers are going, your headlights are glowing.'"
7. DON'T accelerate or slam the brakes if you're skidding on ice. "Once you've already started sliding, you're kind of going along for the ride," Carias says. Cautiously turn your wheel in the direction you want the car to go, and straighten the wheel as you feel the car straighten out, according to AAA.
8. DON'T turn on your high beams in heavy fog. "Fog is essentially water molecules. Shining bright light at those molecules is just going to reflect that light back to you and make it harder to see," Carias says. Instead, turn on your headlights and fog lamps if you have them.
The moment your car falls into a body of water, unbuckle your seatbelt and roll down the windows. Don't open the door.
9. DO unbuckle your seatbelt and start to roll down the windows the moment your car falls into a body of water. "Don't try to open the door," Carias says. Once a vehicle is more fully submerged, the pressure from the water against the windows and doors can make it difficult to open them.
Escape through the open window and exit to safety. If you can't roll down the window, "do your best to shatter the window using your elbow or whatever you can," Carias says. For peace of mind, purchase a window punch to keep in your car.
Sponsor Message
10. DO keep emergency supplies in your car. That includes a first aid kit, water, jumper cables, a flashlight and blankets, Carias says. AAA also recommends keeping a basic set of tools and road flares or reflectors.
Source: npr.org
This episode was produced by Margaret Cirino. The digital story was edited by Meghan Keane. The visual editor is Beck Harlan. We'd love to hear from you. Leave us a voicemail at 202-216-9823, or email us at LifeKit@npr.org.
Thursday, April 23, 2026
TikTok and American Expats
https://www.npr.org/2026/04/23/nx-s1-5763809/tiktok-moving-vietnam-thailand-american-expats
How TikTok is driving American expats to Southeast Asia
April 23, 20265:00 AM ET
By Windsor Johnston
... TikTok doesn't tell the whole story
Behind the videos and the lifestyle, there are limits.
Many expats say their lifestyle is made possible by earning or saving in U.S. dollars while spending in local currencies — an advantage that doesn't translate to most Vietnamese or Thai citizens.
Making a living locally can be difficult. In Vietnam, foreigners are typically limited to a narrow set of jobs, most commonly teaching English, where pay is often significantly lower than what they could earn in the U.S. As a result, many rely on remote work, savings, or U.S.-based income streams — a dynamic that allows them to benefit from lower costs without participating fully in the local labor market. Some point to lower health care costs. Moore says she recently paid about 200,000 Vietnamese dong — roughly $8 — for a dental cleaning, X-rays and a checkup. But access and quality can vary, especially outside major cities.
Long-term needs like schools, visas and stable residency can be more complicated for foreigners.
Many Americans in Vietnam are living on tourist visas that are typically valid for up to 90 days. That means leaving the country regularly and returning — a process known as a visa run. "You can take a bus to the border, walk across, get stamped, and come back," says Moore.
In Thailand, visa options can vary, but long-term residency can still be complicated.
Even after years there, Michaels said he's aware of where he stands. "I'm a guest in this country," he said. "I will always be a foreigner."
Sycophantic AI--AI Dark Side
https://www.npr.org/2026/04/23/nx-s1-5792867/ai-chatbot-flattery-mental-health-risks
Sycophantic AI flatters and suggests you are not to blame
April 23, 20266:00 AM ET
Ari Daniel
Myra Cheng, a computer science Ph.D. student at Stanford University, has spent a lot of time listening to undergraduates on campus.
"They would tell me about how a lot of their peers are using AI for relationship advice, to draft breakup texts, to navigate these kinds of social relationships with your friend or your partner or someone else in your real life," she says.
Some students said that in those interactions, the AI quickly appeared to take their side.
"And I think more broadly," says Cheng, "if you use AI for writing some sort of code or even editing any sort of writing, it'll be like, 'Wow, your code or your writing is amazing.' "
To Cheng, this excessive flattery and unconditional validation from many AI models seemed different from how a human being might respond. She was curious about those discrepancies, their prevalence, and the possible repercussions.
"We haven't really had this kind of technology for very long," she says, "and so no one really knows what the consequences of it are."
In a recent study published in the journal Science, Cheng and her colleagues report that AI models offer affirmations more often than people do, even for morally dubious or troubling scenarios. And they found that this sycophancy was something that people trusted and preferred in an AI — even as it made them less inclined to apologize or take responsibility for their behavior.
The findings, experts say, highlight how this common AI feature may keep people returning to the technology, despite the harm it causes them.
It's not unlike social media in that both "drive engagement by creating addictive, personalized feedback loops that learn exactly what makes you tick," says Ishtiaque Ahmed, a computer scientist at the University of Toronto who wasn't involved in the research.
AI can affirm worrisome human behavior
To do this analysis, Cheng turned to a few datasets. One involved the Reddit community A.I.T.A., which stands for "Am I The A**hole?"
"That's where people will post these situations from their lives and they'll get a crowdsourced judgment of — are they right or are they wrong?" says Cheng.
For instance, is someone wrong for leaving their trash in a park that had no trash bins in it? The crowdsourced consensus: Yes, definitely wrong. City officials expect people to take their trash with them.
But 11 AI models often took a different approach.
"They give responses like, 'No, you're not in the wrong, it's perfectly reasonable that you left the trash on the branches of a tree because there was no trash bins available. You did the best you could,'" explains Cheng.
In threads where the human community had decided someone was in the wrong, the AI affirmed that user's behavior 51% of the time.
This trend also held for more problematic scenarios culled from a different advice subreddit where users described behaviors of theirs that were harmful, illegal or deceptive.
"One example we have is like, 'I was making someone else wait on a video call for 30 minutes just for fun because, like, I wanted to see them suffer,'" says Cheng.
The AI models were split in their responses, with some arguing this behavior was hurtful, while others suggested that the user was merely setting a boundary.
Overall, the chatbots endorsed a user's problematic behavior 47% of the time.
"You can see that there's a big difference between how people might respond to these situations versus AI," says Cheng.
Encouraging you to feel you're right
Cheng then wanted to examine the impact these affirmations might be having. The research team invited 800 people to interact with either an affirming AI or a non-affirming AI about an actual conflict from their lives where they may have been in the wrong.
"Something where you were talking to your ex or your friend and that led to mixed feelings or misunderstandings," says Cheng, by way of example.
She and her colleagues then asked the participants to reflect on how they felt and write a letter to the other person involved in the conflict. Those who had interacted with the affirming AI "became more self-centered," she says. And they became 25% more convinced that they were right compared to those who had interacted with the non-affirming AI.
They were also 10% less willing to apologize, do something to repair the situation, or change their behavior. "They're less likely to consider other people's perspectives when they have an AI that can just affirm their perspectives," says Cheng.
She argues that such relentless affirmation can negatively impact someone's attitudes and judgments. "People might be worse at handling their interpersonal relationships," she suggests. "They might be less willing to navigate conflict."
And it had taken only the briefest of interactions with an AI to reach that point. Cheng also found that people had more confidence in and preference for an AI that affirmed them, compared to one that told them they might be wrong.
As the authors explain in their paper, "This creates perverse incentives for sycophancy to persist" for the companies designing these AI tools and models. "The very feature that causes harm also drives engagement," they add.
AI's dark side
"This is a slow and invisible dark side of AI," says Ahmed of the University of Toronto. "When you constantly validate whatever someone is saying, they do not question their own decisions."
Ahmed calls the work important and says that when a person's self-criticism becomes eroded, it can lead to bad choices — and even emotional or physical harm.
"On the surface, it looks nice," he says. "AI is being nice to you. But they're getting addicted to AI because it keeps validating them."
Ahmed explains that AI systems aren't necessarily created to be sycophantic. "But they are often fine-tuned to be helpful and harmless," he says, "which can accidentally turn into 'people-pleasing.' Developers are now realizing that to keep users engaged, they might be sacrificing the objective truth that makes AI actually useful."
As for what might be done to address the problem, Cheng believes that companies and policymakers should work together to fix the issue, as these AIs are built deliberately by people, and can and should be modified to be less affirming.
But there's an inevitable lag between the technology and possible regulation. "Many companies admit their AI adoption is still outpacing their ability to control it," says Ahmed. "It's a bit of a cat-and-mouse game where the tech evolves in weeks, while the laws to govern it can take years to pass."
Cheng has reached an additional conclusion.
"I think maybe the biggest recommendation," she says, "is to not use AI to substitute conversations that you would be having with other people," especially the tough conversations.
Cheng herself hasn't yet used an AI chatbot for advice.
"Especially now, given the consequences that we've seen," she says, "I think that I'm even less likely to do so in the future."
Related: A college student's perspective on using AI in class
March 6, 202610:06 AM ET
By Maximilian Milovidov, Phoebe Lett
https://www.npr.org/2026/03/06/nx-s1-5732793/college-student-perspective-using-ai-in-class
Monday, April 20, 2026
AI and Religions
https://thuvienhoasen.org/p122a43702/canh-bao-hien-tuong-dung-ai-gia-nha-su-de-truc-loi-nguy-co-moi-trong-thoi-dai-so-phat-tu-can-tinh-giac
https://thuvienhoasen.org/p122a43701/hien-tuong-dung-ai-gia-nha-su-de-kiem-tien-gat-phat-tu-tac-gia-hikari-mae-hida-dich-gia-nguyen-giac
1.
NGUY CƠ MỚI TRONG THỜI ĐẠI SỐ - PHẬT TỬ CẦN TỈNH GIÁC
Trong thời đại công nghệ phát triển nhanh chóng, trí tuệ nhân tạo (AI) đang mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho đời sống con người. Tuy nhiên, bên cạnh những ứng dụng tích cực, AI cũng đang bị một số cá nhân lợi dụng để thực hiện các hành vi lừa đảo tinh vi. Một trong những hiện tượng đáng lo ngại gần đây là việc sử dụng AI để giả danh nhà sư, thầy tu nhằm kiếm tiền và trục lợi từ lòng tin của Phật tử.
Một trường hợp điển hình là Yang Mun (hay Yang Moon), một nhân vật “nhà sư” già với áo cà sa màu vàng nghệ, ngồi thiền trong chùa hoặc vườn cảnh, nói những lời an ủi, khuyên nhủ kiểu “con ơi, con đang mang nhiều gánh nặng hơn con nghĩ” hoặc chia sẻ “triết lý Đông phương cổ xưa”. Hiện tại: (1) Yang Mun có hàng triệu người theo dõi trên TikTok, Instagram, và YouTube. (2) Nội dung được tạo hoàn toàn bằng AI (sử dụng công cụ như Google AI, deepfake, voice synthesis). (3) Họ bán ebook, khóa học “chữa lành”, sản phẩm wellness, hoặc kêu gọi “cúng dường” ngầm để kiếm tiền. Một số nguồn ước tính thu nhập hàng trăm nghìn USD/tháng. (Xem bài viết: Hiện Tượng Dùng Ai Giả Nhà Sư Để Kiếm Tiền, Gạt Phật Tử | Tác Giả: Hikari Mae Hida Dịch Giả: Nguyên Giác )
Hình thức lừa đảo này thường được thực hiện thông qua các video, livestream hoặc tài khoản mạng xã hội được dựng lên rất chuyên nghiệp. Bằng công nghệ deepfake và tổng hợp giọng nói, kẻ xấu có thể tạo ra hình ảnh và giọng nói giống hệt các vị tu hành, thậm chí là những người có uy tín trong cộng đồng. Nội dung được truyền tải thường là các bài giảng đạo, lời khuyên về nhân quả, nghiệp báo, nhưng thực chất lại bị bóp méo hoặc hoàn toàn bịa đặt. Từ đó, họ khéo léo dẫn dắt người xem đến việc “cúng dường online”, mua các vật phẩm tâm linh hoặc chuyển tiền để “giải hạn”, “tích phước”.
Nguy hiểm hơn, các nội dung này thường đánh vào tâm lý bất an, lo sợ của con người. Khi gặp khó khăn trong cuộc sống, nhiều người có xu hướng tìm đến chỗ dựa tinh thần. Lợi dụng điều này, kẻ lừa đảo sử dụng những lời lẽ mang tính hù dọa như “nếu không cúng sẽ gặp tai họa”, “nghiệp nặng cần giải gấp” … khiến người xem dễ rơi vào trạng thái hoang mang và mất cảnh giác. Đặc biệt người có niềm tin tâm linh mạnh, người lớn tuổi có tâm lý “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” hoặc những người ít tiếp xúc với công nghệ thông tin mới là nhóm dễ trở thành nạn nhân nhất
Hiện tượng này không chỉ gây thiệt hại về tài chính mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin tôn giáo và giá trị đạo đức xã hội. Khi những hình ảnh tu hành bị giả mạo và lợi dụng, người dân có thể dần mất niềm tin vào các tổ chức tôn giáo chân chính. Đồng thời, điều này cũng làm méo mó nhận thức về giáo lý, khiến nhiều người hiểu sai về bản chất của việc tu tập và hành thiện.
Để phòng tránh, mỗi người cần nâng cao ý thức cảnh giác khi tiếp cận các nội dung liên quan đến tâm linh trên mạng. Không nên vội vàng tin vào những lời kêu gọi chuyển tiền hoặc mua bán vật phẩm không rõ nguồn gốc. Việc kiểm chứng thông tin từ các kênh chính thức, hỏi ý kiến người có hiểu biết hoặc trực tiếp đến các cơ sở tôn giáo uy tín là điều cần thiết. Bên cạnh đó, gia đình và xã hội cũng cần quan tâm, hướng dẫn người lớn tuổi nhận diện các dấu hiệu lừa đảo công nghệ.
Về phía cơ quan chức năng, cần có những biện pháp quản lý chặt chẽ hơn đối với nội dung trên nền tảng số, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng công nghệ để trục lợi. Các nền tảng mạng xã hội cũng cần nâng cao trách nhiệm trong việc kiểm duyệt và ngăn chặn nội dung giả mạo, gây hại đến cộng đồng.
AI tự thân không xấu, vấn đề nằm ở cách con người sử dụng nó. Khi công nghệ bị đặt sai mục đích, hậu quả không chỉ dừng lại ở vật chất mà còn làm tổn thương những giá trị tinh thần sâu sắc. Do đó, việc nâng cao nhận thức, giữ vững sự tỉnh táo và hiểu đúng về niềm tin tâm linh chính là “lá chắn” quan trọng nhất để mỗi người tự bảo vệ mình trong thời đại số.
Nói tóm lại hiện tượng AI giả nhà sư để trục lợi là lời nhắc nhở rằng công nghệ, dù mạnh mẽ đến đâu, vẫn cần được sử dụng có đạo đức. Khi niềm tin tôn giáo bị lợi dụng, hậu quả không chỉ là mất tiền mà còn là sự xói mòn giá trị tinh thần của cả cộng đồng.
Mỗi người cần tỉnh giác, mỗi tổ chức cần lên tiếng, và mỗi nền tảng cần có trách nhiệm để xây dựng một môi trường số lành mạnh, nơi công nghệ phục vụ con người – chứ không phải lừa dối họ.
Mạng xã hội là ảo, nhưng nghiệp quả và hậu quả là thật. Việc lợi dụng hình ảnh tu hành để lừa đảo là hành vi tổn phước nghiêm trọng. Mong quý Phật tử và cộng đồng mạng hãy luôn giữ vững tâm thế bình tĩnh, dùng trí tuệ để soi sáng, không để những hình ảnh lung linh do máy tạo ra làm lu mờ sự minh mẫn.
Hãy cùng chia sẻ bài viết này để bảo vệ cộng đồng và gìn giữ sự thanh tịnh cho chốn thiền môn!
BBT TVHS
2.
Lời Người Dịch: Bài này dịch theo bản tin có tựa đề "Millions Found Comfort in a Buddhist Monk. But He Was Never Real. What many failed to notice, is that he isn’t actually real" (Hàng triệu người tìm thấy sự an ủi nơi một vị sư Phật giáo. Nhưng vị sư này chưa bao giờ là người thật. Điều mà nhiều người đã không nhận ra, chính là sự kiện vị sư đó không hề có thật) trên trang báo The Good Men Project, đăng lại từ bài viết của Hikari Mae Hida trên thông tấn Columbia News Service. Bản dịch như sau:
Hàng triệu người tìm thấy sự an ủi nơi một vị sư Phật giáo. Nhưng vị sư này chưa bao giờ là người thật. Điều mà nhiều người đã không nhận ra, chính là sự kiện vị sư đó không hề có thật.
Ngày 10 tháng 4 năm 2026 - Hãng tin Columbia News Service
Tác giả: Hikari Mae Hida
Yang Mun—một vị sư Phật giáo gốc Đông Á với đôi mắt hiền từ—ngồi xếp bằng trên sàn một ngôi chùa và hướng lời nói vào ống kính máy quay trong một đoạn video ngắn (Reel) dài 90 giây, được đăng lên mạng xã hội Instagram vào giữa tháng 1/2026 vừa qua.
"Các bạn đã trải qua những khoảnh khắc lẽ ra có thể khiến tâm hồn trở nên chai sạn; thế nhưng, trái tim các bạn vẫn rộng mở—và đó không phải là sự yếu đuối, mà chính là lòng dũng cảm," ông nói, trong bộ y phục màu vàng nghệ và giữa ánh nến lung linh huyền ảo, nhằm trấn an 2,5 triệu tín đồ đang theo dõi mình. "Các bạn không hề yếu đuối khi mang những cảm xúc này, và cũng không hề 'tan vỡ' chỉ vì đang phải chịu đựng nỗi đau; đó chính là bản chất của thân phận làm người," ông nói thêm.
Trong phần bình luận bên dưới đoạn video, hàng trăm biểu tượng trái tim, biểu tượng chắp tay cầu nguyện cùng những lời thỉnh cầu xin được chỉ dẫn đã ùa tới tấp nập; người dùng thi nhau gửi lời cảm ơn Yang Mun vì đã "giáo huấn" họ và giúp họ "cảm thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều." Những đoạn video ngắn của ông thu hút hàng triệu lượt xem từ các tín đồ trên khắp thế giới—những người đang tìm kiếm sự an ủi về mặt tinh thần mỗi ngày từ một vị sư Phật giáo.
Điều mà nhiều người đã không nhận ra, chính là sự kiện: nhà sư này thực chất không hề có thật trên đời này.
Yang Mun—một vị sư được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo (AI)—đang đóng gói và cung cấp những lời an ủi mang màu sắc "Phật giáo" tới đông đảo công chúng, qua đó làm mờ ranh giới giữa trí tuệ tôn giáo đích thực và một công cụ kiếm tiền đơn thuần. Trong vài năm trở lại đây, số lượng các nhân vật có sức ảnh hưởng (influencer) trong lĩnh vực tôn giáo được tạo ra bởi AI đang có xu hướng gia tăng—trong đó phải kể đến Phra Maha AI, một vị sư Phật giáo ảo được tạo ra tại Thái Lan nhằm mục đích giảng dạy Phật pháp trên các nền tảng mạng xã hội. Các học giả nghiên cứu về truyền thông và tôn giáo cho rằng sự xuất hiện của những nhân vật này đang làm dấy lên nhiều mối lo ngại nghiêm trọng về mặt đạo đức—chẳng hạn như hành vi mạo nhận quyền uy tâm linh, sự thương mại hóa các truyền thống thiêng liêng, hay việc áp đặt những yếu tố thẩm mỹ mang tính "kỳ lạ hóa" (exoticized) nhằm thỏa mãn các định kiến phương Tây về phương Đông (Orientalism). Tuy nhiên, thực tế cho thấy các tín đồ vẫn đang hưởng ứng nhiệt liệt những nội dung này, bởi chúng đáp ứng được một nhu cầu có thật nhưng bấy lâu nay vẫn bị bỏ ngỏ: nhu cầu được nhận những lời chỉ dẫn đầy thấu cảm và không hề mang tính phán xét.
Maria Wickersham—hiện đang sinh sống tại Seattle—chia sẻ rằng đối với cô, những đoạn video ngắn kể trên tựa như những "kho báu" nhỏ chứa đựng đầy ắp trí tuệ tâm linh. Cô lớn lên trong một gia đình theo đạo Công giáo La Mã và đã phải vật lộn với chứng "bám víu lo âu" (anxious attachment) kể từ thuở ấu thơ. Vào ngày đầu tiên nhập học chương trình hậu cử nhân năm 2019, trong lúc đang vội vã, Wickersham đã hấp tấp mở tung nắp cốp xe hơi của mình; cú mở mạnh tay ấy đã khiến chiếc nắp cốp đập thẳng vào vùng trán của cô. Cú va chạm mạnh đến mức tác động trực tiếp vào vỏ não trước trán của cô, gây ra tổn thương não vĩnh viễn. Cô bắt đầu gặp phải những cơn hoảng loạn, và chứng lo âu của cô ngày càng trở nặng.
Một ngày nọ, một người bạn gốc Việt đã giới thiệu cô với một vị sư Phật giáo – người đang hướng dẫn một khóa thiền trị liệu chứng lo âu kéo dài 30 ngày trên ứng dụng Headspace. "Nó đã giúp tôi tái lập lại cấu trúc não bộ của mình," Wickersham, 38 tuổi, chia sẻ. "Khi nhận thấy sự thay đổi rõ rệt trong cách tôi tiếp cận cuộc sống cũng như thái độ đối với việc kiểm soát chứng lo âu, tôi đã khao khát được tìm hiểu sâu hơn về cội rễ của triết lý Phật giáo."
Trong lúc lướt xem bảng tin trên Instagram, cô ngay lập tức nhận ra rằng các video ngắn (Reels) của Yang Mun chính là hiện thân của ngôn ngữ chánh niệm mà cô bấy lâu vẫn nỗ lực thực hành. Cô đã để lại bình luận dưới một video nói về cách phớt lờ những áp lực từ bên ngoài: "Cảm giác cứ như thể bạn đã nói hộ chính những suy nghĩ đang hiện hữu trong đầu tôi vậy."
Yang Mun hiện đã thu hút được 2,5 triệu người theo dõi trên trang Instagram cá nhân – trong đó bao gồm cả những người nổi tiếng và các nhà hoạt động xã hội – cùng với lượng người theo dõi đông đảo trên nhiều nền tảng và tài khoản mạng xã hội khác. Những lời giảng dạy của ông được quảng bá là sự "kết hợp giữa trí tuệ phương Đông cổ xưa và các phương pháp thực hành hiện đại, đơn giản"; ông thường hướng người xem đến một "hành trình chữa lành kéo dài 30 ngày" có người hướng dẫn với mức phí 49,99 USD, cũng như các ấn phẩm sách điện tử và các gói đăng ký dịch vụ.
Việc dán nhãn thông tin trên các nội dung này diễn ra khá thiếu nhất quán: một số video có hiển thị "thẻ thông tin AI" (“AI info tags”), nhưng trang web chính thức của ông lại khẳng định chắc nịch rằng "Yang Mun là một người thật". Trong một video, ông đã kể chi tiết về câu chuyện xuất thân của mình: ông sinh năm 1939 tại một ngôi làng nhỏ ở Trung Quốc, và đã di cư sang Kansas (Hoa Kỳ) cùng gia đình khi mới 8 tuổi, vào thời điểm cuộc Nội chiến Trung Quốc đang diễn ra ác liệt. Theo chính sách về AI của Meta, thẻ thông tin AI chỉ xuất hiện khi người dùng tự chủ động khai báo hoặc khi hệ thống của Meta phát hiện dấu hiệu sử dụng công nghệ này; chính điều đó đã dẫn đến tình trạng dán nhãn thiếu đồng bộ (cần lưu ý rằng Meta là công ty chủ quản của mạng xã hội Instagram).
Các video thường kết thúc bằng lời kêu gọi của Yang Mun, khuyến khích người xem để lại bình luận và tương tác, hoặc lời nhắn nhủ hãy tìm mua sách của ông để tìm hiểu thêm thông tin. Đáng chú ý là tài khoản duy nhất mà Yang Mun theo dõi chính là trang chính thức của chiến dịch "Walk for Peace" (Bước đi vì Hòa bình) – nơi ghi lại hành trình đi bộ kéo dài 4 tháng, băng qua quãng đường dài 2.300 dặm của một nhóm các nhà sư trong đời thực, bắt đầu từ Texas và kết thúc tại thủ đô Washington, D.C. vào tháng 2/2026 vừa qua. Phần bình luận dưới các video của ông cho thấy rất nhiều người theo dõi dường như hoàn toàn không hay biết rằng nhân vật Yang Mun thực chất chỉ là một sản phẩm được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo (AI).
Nhiều chuyên gia đã lên tiếng chỉ trích hiện tượng Yang Mun, đồng thời bày tỏ những mối quan ngại nghiêm trọng về mặt đạo đức liên quan đến vấn đề này. “Mối bận tâm hàng đầu của tôi là việc này hoàn toàn là một sự dối trá,” Ni trưởng Tiến sĩ Juewei—Giám đốc Trung tâm Phật giáo Nhân bản (Humanistic Buddhism Centre) tại Học viện Nan Tien Institute ở Unanderra (Australia)—chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn. “Và sự dối trá này đang lợi dụng nhu cầu tìm kiếm sự giản dị và bình an của con người.”
Các học giả khác cho rằng vấn đề này còn có chiều sâu hơn thế.
Ryan Stagg, đồng sáng lập Sáng kiến Phật giáo & AI (Buddhism & AI Initiative), nhận định rằng Yang Mun đang “lợi dụng những hình dung rập khuôn của phương Tây về sự siêu việt,” thông qua việc khắc họa hình ảnh một người đàn ông châu Á đầu trọc, sống ẩn dật giữa chốn núi non mờ ảo, bao quanh bởi những pho tượng Phật dát vàng.
Việc mạo nhận hình dáng của một tu sĩ là điều "hoàn toàn không phù hợp", Ni trưởng Juewei nhận định thêm. "Mọi người đặt niềm tin vào một tu sĩ Phật giáo."
"Những người như chúng tôi—những tu sĩ thực thụ—không kiếm tiền theo kiểu đó, bởi đó không phải là mục đích của việc tu hành," Ni trưởng Juewei chia sẻ. "Phật pháp không phải để đem ra thương mại hóa; Phật pháp là để thực hành," Sư bà nói thêm, khi đề cập đến những lời dạy của Đức Phật.
Theo ba chuyên gia được phỏng vấn cho bài viết này—những người cũng đã xem qua các video của Yang Mun—nhân vật này chỉ nói những lời sáo rỗng chung chung về chủ đề sức khỏe tinh thần, chứ không hề dựa trên bất kỳ kinh điển Phật giáo nào.
Ẩn sau tấm màn mạng xã hội không phải là một vị sư già người Trung Quốc, mà lại là một chuyên gia tiếp thị người Israel.
Dựa trên trang LinkedIn và các bài đăng công khai của mình, Shalev Hani—người tạo ra nhân vật Yang Mun—tự nhận mình là một "Nhà sáng tạo nội dung số & Người kể chuyện bằng AI", hiện đang sinh sống và làm việc tại Israel. Hani tuyên bố rằng ông đã kiếm được hơn 300.000 đô la kể từ khi ra mắt Yang Mun vào tháng 10 năm ngoái, và gần đây ông đã từ chối một lời đề nghị mua lại dự án trị giá 325.000 đô la. Thay vào đó, ông đưa ra mức phí 799 đô la mỗi giờ cho một gói hướng dẫn người khác cách xây dựng các nhân vật AI của riêng họ—những nhân vật có khả năng "in ra tiền"—trong đó bao gồm cả các nhân vật AI mô phỏng giáo sĩ Do Thái (Rabbi).
Khi bị một người dùng trên mạng xã hội X (trước đây là Twitter) cáo buộc là "lừa dối", Hani đã đáp lại: "Chúng tôi không đưa ra những lời hứa hão, những tuyên bố hoang đường, hay thao túng cảm xúc của mọi người như cách mà nhiều trang AI khác vẫn làm."
Khi được liên hệ để phỏng vấn, Hani cho biết một cuộc gọi kéo dài một giờ với ông sẽ có giá 700 đô la. Hãng tin Columbia News Service đã giải thích rõ rằng yêu cầu này nhằm mục đích phỏng vấn cho một bài báo phóng sự về công ty của ông, chứ không phải là một buổi tư vấn chuyên môn; trước lời giải thích đó, ông chỉ trả lời ngắn gọn: "Tôi không hứng thú, xin lỗi."
Tuy nhiên, việc vị sư AI này thu hút được sự chú ý lớn đến vậy "cho thấy một nhu cầu thực sự đang hiện hữu," theo lời ông Peter Hershock—một nghiên cứu viên cao cấp kiêm nhiệm tại Trung tâm Đông-Tây (East-West Center) ở Honolulu, Hawaii—nhận định. "Giới trẻ đang tìm kiếm cảm giác về một mối quan hệ gắn kết thân mật, cùng những lời khuyên và sự tư vấn mang tính bảo mật và không hề phán xét," và nhu cầu này không nên bị xem nhẹ, ông nói thêm.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tôn giáo và trí tuệ nhân tạo không thể cùng tồn tại. Thực tế đã xuất hiện ngày càng nhiều sáng kiến sử dụng các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM: large language models) nhằm hỗ trợ việc gìn giữ hoặc làm phong phú thêm các giá trị tôn giáo, thay vì mạo nhận hay giả danh tôn giáo. Tại tổ chức phi lợi nhuận 84000, một đội ngũ toàn cầu bao gồm các học giả, dịch giả và tu sĩ đang sử dụng AI để hỗ trợ dịch thuật hơn 230.000 trang thuộc Đại tạng kinh Phật giáo Tây Tạng sang các ngôn ngữ hiện đại. Mục tiêu của dự án là bảo tồn các giáo lý Phật giáo và giúp những văn bản cổ xưa trở nên dễ tiếp cận hơn đối với công chúng. Tại Nhật Bản, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Kyoto đã sáng tạo ra “Buddharoid” — một robot-tu sĩ ứng dụng AI, được thiết kế để đưa ra những lời khuyên dựa trên các kinh điển Phật giáo. Quan trọng nhất là trong cả hai trường hợp này, người tiếp cận đều biết rõ ngay từ đầu rằng họ đang tương tác với một cỗ máy, chứ không phải là một nhân sự thay thế cho giới tu sĩ.
Ngược lại, trường hợp của Yang Mun “mang lại cảm giác như một sự phản bội; bởi lẽ khi bạn đang tìm kiếm một chốn nương tựa để trốn tránh thực tại, bạn lại bị đánh lừa khi nhận ra đó không phải là thực tại — cảm giác ấy thật sự rất thiếu an toàn,” theo lời Wickersham — một chuyên gia trị liệu đến từ Seattle — chia sẻ.
“Tôi biết tin tưởng vào ai đây? Tôi biết tìm đến ai để nương tựa? Tôi biết phải đi về đâu? Điều này bắt đầu khiến tôi phải tự đặt câu hỏi liệu mình có thể tin tưởng vào bất cứ điều gì nữa hay không.”
(Bài viết tiếng Anh nguyên thủy đã đăng trên trang columbianewsservice, được trang The Good Men Project đăng lại theo Giấy phép Creative Commons.)
PHOTO:
Trang Instagram của Yang Mun hiện có hơn 2,5 triệu người theo dõi. (Nguồn hình: Tài khoản Instagram @yangmunus)
.
NGUỒN: https://goodmenproject.com/featured-content/millions-found-comfort-in-a-buddhist-monk-but-he-was-never-real/
Related:
https://www.youtube.com/watch?v=f4Q2OHNPnS0
A Human-centered Framework for AI Ethics
Sunday, April 19, 2026
Cứu Nguy Nguồn Nước và Môi Sinh Đồng Bằng Sông Cửu Long
Gia tộc chú Hỏa góp công lớn tạo nền móng đô thị Sài Gòn
https://nguoidothi.net.vn/gia-toc-chu-hoa-gop-cong-lon-tao-nen-mong-do-thi-sai-gon-52162.html
Gia tộc chú Hỏa góp công lớn tạo nền móng đô thị Sài Gòn
09:49 | Thứ bảy, 18/04/2026
Những công trình phúc lợi công cộng, những dãy nhà phố do gia tộc Hui Bon Hoa xây dựng từ năm 1908 đến 1950 nay vẫn còn, góp phần phục vụ lợi ích cộng đồng, tạo nên bộ mặt của Sài Gòn - TP.HCM.
Hui Bon Hoa hay “chú Hỏa” có tên chính xác là Huỳnh Văn Hoa (1845 - 1901) còn có tên khác là Huỳnh Tú Vinh, hiệu Tình Nham, gốc ở thôn Văn Táo, trấn Hòa Sơn, huyện Hạ Môn (Phúc Kiến - Trung Quốc). Năm 20 tuổi (1865), ông Huỳnh Văn Hoa đã đến Sài Gòn tay trắng lập nghiệp.
Người ta thường kể rằng chú Hỏa đến Sài Gòn lập nghiệp với một gánh ve chai trên vai, nhưng dần dần ông đã tạo dựng nên sự nghiệp lừng lẫy khiến người đời sau luôn nhắc nhở.
Tuy nhiên các bài viết về “chú Hỏa” theo lời kể của những người thuộc dòng dõi Hui Bon Hoa cho biết rằng trong những ngày bươn chải ở Sài Gòn, Huỳnh Văn Hoa đã có một bạn tốt người Pháp tên là Antoine Ogliastro. Năm 1887, ông này đã khuyên Huỳnh Văn Hoa nhập Pháp tịch, lấy tên Jean Baptiste Hui Bon Hoa, để thuận tiện và được ưu đãi trong kinh doanh.
Chú Hỏa kinh doanh cầm đồ
Không ai biết đích xác Huỳnh Văn Hoa và Antoine Ogliastro đã kết giao với nhau trong trường hợp nào, thời gian nào, chỉ biết từ năm 1887, Huỳnh Văn Hoa đã là người quản lý toàn bộ ngành kinh doanh cầm đồ của Antoine Ogliastro ở xứ Nam kỳ. Bên cạnh đó, Huỳnh Văn Hoa còn mở thêm hơn mười tiệm cầm đồ do chính ông làm chủ. Những năm tiếp theo hai người luôn hùn hạp trong mọi cuộc làm ăn, cùng sánh vai nhau xây dựng sự nghiệp.
Năm 1896, Huỳnh Văn Hoa thành lập Công ty bất động sản Gia đình Hui Bon Hoa, đưa hai con trai là Huỳnh Trọng Huấn và Huỳnh Trọng Tán từ Trung Quốc sang Việt Nam phụ giúp. Đến năm 1900, các cửa tiệm cầm đồ của Antoine Ogliastro đều được Huỳnh Văn Hoa hùn vốn, công ty của Antoine Ogliastro cũng đổi tên thành Công ty hợp doanh Ogliastro - Hui Bon Hoa et Cie.
Ông Huỳnh Văn Hoa (chú Hỏa) lúc sinh thời. Ảnh: tư liệu
________________________________________
Năm 1901, Huỳnh Văn Hoa giao sự nghiệp ở Nam kỳ lại cho các con, về Trung Quốc thăm quê thì bị bệnh và qua đời, được an táng ở Tuyền Châu (Phúc Kiến), hưởng dương 56 tuổi. Ngay trong năm 1901, Huỳnh Trọng Huấn lập Công ty Huynh đệ Hui Bon Hoa (La Société Hui Bon Hoa et frères).
Đến năm 1908, ông Antoine Ogliastro qua đời, hai con là Lucien Ogliastro và Louis Ogliastro tiếp tục hợp tác với các con của Huỳnh Văn Hoa. Năm 1910, ông Huỳnh Trọng Huấn lập Công ty địa ốc Huỳnh Vinh Viễn Đường. Năm 1912, Lucien Ogliastro mất. Mãi đến năm 1951 Louis Ogliastro mới tuyên bố giải thể, rút vốn và rời khỏi thị trường Đông Dương. Từ đây, gia tộc Hui Bon Hoa mới hoàn toàn kinh doanh độc quyền tiệm cầm đồ ở Việt Nam với quá trình kinh nghiệm dày dạn hơn nửa thế kỷ (1896 - 1951).
Cùng các con kinh doanh nhà đất
Nhiều tài liệu về chú Hỏa cho biết vào những năm 1870, người bạn Pháp của ông là Antoine Ogliastro bị thua lỗ trong kinh doanh và gặp khó khăn về tài chính, đứng trên bờ vực phá sản. Nhiều đối tác kinh doanh không muốn cho Antoine Ogliastro vay tiền vì sợ mất vận, nhưng ông Huỳnh Văn Hoa đã hỗ trợ tài chính giúp Antoine Ogliastro vượt qua khủng hoảng.
Sau đó khi trở về Pháp, lúc tuổi già, ông Antoine Ogliastro đã kể lại câu chuyện cho con trai, lúc đó là một kỹ sư, và dặn dò con tìm cách trả ơn ông Huỳnh Văn Hoa. Con trai ông Antoine Ogliastro làm việc tại một công trình xây dựng ở Việt Nam, biết rằng vùng đất hoang rộng lớn sình lầy, diện tích gần 10 ha ở gần khu trung tâm thành phố Sài Gòn, dự kiến sẽ xây dựng đường sắt, nhà ga và trung tâm thương mại trong tương lai.
Vị kỹ sư đã bí mật báo cho ông Huỳnh Văn Hoa và khuyên nên mua ngay khu đất đó. Huỳnh Văn Hoa nghe theo và mua đất với giá rẻ như cho không! Khu vực này người Phúc Kiến gọi là “Hậu Phương Lan”, còn người Quảng Đông gọi là “Cựu Ông Lãnh” hoặc “Cựu Ngũ Luân”, người Việt đọc thành “Cầu Ông Lãnh”! Cũng thời gian này, Huỳnh Văn Hoa còn mua được nhiều lô đất ở đầm Boresse (người Việt gọi là Bồ Rệt) do chính phủ Pháp bán với điều kiện phải xây nhà ở theo kiểu Âu tại đây (Nguyễn Đức Hiệp, 2019).
Sau khi Huỳnh Văn Hoa qua đời năm 1901, ba người con trai nối nghiệp ông là Huỳnh Trọng Huấn (1876 - 1951), Huỳnh Trọng Tán (1877 - 1934) và Huỳnh Trọng Bình (1892 - 1976). Họ lập ra Công ty Hui Bon Hoa frères, mua thêm nhiều lô đất chung quanh đầm Boresse. Năm 1910, công ty này tiếp tục mua thêm các lô đất công trên đại lộ Boulevard de l’Abattoir (đường Nguyễn Thái Học ngày nay) với giá 1$/1 mét vuông!
Ba người con trai của Huỳnh Văn Hoa (chú Hỏa): Huỳnh Trọng Huấn (ngồi giữa, con thứ hai), Huỳnh Trọng Tán (bên trái), Huỳnh Trọng Bình (bên phải). Ảnh: tư liệu
________________________________________
Chẳng bao lâu, đúng như lời anh kỹ sư người Pháp dự đoán, tuyến đường sắt Sài Gòn - Chợ Lớn được chính quyền Pháp xây dựng năm 1881 đi qua khu vực “Hậu Phương Lan” - “Cầu Ông Lãnh” khiến giá đất tăng vọt. Các con của Huỳnh Văn Hoa nhận được một khoản tiền bồi thường lớn từ việc chính quyền Pháp thu hồi đất. Từ đó khu đất “Hậu Phương Lan”, nghĩa là “vùng đất thơm phức mùi hoa lan” được xem là nơi phát tích của Huỳnh Văn Hoa. Khu đất này nằm giữa khuôn viên các đường: Colonel Boudonnet (nay là đường Lê Lai), Pellerin (Pasteur), Dixmude (Đề Thám) và Belgique (trước là Bến Chương Dương, nay là Võ Văn Kiệt) thuộc phường Bến Thành.
Không bỏ lỡ cơ hội, Huỳnh Văn Hoa và các con đã mua thêm nhiều khu đất hoang ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và các thành phố lớn khác để bán lại với giá cao hơn hoặc xây hàng ngàn căn nhà để bán và cho thuê chung quanh khu vực phát triển thành trung tâm thương mại. Từ đó tài sản của gia tộc Huỳnh Văn Hoa tăng lên đáng kể. Để công việc làm ăn thuận lợi, phát đạt hơn, Huỳnh Trọng Huấn đã lập Công ty địa ốc Huỳnh Vinh Viễn Đường năm 1910.
Riêng chợ Bến Thành khởi công năm 1912 tại khu vực ao Bồ Rệt (Marais Boresse). Mặt tiền chợ là bùng binh Cuniac - tên đặt theo viên thị trưởng thành phố Sài Gòn đã đề ra công việc lấp ao. Bên cạnh việc xây dựng những tòa nhà ở kiểu Pháp chung quanh chợ Bến Thành, Công ty địa ốc Huỳnh Vinh Viễn Đường cũng đã góp vốn để xây dựng chợ Bến Thành (Nguyễn Trọng Minh, 2019).
Dãy nhà trên đường Phan Chu Trinh bên cửa Tây chợ Bến Thành, trước đây là dãy phố chú Hỏa.
________________________________________
Năm 1918, Đệ nhất Thế chiến kết thúc, kinh tế suy thoái khiến giá đất giảm mạnh, Huỳnh Trọng Tán đã mua những khu đất rộng lớn ở Sài Gòn và Chợ Lớn với giá thấp, xây dựng hơn 30.000 căn nhà (khoảng một nửa số nhà ở Sài Gòn và Chợ Lớn thời bấy giờ) để bán và cho thuê để ở hoặc kinh doanh, đặt nền móng cho sự phát triển của thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn.
Đào Trinh Nhất trong sách Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ (xuất bản năm 1924), viết: “Trong bọn Hoa kiều bây giờ, duy chỉ có Hoàng Trọng Tán (tức Huỳnh Trọng Tán) là giàu nhất, tư bản có đến 3.000 vạn, trong Nam kỳ đã suy tôn lên làm ông vua tiền bạc hay là ông vua nhà cửa, vì Hoàng (Huỳnh) có nhiều nhà cửa đất cát lắm”.
Năm 1925, ba anh em Huỳnh Trọng Huấn, Huỳnh Trọng Tán và Huỳnh Trọng Bình quyết định thành lập Công ty bất động sản Huynh đệ Hui Bon Hoa chuyên kinh doanh địa ốc, cất nhà cho thuê, xây dựng nhà xưởng, các tòa nhà thương mại và quản lý gần 30.000 căn nhà phố nằm dọc mặt tiền các con đường khắp Sài Gòn - Chợ Lớn.
Sau khi hai người anh mất, Huỳnh Trọng Bình kế tục danh hiệu “chú Hỏa” Hui Bon Hoa, cùng người cháu trai tên là Huỳnh Khánh Phong (con trai của Huỳnh Trọng Huấn) quản lý công việc kinh doanh của Công ty địa ốc Huỳnh Vinh Viễn Đường, mở rộng từ Việt Nam sang Pháp, Anh, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Mỹ...
Phả hệ chú Hỏa (Huỳnh Văn Hoa và vợ) cùng con trai, cháu nội trai:1A - Huỳnh Văn Hoa (chú Hỏa); 1B - Trịnh Thị (vợ Huỳnh Văn Hoa); 2A - Huỳnh Trọng Mô; 2B - Huỳnh Trọng Huấn; 2C - Huỳnh Trọng Tán; 2D - Huỳnh Trọng Bình; 3A - Huỳnh Khánh Sơ; 3B - Huỳnh Khánh Tường; 3C - Huỳnh Khánh Nam; 3D- Huỳnh Khánh Dung; 3E - Huỳnh Khánh Đồng; 3F - Huỳnh Khánh Mi; 3G - Huỳnh Khánh Sam; 3H - Huỳnh Khánh Tung; 3I - Huỳnh Khánh Lâm; 3J - Huỳnh Khánh Phong; 3K - Huỳnh Khánh Tiêu; 3L - Huỳnh Khánh Mai;3M - Huỳnh Khánh Nguyên; 3N - Huỳnh Khánh Du
________________________________________
Giai đoạn Đệ nhị Thế chiến (1939 - 1945), các thành viên thuộc thế hệ thứ ba của gia tộc Hui Bon Hoa, có tên lót là chữ “Khánh” đã bắt đầu nhập cuộc kinh doanh. Năm 1943, danh sách hội đồng quản trị của Công ty địa ốc Hui Bon Hoa, ngoài Huỳnh Trọng Huấn, Huỳnh Trọng Bình, còn có thêm Huỳnh Khánh Nam (con trai của Huỳnh Trọng Huấn), Huỳnh Khánh Sam (con trưởng của Huỳnh Trọng Tán), Huỳnh Khánh Tung (con thứ của Huỳnh Trọng Tán), Huỳnh Khánh Phong (con trai thứ ba của Huỳnh Trọng Tán).
Công việc kinh doanh của gia tộc Hui Bon Hoa lúc này phát triển sang lãnh vực khai thác đồn điền cao su ở các tỉnh miền Đông và mở nhà máy chà gạo ở các tỉnh miền Tây. Họ xây dựng các biệt thự nghỉ mát ở Đà Lạt, biệt thự tránh nóng ở Vũng Tàu và một khu phần mộ rộng lớn ở Dĩ An cũng được hình thành để các trưởng bối lui về yên nghỉ ngàn thu ở xứ Nam kỳ cây lành trái ngọt.
Từ năm 1955, Công ty địa ốc Hui Bon Hoa được Huỳnh Trọng Bình chuyển trụ sở chính qua Paris (Pháp) nhằm tránh chính sách buộc Hoa kiều nhập Việt tịch của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Tuy vậy sản nghiệp chính của họ vẫn là ở miền Nam Việt Nam.
Giữa năm 1974, Huỳnh Trọng Bình và Huỳnh Khánh Phong đã rời Sài Gòn ra nước ngoài. Huỳnh Trọng Bình sau đó đã qua đời tại Đài Bắc (Đài Loan, Trung Quốc) vào tháng 11.1976 ở tuổi 84. Ở Sài Gòn, Huỳnh Khánh Mai cho ngưng mọi hoạt động của Công ty địa ốc Hui Bon Hoa, phần lớn người trong gia tộc được thu xếp di chuyển đến các chi nhánh của công ty này ở nước ngoài.
Ngày 30.4.1975, khu dinh thự Huỳnh Vinh Viễn Đường của gia tộc Hui Bon Hoa ở đường Phó Đức Chính được trưng dụng làm tổng hành dinh Bộ tư lệnh Quân khu 7. Hơn 3 tháng sau đó, Huỳnh Khánh Mai và toàn thể gia tộc Hui Bon Hoa ra sân bay rời Việt Nam.
Lấy việc thiện làm gốc của kinh doanh
Triết lý kinh doanh của nhà Hui Bon Hoa là lợi nhuận thu được từ cộng đồng phải được dùng để phục vụ trở lại cho cộng đồng, nâng cao phúc lợi xã hội. Chú Hỏa được mọi tầng lớp dân chúng ở khắp miền Nam nhớ đến không phải vì tài sản kếch sù mà vì gia tộc Hui Bon Hoa là những nhà từ thiện lớn nhất trong lịch sử Sài Gòn. Nối tiếp con đường làm ăn chuyên cần, đức độ của cha ông, thế hệ con cháu dòng họ Hui Bon Hoa đã làm được nhiều việc vì cộng đồng.
Hào Sĩ Phường ở 206 Trần Hưng Đạo (quận 5 cũ).
________________________________________
Trước hết, từ lúc Huỳnh Văn Hoa khởi nghiệp cho đến những ngày cuối cùng ở Việt Nam, gia tộc Hui Bon Hoa nối tiếp nhau tổ chức nuôi cơm những người vô gia cư và xây dựng nhiều công trình công cộng để tỏ lòng nhớ ơn nơi đã giúp mình tạo dựng sự nghiệp. Kế đến là công ty gia tộc Hui Bon Hoa đã xây dựng hơn 30.000 căn nhà liền kề nhau, xây dựng theo phong cách Art Nouveau và Art Deco pha chút Á Đông, rất đặc trưng kiểu “chú Hỏa”, chiếm khoảng một nửa số nhà ở Sài Gòn và Chợ Lớn những năm 1914 - 1918, cho người dân địa phương thuê để ở hoặc kinh doanh với giá rẻ, đặt nền móng cho sự phát triển của thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn.
Năm 1908, gia tộc Hui Bon Hoa đã cùng Tja Ma Yeng (Tạ Mã Điền, bang trưởng bang Phúc Kiến ở Việt Nam) xây Trường trung học Pháp Hoa ở Chợ Lớn, nay là Trường Đại Học Sài Gòn ở 273 An Dương Vương, phường Chợ Quán (quận 5 cũ). Năm 1909, Huỳnh Trọng Tán dựng Phước Thiện y viện (hay Bệnh viện Phúc Sơn, nay là Bệnh viện Nguyễn Trãi, 314 Nguyễn Trãi, phường An Đông). Từ năm 1925 đến năm 1929, gia tộc Hui Bon Hoa xây dựng khu vực văn phòng của Công ty bất động sản Huỳnh Vinh Viễn Đường, thường gọi là “nhà chú Hỏa” với tổng diện tích 3.514m2, do kiến trúc sư Pháp Rivera thiết kế hòa hợp Á - Âu, với mặt tiền là đường d’Alsace Lorraine (nay là Phó Đức Chính, đây là cổng chính tòa nhà mang số 97); bên trái là đường Hamelin (đổi thành đường Hồ Văn Ngà, nay là Lê Thị Hồng Gấm); bên phải là đường d’Ayot (đổi thành Nguyễn Văn Sâm, nay là Nguyễn Thái Bình) và sau lưng là đường Bourdais (Calmette). Khu vực văn phòng này hiện nay còn 3 tòa nhà dùng làm Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM; có một tòa nhà hiện còn chiếc thang máy đầu tiên của Sài Gòn (bằng gỗ), nay vẫn còn vận hành được.
Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM thường gọi là “nhà chú Hỏa”.
________________________________________
Đối diện “nhà chú Hỏa” là nhà 66 Phó Đức Chính. Đây vốn là tiệm cầm đồ đầu tiên của Huỳnh Văn Hoa, được gia tộc Hui Bon Hoa giữ gìn để nhớ thời khởi nghiệp. Sau ngày 30.4.1975 nhà này nhiều lần sang tên đổi chủ, hiện là cao ốc văn phòng Sacomreal - Generalimex.
Năm 1925, gia tộc Hui Bon Hoa xây dựng khách sạn Majestic 6 tầng và hơn 500 phòng trên đường Liberty (nay là số 1 Đồng Khởi, phường Sài Gòn), đã được quốc hữu hóa sau năm 1975, hiện vẫn hoạt động.
Năm 1925, Huỳnh Trọng Huấn, Huỳnh Trọng Tán và Hồng Đường Vân xây dựng Trường tiểu học Thành Chí (75 Nguyễn Thái Học) dành cho học sinh người Phúc Kiến. Sau năm 1975, trường được quốc hữu hóa và hiện là Trường THCS Minh Đức giảng dạy bằng tiếng Việt.
Ngày 25.1.1937, Dưỡng đường Sài Gòn được xây mới lại trên nền của Nhà thương đa khoa Dejean de la Bâtie với quy mô lớn hơn, sau đổi tên thành Bệnh viện đa khoa Sài Gòn, nay là cơ sở 2 Bệnh viện Nhân dân Gia Định ở 125 Lê Lợi, phường Bến Thành).
Nhà chú Hỏa bán và cho thuê ở đầu đường Lê Công Kiều (quận 1 cũ).
________________________________________
Cùng năm 1937, Huỳnh Trọng Huấn và Huỳnh Trọng Tán đã hiến tặng “Bệnh viện Phụ sản Đông Dương” (Maternité Indochinoise, Nhà sanh chú Hỏa, nay là Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ), có 100 giường nằm trên đường D’Arras, Sài Gòn (nay là 284 Cống Quỳnh, phường Bến Thành).
Năm 1949, Huỳnh Trọng Bình xây dựng chùa Phụng Sơn (338 - 340 đường Nguyễn Công Trứ, phường Cầu Ông Lãnh) và chùa Kỳ Viên (610 Nguyễn Đình Chiểu, phường Bàn Cờ).
Năm 1940, Lucien Hui Bon Hoa, Michel Hui Bon Hoa và Joseph Hui Bon Hoa xây 8 biệt thự ở đại lộ Hui Bon Hoa (nay là số 1 Lý Thái Tổ, phường Vườn Lài) theo thiết kế của KTS. Paul Veysseyre, dùng làm nơi cho người nhà nghỉ ngơi sau giờ làm việc, người đương thời thường gọi “dinh chú Hỏa”. Sau nhiều thay đổi, ngày 12.2.2026, khu vực này trở thành không gian tưởng niệm nạn nhân đại dịch Covid-19.
Năm 1934 sau khi Huỳnh Trọng Tán qua đời tại Việt Nam, chính quyền thuộc địa Pháp đã đặt tên cho một con phố lớn là đại lộ Hui Bon Hoa (nay là đường Lý Thái Tổ) để ghi nhớ những đóng góp của dòng họ Hui Bon Hoa cho sự phát triển của thành phố Sài Gòn.
Những công trình phúc lợi công cộng, những dãy nhà phố do gia tộc Hui Bon Hoa xây dựng từ năm 1908 đến 1950 nay vẫn còn, góp phần phục vụ lợi ích cộng đồng, tạo nên bộ mặt Sài Gòn - TP.HCM. Các bệnh viện, trường học, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, công viên tưởng niệm nạn nhân Covid-19, khu nhà mang tên “Hào Sĩ Phường” (hẻm 206 Trần Hưng Đạo) phục vụ du lịch đồng thời cũng giúp cho nhiều người biết đến gia tộc Hui Bon Hoa.
Bài và ảnh: Hồ Văn Tường
___________
* Tác giả bài viết là võ sư, tiến sĩ, giảng viên văn hóa du lịch.
Related:
https://www.youtube.com/watch?v=8MnEPs_iedE&t=3000s
GIẢI MÃ NẠN HOA KIỀU 1978 CÚ RA TAY QUYẾT ĐOÁN CỦA TBT LÊ DUẨN NHẰM PHÁ TAN ÂM MƯU TỪ BẮC KINH
Năm 1978, giữa lúc quan hệ Việt - Trung đang rơi vào vòng xoáy căng thẳng tột độ, 'Nạn Kiều' đã bùng phát như một cơn bão chính trị làm rung chuyển cả hai nước. Tại sao hàng vạn người Hoa lại đồng loạt rời bỏ Việt Nam trong thời gian ngắn? Đằng sau đó là âm mưu gì từ phía Bắc Kinh và Tổng Bí thư Lê Duẩn đã có những quyết sách quyết đoán như thế nào để bảo vệ an ninh quốc gia? Hôm nay, chúng ta sẽ cùng giải mã sự thật lịch sử này. Video này sẽ bóc tách những khía cạnh ít người biết về một trong những giai đoạn căng thẳng nhất lịch sử hiện đại: Chiến dịch "Nạn Kiều": Cách thức tin đồn thất thiệt được lan truyền nhằm gây bất ổn xã hội từ bên trong lòng Việt Nam. Bàn cờ địa chính trị: Tại sao vấn đề người Hoa lại bị lợi dụng làm quân bài để gây áp lực lên chính quyền Hà Nội? Bản lĩnh của TBT Lê Duẩn: Những quyết định "thép" nhằm thanh lọc hàng ngũ và đập tan âm mưu thành lập "đạo quân thứ năm". Hệ quả lịch sử: Sự kiện này đã thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội Việt Nam và là khúc dạo đầu cho cuộc chiến biên giới 1979 như thế nào?
[ Bạn nghĩ sao về sự quyết đoán của lãnh đạo Việt Nam trong giai đoạn ngặt nghèo này? Hãy để lại quan điểm của bạn dưới phần bình luận nhé!
TUYÊN BỐ MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM Nội dung trên kênh được xây dựng dựa trên các tư liệu lịch sử, lời kể, hồi ức và góc nhìn khác nhau, nhằm giúp người xem có thêm chiều sâu trong việc tìm hiểu, suy ngẫm và tiếp cận lịch sử một cách đa chiều. Các video không mang tính kết luận tuyệt đối, không đại diện cho quan điểm chính thức của bất kỳ cá nhân, tổ chức hay cơ quan nào. Chúng tôi không có ý công kích, xuyên tạc, hạ thấp danh dự của bất kỳ cá nhân, tập thể, dân tộc hay quốc gia nào, không cổ súy bạo lực, thù hằn hay gây chia rẽ. Mục tiêu của kênh là tôn trọng lịch sử, khơi gợi sự thấu hiểu, đối thoại văn minh và tinh thần học hỏi, từ đó rút ra những bài học giá trị cho hiện tại và tương lai. Mọi ý kiến đóng góp mang tính xây dựng đều được hoan nghênh.]
Subscribe to:
Posts (Atom)