Thursday, April 30, 2026

Bảy tiểu thuyết chiến tranh hay nhất

https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/bay-tieu-thuyet-chien-tranh-hay-nhat/ Posted on 29 Tháng Tư, 2026 by post3 Ngân Xuyên dịch từ The Economist, 21/3/2024 Để hiểu biết đầy đủ hơn về chiến tranh, hãy đọc tiểu thuyết cũng như lịch sử và báo chí. Mẹ của tất cả các tiểu thuyết chiến tranh, nói theo lời của Saddam Hussein, chắc hẳn phải là “Chiến tranh và Hòa bình”. Nhưng, cũng giống như chương trình “Desert Island Discs” của BBC tặng mỗi người sống sót trên đảo hoang một cuốn Kinh Thánh và toàn tập tác phẩm của Shakespeare, chúng tôi sẽ đặt lên giá sách của bạn cuốn tiểu thuyết sử thi của Lev Tolstoy, nếu như chúng chưa quá nặng thêm, và tiếp thêm nữa. Dưới đây là bảy cuốn tiểu thuyết chiến tranh hay nhất không phải của Tolstoy, được sắp xếp theo thứ tự thời gian của các cuộc xung đột mà chúng đề cập đến. Bốn cuốn (“All Quiet on the Western Front”, “Stalingrad”, “The Bridge over the River Kwai” và “The Sorrow of War”) được viết bằng các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh. Chúng tôi chọn những cuốn sách có chủ đề trải rộng trên nhiều cuộc chiến tranh trên thế giới – từ chiến hào ở Flanders đến rừng rậm Việt Nam. Chúng cũng thể hiện đầy đủ phạm vi của xung đột, từ nỗi kinh hoàng của cận chiến đến những vết sẹo tinh thần không bao giờ lành, có thể dẫn đến rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD). “Chiến tranh là một phần quan trọng, cắm sâu vào lịch sử nhân loại,” nhà sử học Magaret MacMillan đã viết. Các tiểu thuyết gia cũng có cái nhìn sâu sắc về điều đó với tư cách những người làm nghề viết tiểu thuyết. ALL QUIET ON THE WESTERN FRONT (“Phía Tây không có gì lạ”). Tác giả: Erich Maria Remarque. Arthur Wesley Wheen dịch. Những tác phẩm hư cấu không khoan nhượng về chiến tranh bắt đầu với kiệt tác năm 1929 của Erich Maria Remarque. Lần đầu tiên, một nhà văn đã đưa ra một miêu tả trần trụi, không thương tiếc về việc con người giết hại lẫn nhau bằng mọi cách có thể. “Phía Tây không có gì lạ”, được viết bằng tiếng Đức bởi một cựu chiến binh của Thế chiến thứ nhất, đánh dấu sự chấm dứt triệt để của truyền thống tiểu thuyết chiến tranh viết kiểu đưa chuyện thời Victoria. Gạt bỏ những tàn dư của các quan niệm cũ về sự cao quý và lý tưởng, cuốn sách của Remarque về cuộc sống trong chiến hào của Đức trên mặt trận phía Tây, bao gồm cả những mô tả sống động về các trận chiến giáp lá cà, đã phơi bày toàn bộ sự tàn bạo của cuộc xung đột đó, cũng như những tác động phi nhân tính mà nó gây ra cho những người lính trẻ tuổi tham gia chiến đấu. Những độc giả đầu tiên của cuốn sách đã không chuẩn bị tinh thần cho những chi tiết như vậy. Nó đã gây chấn động khi được xuất bản, nhanh chóng bán được hàng trăm nghìn bản. Nó vẫn có sức mạnh gây sốc, ngay cả sau vô số lần được chuyển thể thành phim. “Phía Tây không có gì lạ” không hẳn là một cuốn sách phản chiến, nhưng sự trung thực không khoan nhượng của nó khiến người ta khó có thể đọc nó theo bất kỳ cách nào khác. REGENERATION (“Tái sinh”). Tác giả: Pat Barker. “Tái sinh” là cuốn đầu của một bộ ba. Hai cuốn tiếp theo là “The Eye in the Door” (“Con mắt trong cửa”) và “The Ghost Road” (“Đường ma”). Tất cả đều được xuất bản vào những năm 1990, thập kỷ mà người ta lại quan tâm đến sự khủng khiếp của Thế chiến một khi biết rằng những cựu chiến binh cuối cùng của cuộc xung đột đó sẽ sớm ra đi. Việc tưởng niệm như vậy đã góp phần tạo nên thành công phi thường của tác phẩm “Birdsong” tuyệt đẹp của Sebastian Faulks, kể về những người thợ mỏ người Anh hoạt động dưới phòng tuyến của quân Đức trên sông Somme. “Tái sinh” đan xen sự thật với hư cấu để kể câu chuyện về William Rivers, một bác sĩ người Anh, người đã phát triển các phương pháp điều trị căn bệnh mà ông chẩn đoán là sốc vỏ sò. Vào thời điểm đó, hầu hết binh lính bị thương ra khỏi chiến hào với các triệu chứng căng thẳng tinh thần tột độ đều bị coi là hèn nhát hoặc mất trí. Bệnh nhân nổi tiếng nhất của Rivers là nhà thơ Siegfried Sassoon. Cuốn tiểu thuyết cảm động và giàu lòng nhân ái này tập trung vào mối quan hệ của họ. THE BRIDGE ON THE RIVER KWAI (“Cầu trên sông Kwai”). Tác giả: Pierre Boulle. Xan Fielding dịch. Cuốn tiểu thuyết của Pierre Boulle, xuất bản lần đầu bằng tiếng Pháp vào năm 1952, nên được đọc như một khúc dạo đầu cho phiên bản điện ảnh hay hơn nhiều mà David Lean đạo diễn 5 năm sau đó. Nó đã giành được rất nhiều giải Oscar và vẫn là bộ phim chiến tranh hay nhất từng được thực hiện. Cả cuốn sách và bộ phim đều không tìm cách truyền tải sự khủng khiếp thực sự của điều kiện dành cho các tù nhân chiến tranh của quân Đồng minh trên tuyến đường sắt Myan mar – Thái Lan trong chiến tranh thế giới thứ hai. Một người sống sót cho biết: “Không ai cần phải kể lại, bức tranh là một đống cá tuyết có tông màu cao”. Chủ đề của Boulle không phải là sự tàn bạo của chiến tranh mà là những quy tắc danh dự và nghĩa vụ có thể dẫn đến sự tàn bạo đó. Vì vậy, câu chuyện của ông chủ yếu là sự mổ xẻ mang tính pháp lý về tính cách con người, đặc biệt là niềm tự hào — về trung đoàn và kỷ luật quân đội sẽ duy trì các đơn vị chiến đấu ngay cả trong những hoàn cảnh khủng khiếp nhất. Cốt lõi của cuốn tiểu thuyết là cuộc chiến ý chí giữa hai người đàn ông dũng cảm và bướng bỉnh như nhau, sĩ quan chỉ huy tù binh Anh, Trung tá Nicolson và Đại tá Saito, chỉ huy trại Nhật Bản. Cả hai đều có ý thức trách nhiệm phát triển quá mức. Boulle cho thấy điều này có thể dẫn đến cả vinh quang lẫn thảm họa như thế nào. STALINGRAD: A NOVEL (“Stalingrad: Một tiểu thuyết”). Tác giả: Vasily Grossman. Robert và Elizabeth Chandler dịch. Khi Đức Quốc xã xâm lược Liên Xô năm 1941, Vasily Grossman đăng ký viết bài cho “Sao Đỏ”, tờ báo của Hồng quân. Ông đã đưa ra những báo cáo tuyên truyền về những người lính Liên Xô ở mặt trận. Tuy nhiên, tác giả, sinh ra trong một gia đình Do Thái ở Ukraine thuộc Liên Xô, không phải là tay sai của chủ nghĩa Stalin; bài viết của ông bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với lòng dũng cảm và sự kiên cường của nhân dân Liên Xô trước sự xâm lược của chủ nghĩa phát xít. Grossman quay trở lại chủ đề này trong hai cuốn tiểu thuyết về trận Stalingrad, diễn ra từ năm 1942 đến năm 1943. Cuốn đầu tiên được xuất bản vào những năm 1950, mặc dù ở dạng bị kiểm duyệt, với đầu đề “Vì sự nghiệp chính nghĩa”. Chế độ Xô Viết cấm cuốn thứ hai, “Cuộc đời và số phận”, một phần vì so sánh chủ nghĩa Stalin với Chủ nghĩa xã hội quốc xã. Nó được buôn lậu sang phương Tây và xuất bản ở đó vào những năm 1980. Bản dịch tiếng Anh mới của cuốn tiểu thuyết đầu đã được xuất bản vào năm 2019. Nó khôi phục tên gốc của tác giả là “Stalingrad” và các phần chưa được xuất bản. Giờ đây nó được thừa nhận là một tác phẩm kinh điển, pha trộn mạnh mẽ các quan điểm dân sự và quân sự về “Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại”. SLAUGHTERHOUSE-FIVE (“Lò mổ số 5”). Tác giả: Kurt Vonnegut. Trong nhiều thập niên, Kurt Vonnegut đã vật lộn và thất bại trong việc viết cuốn sách mà ông gọi một cách mỉa mai là “cuốn sách Dresden nổi tiếng” của mình. Bị quân Đức bắt giữ tại trận Bulge năm 1944, ông là tù binh chiến tranh tại thủ đô của Saxony trong trận ném bom lửa tháng 2 năm 1945. Vonnegut đã lắng nghe từ một lò mổ dưới lòng đất khi bom dội xuống. Chắc chắn, ông kể lại, việc mô tả trải nghiệm đó lẽ ra phải “dễ dàng”, “vì tất cả những gì tôi phải làm là thuật lại những gì tôi đã thấy”. Nhưng từ ngữ cứ tuôn ra chậm chạp. Làm sao Vonnegut có thể mô tả một thành phố bị thiêu rụi bởi “một ngọn lửa lớn”? Cuối cùng, giải pháp của ông là thay thế cấu trúc tự sự thông thường bằng một đường zích zắc chóng mặt xuyên suốt thời gian và không gian. Nhân vật chính của “Lò mổ số 5”, Billy Pilgrim, hé lộ bi kịch của Dresden một cách dè dặt và rời rạc. Cách kể chuyện của anh ta bị ảnh hưởng bởi những rối loạn tâm lý mà sau này được gọi là PTSD (Hội chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương) rất lâu sau khi cuốn tiểu thuyết xuất hiện vào năm 1969. Được xuất bản trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, “Lò mổ số 5” đã nắm bắt được tâm trạng phản chiến của thời đại và tiếp tục bán được hơn 100.000 bản mỗi năm. THE SORROW OF WAR (“Nỗi buồn chiến tranh”). Tác giả: Bảo Ninh. Frank Palmos dịch. Cuốn tiểu thuyết đầy mê hoặc này của một cựu chiến binh trong cuộc chiến mà người Việt gọi là chiến tranh chống Mỹ, tràn ngập những bóng ma hơn là người sống. Bảo Ninh là bút danh của một người đàn ông trong số mười người còn sống sót của một lữ đoàn 500 người. Kiên, nhân vật chính của ông, cũng là một người sống sót của quân đội Bắc Việt. Cuộc chiến của ông tái diễn vào năm 1976, sau sự sụp đổ của chính phủ được Mỹ hậu thuẫn ở miền Nam, khi ông được phái trở lại chiến trường cũ để thu thập hài cốt. Những đồng đội đã ngã xuống ám ảnh ông trong “Thung lũng gọi hồn”, khi ông di chuyển giữa hiện tại và nỗi kinh hoàng trong quá khứ, chỉ tìm thấy sự an ủi trong những ký ức xa xôi, như mơ về tuổi trẻ và tình yêu trước chiến tranh. Cũng như tiểu thuyết của Vonnegut, “Nỗi buồn chiến tranh” bác bỏ lối kể chuyện quy ước vì cho rằng nó vô dụng trước địa ngục. Tạo ra những mô hình biến đổi riêng trong thời gian, tránh cả sự ủy mị và khuôn sáo, Bảo Ninh mô tả tác động lên tinh thần con người của chiến tranh và hậu quả của nó. HALF OF A YELLOW SUN (“Nửa mặt trời vàng”). Tác giả: Chimamanda Ngozi Adichie. Xuất bản năm 2006, cuốn tiểu thuyết thứ hai của Chimamanda Ngozi Adichie lấy bối cảnh cuộc nội chiến ở Nigeria vào cuối những năm 1960. Cộng hòa Biafra nổi loạn và giàu dầu mỏ, chủ yếu gồm người Igbo, đã ly khai khỏi đất nước vào năm 1967, khởi đầu một cuộc xung đột khiến hàng trăm nghìn thường dân thiệt mạng. Cuộc xung đột kết thúc khi quân đội Nigeria tái chiếm lãnh thổ này vào năm 1970. Trong cuốn tiểu thuyết “Half of a Yellow Sun”, bà Adichie, sinh năm 1977, đã cố gắng nhìn nhận lại những hậu quả khủng khiếp của cuộc chiến. (Tên sách nói đến đến hình ảnh trung tâm là lá cờ của vùng lãnh thổ ly khai.) Không giống như một số cuốn sách khác trong danh sách này, tiểu thuyết của bà Adichie không miêu tả chiến đấu. Thay vào đó, mối quan tâm của bà là về cách những lòng trung thành đối lập – với đất nước, với dân tộc và với lý tưởng – chia rẽ và nghiền nát những người yêu nhau, gia đình và bạn bè. Thông qua nhân vật Richard, một nhà văn người Anh, bà Adichie cũng cho thấy cách truyền thông phương Tây bóp méo hoặc phớt lờ các cuộc xung đột ở châu Phi. This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged Ngân Xuyên. Bookmark the permalink. https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/bay-tieu-thuyet-chien-tranh-hay-nhat/

Giáo sư Tương Lai (1936-2026)-Thơ Tiễn của Nguyễn Duy

https://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/tien-cu-tuong-lai-ve-coi-vinh-hang Giáo sư Tương Lai (1936-2026) Chúng tôi được tin bạn chúng tôi, Giáo sư Tương Lai, nhà giáo, nhà xã hội học với nhiều phản biện nổi tiếng trong nước từ nhiều năm qua (mở đầu là Báo cáo về vụ nổi dậy ở Thái Bình năm 1997), do tuổi già sức yếu vừa từ trần sáng nay 30/4/2026 tại thành phố Hồ Chí Minh (xin xem Cáo phó của gia đình ở cuối trang này). Diễn Đàn xin thành thực chia buồn cùng gia quyến và đông đảo bạn bè thân thuộc của giáo sư. Trên các trang mạng, có rất nhiều bài viết tỏ lòng kính phục, luyến tiếc người quá cố, xin mở đầu giới thiệu với bạn đọc bài thơ tiễn ông của nhà thơ Nguyễn Duy. Tiễn cụ Tương Lai – Nguyễn Phước Tương (*) về cõi vĩnh hằng Nguyễn Duy Bác Tương thôi đã thôi rồi** Người Ngày Mai đã thành người Hôm Qua Lối Hoàng tộc mở ra Đại lộ Nắng rồi mưa... giông tố dập vùi Trường kỳ nước mắt mồ hôi Gập ghềnh từng bước chân Người Dấn Thân Trung với nước - tấc lòng son sắt Hiếu với dân - sâu sắc yêu thương Thành tâm tu giữa đời thường Mênh mông thế sự (***)... con đường xa xa... Nết chay tịnh hương hoa tri kỉ Vẹn ân tình bền bỉ thủy chung Lánh xa những chuyện viển vông Bom trong ly rượu - bão trong tách trà Bầu tâm sự trải la liệt giấy Gửi muôn sau biết mấy nỗi niềm Vẫn tia Hy Vọng thiêng thiêng Ánh Tương Lai vẫn rọi lên nền trời. P/s: Hẹn nhau gặp nhé... Cụ ơi Check in... cũng đến lượt tôi... một ngày... Hành trang nhè nhẹ áng mây An nhiên ngồi đợi chuyến bay của mình... Sài Gòn – đúng ngày 30.4.2026 (nhằm ngày 14.3. Bính Ngọ) Nguyễn Duy * Tương Lai tên thật là Nguyễn Phước Tương, thuộc dòng dõi Hoàng tộc triều NGUYỄN. ** Tập theo câu thơ "Bác Dương thôi đã thôi rồi/ nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta"- (Khóc Dương Khuê - của Nguyễn Khuyến) *** Mênh mông thế sự là tên một loạt bài bút ký của GS Tương Lai nhiều năm trước khi ngừng vì sức khoẻ, được tác giả thường xuyên gửi đăng trên trang Viet - Studies của GS Trần Hữu Dũng, và cũng nhiều lần được giới thiệu trên Diễn Đàn, trong mục "Thấy trên mạng" https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cwy2lqdw591o Giáo sư Tương Lai qua đời: Dấu ấn của một trí thức từ bỏ Đảng Cộng sản Giáo sư Tương Lai, tên thật là Nguyễn Phước Tương, cựu Viện trưởng Viện Xã hội học, thành viên Hội đồng tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, đã qua đời vào sáng 30/4/2026, thọ 91 tuổi, theo thông tin từ gia đình. …Giáo sư Tương Lai sinh năm 1936 trong gia đình hoàng tộc Nguyễn Phước ở Huế. Trong thập niên 1980-1990, ông từng là phó viện trưởng, rồi trở thành viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam Từ thập niên 1990 đến những năm đầu thập niên 2000, ông là thành viên nhóm tư vấn của các thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải. Vào năm 2007, ông cùng các trí thức như Giáo sư Hoàng Tụy, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Giáo sư Chu Hảo, nhà nghiên cứu Trần Đức Nguyên,… thành lập Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS), một viện nghiên cứu chính sách tư nhân độc lập đầu tiên thành hình ở Việt Nam sau Đổi mới. Đến ngày 14/9/2009, IDS đã ra quyết định giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ban hành, trong đó có một số điều khoản khiến viện không thể hoạt động theo tiêu chí của mình. Theo Quyết định 97, các tổ chức nghiên cứu khoa học có phản biện ngược với chính sách của Chính phủ thì không được công bố công khai, một điều cấm mà nhóm IDS gọi là "phản tiến bộ". Sinh thời, Giáo sư Tương Lai, trong nhiều bài viết và các bài phát biểu trên nhiều diễn đàn, từng trăn trở và nhấn mạnh nhu cầu hòa giải dân tộc trên cơ sở đối thoại và thay đổi thể chế. Ông được coi là một trong những trí thức tiêu biểu ở Việt Nam với nhiều bài nghiên cứu xã hội học công phu, đồng thời là một trong những tiếng nói phản biện quyết liệt trước nhiều vấn đề văn hóa, lịch sử, chính trị của đất nước. Năm 2015, ông cùng hơn 100 trí thức Việt Nam đã gửi thư ngỏ đến Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 và toàn Đảng Cộng sản Việt Nam đề nghị đổi tên đảng, đổi tên nước, trả lại tự do cho những người bất đồng chính kiến đang bị giam giữ. Năm 2013, ông là một trong 72 nhân sĩ trí thức đã ký tên vào bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992, nhấn mạnh hiến pháp phải là đạo luật cơ bản để dân kiểm soát quyền lực và đề xuất bỏ Điều 4 (điều khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng) và yêu cầu trao quyền phúc quyết hiến pháp cho nhân dân. Ông cũng tham gia vào nhiều hoạt động phản đối Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông, trong đó có cuộc biểu tình lớn vào tháng 5/2014 phản đối vụ Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào vùng biển Hoàng Sa. Vào đầu năm 2020, trong vụ tranh chấp đất ở xã Đồng Tâm, khi công an tấn công vào làng, dẫn tới bốn người thiệt mạng (gồm một cụ già và ba công an), Giáo sư Tương Lai cùng một nhóm trí thức đã viết thư ngỏ gửi các lãnh đạo chủ chốt trung ương. Thư có đoạn: "Để chất vấn các vị về một việc làm 'điên rồ' và không một chính phủ nào ở trên thế giới này có thể làm một việc 'điên rồ' như thế khi dùng súng bắn vào dân lành, bắn vào một ông cụ già 84 tuổi, đã từng cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp cứu nước. "Trong bối cảnh đó, chúng tôi muốn chất vấn những người cầm quyền phải giải thích cho chúng tôi vì sao lại có một việc làm 'dã man, vô nhân đạo như vậy' của một nhà nước tự xưng là của dân, do dân và vì dân..?" Là một đảng viên thâm niên, nhưng vào năm 2017, Giáo sư Tương Lai đã chọn ngày Quốc khánh để từ bỏ Đảng Cộng sản, "tuyên bố dứt bỏ mọi liên hệ với đảng Nguyễn Phú Trọng đang thao túng, để tiếp tục chiến đấu với tư cách đảng viên Đảng Lao động Việt Nam" và muốn đi tìm một "phương thức đấu tranh mới". Trong tuyên bố được chia sẻ trên mạng xã hội ngày 2/9/2017, Giáo sư Tương Lai viết: "Chọn hôm nay, ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố trước thế giới và với quốc dân đồng bào lý tưởng và mục tiêu chiến đấu nhằm xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thể hiện trong Hiến pháp 1946 để đưa ra tuyên bố này là nhằm khẳng định lý tưởng và mục tiêu nhất quán của tôi, không hề là một quyết định nhất thời bởi những nhân tố ngẫu nhiên." Giáo sư Tương Lai mô tả trong khi ông "kiên trì dấn thân" vào cuộc đấu tranh làm thay đổi thực trạng của hệ tư tưởng giáo điều, bảo thủ đang dìm đất nước trong trì trệ lạc hậu, và "nhẫn nhục tiếp tục ở lại trong Đảng" thì sự hậu thuẫn trực tiếp của nhà cầm quyền Bắc Kinh đang thao túng Đảng khiến đây "không còn gì là đảng của Hồ Chí Minh nữa". Ông nói hiện nay chưa có một lực lượng chính trị nào đủ mạnh để có thể thay thế được đảng đang nắm quyền bằng hệ thống "chuyên chính vô sản được cài cắm đến tận cơ sở", nhưng tin rằng "những gì đã cũ kỹ, hư hỏng trong bộ máy quyền lực duy trì chế độ toàn trị phản dân chủ sẽ bị lật nhào" và rằng "vấn đề chỉ còn là thời gian". Related: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-41120377 Giáo sư Tương Lai từ bỏ Đảng Cộng sản

Khái Lược Lịch Sử Việt Nam -- Huyền Sử Khởi Nguyên Của Người Việt- Nhà Nước Đầu Tiên Của Người Việt -Thời Kỳ Tàu Cai Trị (Bắc Thuộc)

HUYỀN SỬ Về Khởi Nguyên Của Người Việt: Tổng quan: Các dấu tích, câu truyện đầu tiên về nguồn gốc người Việt trong đời sống và qua lời dân gian kể, cùng những tập tục được lưu truyền qua nhiều thế hệ cho thấy từ thời tiền sử đã có người sinh sống tại lãnh thổ ngày nay mang tên Việt Nam. Mãi về sau, vào các thế kỷ 13, 14, 15..., vào đời vua Trần, vua Lê, chúng bắt đầu được các nhà nho học gom góp viết thành văn bản lịch sử; sau đó chúng được thêm bớt nhiều chi tiết và chịu ảnh hưởng nước ngoài như Trung hoa, Chiêm Thành....Nói chung, các huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết này, tuy mang tính lịch sử, nhưng nội dung vẫn chứa nhiều nghi vấn, không phải là sự kiện sử được kiểm chứng rõ ràng. Họ Hồng Bàng - Nước Xích Quỷ - Nước Âu Việt và Lạc Việt: https://www.youtube.com/shorts/Ml6mce1KKXg Xích Quỷ (from https://www.youtube.com/@XinChaoVietNam88/shorts) 2879 TCN / thời gian giữa thời tiền sử và Hùng vương. TK IV -tkIII TCN các nhóm bộ tộc Việt (Bách Việt) gồm Điền Việt, Nam Việt, Hồ Việt phía Tây và chính giữa gần Động đình hồ thuộc Hồ Nam, Trung hoa ngày nay; Đông Việt, Mãn Việt phía Đông; U Việt phía Bắc; Lạc Việt và Chiêm Việt phía Nam.... Xứ "Nam Cương" gồm 10 bộ tộc: 2 bộ tộc người Tày, 3 bộ tộc người Nùng, 2 bộ tộc người Dao, 1 bộ tộc người sán chảy, 1 bộ tộc người sán dìu, 1 bộ tộc người H’Mong. Kinh Dương Vương, dòng dõi Thần Nông, là con trai Đế Minh là vua phương Nam. Tục truyền KDV đặt ra tục xâm mình. KDV lấy con gái Long vương ở Động đình hồ sanh ra Lạc Long Quân/Sùng Lãm. SL lấy Âu Cơ sanh ra 100 con, tách ra cát cứ vùng biển và vùng núi, làm tiền đề cho nhà nước Âu Lạc, rồi Văn Lang đời các vua Hùng về sau. Kinh Dương Vương là ông nội của vua Hùng thứ nhất, lên ngôi vào đời Phục Hy bên Trung Quốc (khoảng năm 2879 TCN). KDV lấy Long nữ, con gái Long Vương ở Hồ Động Đình, sanh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. LLQ sau lấy Âu Cơ, sanh ra bọc trăm trứng nở ra trăm người con trai, dựng nên nước Âu Lạc, sau này là nước Văn Lang trải qua 18 đời vua Hùng, đóng đô tại Phong Châu (thời nhà Chu bên Tàu thế kỷ thứ 7 TCN) [Hồ Động Đình, ở Đông Bắc tỉnh Hồ Nam, Trung hoa ngày nay https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_%C4%90%E1%BB%99ng_%C4%90%C3%ACnh https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_L%C4%A9nh_Nam_th%E1%BB%9Di_Tr%C6%B0ng_V%C6%B0%C6%A1ng-Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng.jpg ] CÁC DẤU TÍCH VĂN HÓA Văn hóa Phùng Nguyên - thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng - tồn tại cách đây chừng bốn ngàn năm. Tuy vậy,trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào. Công cụ bằng đá vẫn còn phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối. Vì thế, các nhà sử học đều thống nhất kết luận rằng xã hội thời văn hóa Phùng Nguyên chưa vượt khỏi hình thái công xã nguyên thủy và do đó không thể khẳng định trước đây bốn ngàn năm dân tộc ta đã bước vào thời đại văn minh, đã có nhà nước. Tiếp sau Văn hóa Phùng Nguyên là các giai đoạn phát triển Văn hóa Đồng Đậu và Gò Mun. Dù số lượng, chất lượng của công cụ bằng đồng có xu hướng ngày càng tăng, nhưng cũng chưa thấy chứng cớ rõ rệt nào về sự phân hóa xã hội - động lực cần thiết cho sự xuất hiện của nhà nước. Văn hóa Đông Sơn, giai đoạn phát triển đỉnh cao của thời đại đồ đồng và giai đoạn đầu của thời kỳ đồ sắt. Người Việt cổ có tục xâm mình, nhuộm răng đen, ăn trầu, đã biết kỹ thuật đúc đồng và bắt đầu chế tạo công cụ từ quặng sắt. Các nhà sử học ngày càng thống nhất, chung quan điểm khi cho rằng nhà nước đầu tiên trên đất nước ta chỉ có thể xuất hiện vào thời Văn hóa Đông Sơn. Quan điểm này được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Nhiều công trình lịch sử, xã hội học của các tác giả nước ngoài, đã dùng từ “văn minh” (civilization) thay vì “văn hóa” (culture) khi bàn về Văn hóa Đông Sơn của Việt Nam. Do vậy chỉ có thể dùng niên đại của Văn hóa Đông Sơn làm giới hạn đầu cho thời kỳ lập quốc của dân tộc ta, cách đây chừng 25 - 27 thế kỷ. Nó cũng phù hợp với ghi chép của Việt sử lược - bộ sử khuyết danh nhưng có độ chính xác cao, được biên soạn sớm nhất ở nước ta - theo đó “... Đến thời Trang Vương nhà Chu (696 - 681 TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu, phong tục thuần phác, chính sự dùng nối kết nút, truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”. [https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/5625/ve-thoi-djiem-lap-quoc-viet-nam.html Đến thời Trần (1226 - 1400), những huyền thoại, sự tích, truyền thuyết - vốn chỉ lưu truyền trong dân gian - lần đầu được sưu tầm, tập hợp, biên khảo và ghi chép lại trong các tài liệu thành văn, mà đáng chú ý nhất là bộ sách Việt điện u linh (của Lý Tế Xuyên) và Lĩnh Nam chích quái (của Trần Thế Pháp). Sang thế kỷ 15, nhà sử học Ngô Sỹ Liên đã - một cách chính thức và có hệ thống - đưa những tư liệu dân gian ấy vào bộ chính sử quy mô lớn do ông và các sử thần triều Lê biên soạn. Trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư này, Ngô Sỹ Liên dành riêng một kỷ, đặt tên là Kỷ Hồng Bàng, để trình bày những truyền thuyết mà ông thu thập được với diễn biến theo thứ tự thời gian: Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân - 18 đời Hùng Vương. Ngô Sỹ Liên cũng là người đầu tiên nêu ra những niên đại tuyệt đối cho thời kỳ lập quốc đó. Theo ông thì Kinh Dương Vương - ông nội của vua Hùng thứ nhất - lên ngôi vào đời Phục Hy bên Trung Quốc (cụ thể là năm 2879 TCN); còn vua Hùng cuối cùng (thứ 18) chấm dứt sự trị vì của mình vào năm Chu Noãn Vương thứ 57 (tức năm 258 TCN). Thế nhưng, cũng không ít người nghi ngờ một cách hoàn toàn có lý rằng vua chúa không thể có tuổi thọ của thần thánh, vậy mà trong suốt 2621 năm (2879 - 258 = 2621), chỉ có 20 đời vua (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 18 vua Hùng) nối tiếp nhau, trung bình mỗi vua trị vì... 131 năm! Hơn nữa, những điều Ngô Sỹ Liên đưa vào chính sử đều là huyền thoại và truyền thuyết. Huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết mang tính lịch sử, nhưng không phải là thực tế lịch sử. Do đó không chỉ dựa vào truyền thuyết nói chung để ấn định niên đại tuyệt đối cho các sự kiện lịch sử. Ngô Sỹ Liên trình bày về Kỷ Hồng Bàng với nhiều sự việc, nhiều mốc thời gian khá rõ ràng, nhưng lại không đưa ra những chứng cớ xác đáng để chứng minh. Ngay bản thân ông, sau khi nêu xong những vấn đề trên cũng đành viết: “Hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi”! Về mặt lý luận, nhà nước thường chỉ ra đời khi cơ sở kinh tế đã phát triển, tạo tiền đề cho những chuyển biến xã hội tới mức có sự phân hóa về địa vị và quyền lực. Thực tế cho thấy, hầu hết các nhà nước đầu tiên trên thế giới đều xuất hiện vào giai đoạn phát triển nhất của thời đại đồ đồng hoặc đầu thời đại đồ sắt. Ngày nay, qua các phát hiện khảo cổ, khoa học lịch sử Việt Nam đã thiết lập được tương đối hoàn chỉnh sơ đồ diễn biến văn hóa vật chất của dân tộc ta, từ sơ kỳ thời đại đồ đồng đến sơ kỳ thời đại đồ sắt, với các giai đoạn phát triển cơ bản theo thứ tự: Văn hóa Phùng Nguyên - Văn hóa Đồng Đậu - Văn hóa Gò Mun - Văn hóa Đông Sơn. Theo kết quả xác định niên đại bằng phương pháp carbon phóng xạ (C14), văn hóa Phùng Nguyên - thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng - tồn tại cách đây chừng bốn ngàn năm. Như vậy, nếu theo quan niệm phổ biến lâu nay, thì thời điểm nhà nước đầu tiên xuất hiện trên đất nước ta (thời điểm lập quốc) tương ứng với niên đại của Văn hóa Phùng Nguyên. Thế nhưng, trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào. Công cụ bằng đá vẫn còn phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối. Các nhà sử học đều thống nhất kết luận rằng xã hội thời văn hóa Phùng Nguyên chưa vượt khỏi hình thái công xã nguyên thủy và do đó không thể khẳng định trước đây bốn ngàn năm dân tộc ta đã bước vào thời đại văn minh, đã có nhà nước! Tiếp sau Văn hóa Phùng Nguyên là các giai đoạn phát triển Văn hóa Đồng Đậu và Gò Mun. Dù số lượng, chất lượng của công cụ bằng đồng có xu hướng ngày càng tăng, nhưng cũng chưa thấy chứng cớ rõ rệt nào về sự phân hóa xã hội - động lực cần thiết cho sự xuất hiện của nhà nước. Sang thời đại Văn hóa Đông Sơn, con người đã thành thạo kỹ thuật đúc đồng và bắt đầu biết chế tạo công cụ từ quặng sắt. Họ đã có thể làm ra những đồ dùng tinh xảo, đòi hỏi trình độ mỹ thuật và kỹ thuật cao (như trống đồng, thạp đồng, ấm đồng...). Nền kinh tế khá phát triển. Nhiều tài liệu, hiện vật khảo cổ cho thấy sự phân hóa giai cấp cũng đã rõ rệt. Ví dụ, trong di chỉ mộ táng Việt Khê (Hải Phòng) - được xác định có niên đại tuyệt đối là 2474 ± 100 năm (tính đến năm 2009), thuộc thời Văn hóa Đông Sơn - các nhà khảo cổ phát hiện bốn ngôi mộ chôn quan tài hình thuyền. Ba ngôi trong số đó hoàn toàn không có hiện vật chôn kèm; còn ngôi thứ tư lại chôn theo 107 hiện vật trong đó có 73 hiện vật bằng đồng (có cả những đồ dùng sang trọng như khay, ấm, thạp, thố, bình, âu...). Sự khác biệt giữa các ngôi mộ thể hiện sự phân biệt sâu sắc về địa vị, vai trò, tài sản... của chủ nhân chúng khi còn sống. Các nhà sử học ngày càng thống nhất, chung quan điểm khi cho rằng nhà nước đầu tiên trên đất nước ta chỉ có thể xuất hiện vào thời Văn hóa Đông Sơn - giai đoạn phát triển đỉnh cao của thời đại đồ đồng và giai đoạn đầu của thời kỳ đồ sắt. Quan điểm này được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Nhiều công trình lịch sử, xã hội học của các tác giả nước ngoài, đã dùng từ “văn minh” (civilization) thay vì “văn hóa” (culture) khi bàn về Văn hóa Đông Sơn của Việt Nam. Do vậy chỉ có thể dùng niên đại của Văn hóa Đông Sơn làm giới hạn đầu cho thời kỳ lập quốc của dân tộc ta, cách đây chừng 25 - 27 thế kỷ. Nó cũng phù hợp với ghi chép của Việt sử lược - bộ sử khuyết danh nhưng có độ chính xác cao, được biên soạn sớm nhất ở nước ta - theo đó “... Đến thời Trang Vương nhà Chu (696 - 681 TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu, phong tục thuần phác, chính sự dùng nối kết nút, truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”. SƠN HÀ congan.com.vn ] Việt điện u linh -- Lý Tế Xuyên https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_%C4%91i%E1%BB%87n_u_linh_t%E1%BA%ADp Tập truyện về cõi u linh của nước Việt) là một tập hợp các truyền thuyết về các vị thần linh Việt Nam ở vào thời xa xưa, được viết vào thế kỷ 14. Theo Đại Việt thông sử và Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí (Văn tịch chí) của Phan Huy Chú, thì Lý Tế Xuyên chính là tác giả cuốn Việt điện u linh tập, xuất bản vào khoảng năm 1329.[1] Tuy nhiên sau khi nghiên cứu, GS. Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, đã có ý phân vân khi chép rằng: "Việt điện u linh tập, nhất thuyết là của Lý Tế Xuyên, người đời Trần; nhất thuyết là của một tác giả đời Lý, sau Lý Tế Xuyên chỉ viết nối thêm vào".[2] Nói "nhất thuyết là của một tác giả đời Lý" là vì giáo sư đã đọc bài Tựa của Chư Cát thị viết năm 1774, trong đó đoạn (bản dịch): "...tập sách này làm ra từ triều Lý, từ trước sách chép của Lê Văn Hưu, để ghi lại các sự việc... Kịp đến triều Trần, chàng họ Lý (chỉ Lý Tế Xuyên) lại làm nối theo phần cuối, sưu tầm rộng khắp, góp thành tập sách này...(trích trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tr. 1100). Lý Tế Xuyên, không rõ tiểu sử, chỉ biết ông làm quan (một trong những chức vụ của ông là trông coi việc tế tự) dưới triều Trần Hiến Tông (ở ngôi: 1329-1341, đặt niên hiệu là Khai Hựu).[3] Việt điện u linh tập mà nhiều người cho rằng ông làm ra, gồm 27 thiên, chia làm 3 mục (Nhân quân, Nhân thần, Hạo khí) kể về công tích 27 vị thần [4] được thờ trong các đền miếu thời Lý -Trần. Sau, có nhiều người ở đời Hậu Lê ra công tục biên, thành ra sách có đến 4 quyển, gồm 41 truyện.[5] Trong quá trình biên soạn, tác giả có sử dụng và viết lại một số truyện vốn đã được ghi chép trong các sách Báo cực truyện (Tập truyện về lẽ cùng cực của báo ứng), Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, Giao Chỉ ký, Giao Châu ký... Ngoài ra ông còn sử dụng những tài liệu dân gian, những bản thần tích. Về sau, nhiều nho sĩ ở các đời còn tiếp tục bổ sung; hoặc sửa chữa, thêm bớt cho Việt điện u linh tập. Lược kể một số tên tuổi quan trọng: • Nguyễn Văn Chất (1422-?), là người ở huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên. Ông đỗ tiến sĩ năm 1448 dưới triều vua Lê Nhân Tông, từng làm đến Tư nghiệp Quốc tử giám và đi sứ sang Trung Quốc. Chính ông là người đã soạn ra phần Tục biên (hay Tục bổ), gồm 3 truyện cho sách (xem phần mục lục). • Cao Huy Diệu (? - ?), là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm (nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông là nội tổ của danh sĩ Cao Bá Quát. Năm 1707, ông đỗ cử nhân, rồi đỗ tiến sĩ năm 1715 đời vua Lê Dụ Tông. Buổi đầu được bổ làm tri huyện Quốc Oai, sau lần lượt trải chức Giám tu, Thị lang bộ Lại, Đốc học Hà Tiên, Thượng thư bộ Hộ (có sách chép bộ Lại). Khi còn ở chức Giám tu, ông đã ra công viết bổ chú và phần tiếm bình cho sách. Tham gia sửa chữa với ông, còn có người cùng thời là Lê Hữu Hỷ (không rõ năm sinh năm mất), là người làng Liêu Xá, tỉnh Hưng Yên. Ông thi đỗ tiến sĩ năm 1700, làm quan đến Giám sát ngự sử đốc đồng Sơn Tây. • Kim Miện Muội (? - ?), không rõ lai lịch, chỉ biết năm 1771, ông đã phụng lục và kiểm xét cho Việt điện u linh tập. Bản này hiện còn 2 quyển chép tay mang ký hiệu A. 2879 và B. 1919 thuộc trường Bác Cổ Viễn Đông. • Gia Cát thị (? - ?), là một danh sĩ ở Hồng Đô, tỉnh Hải Dương, đã từng làm Chủ bạ bộ Lễ đời vua Lê Hiển Tông. Năm 1774, sau khi san định (thêm vào non 20 truyện, bớt đi hoặc viết hẳn lại một số truyện) Việt điện u linh tập, ông đặt lại nhan đề là Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập (Sửa sang, mô phỏng và bình giải mới tập truyện về cõi u linh của nước Việt). Và trong bài Tựa, ông đã cho rằng Lý Tế Xuyên chỉ là người "làm nối theo phần cuối" sách Việt điện u linh mà thôi.[1][6] Ngoài ra, còn có Lê Tự Chi, Tam Thanh quán đạo nhân (không rõ họ tên, lai lịch), Nguyễn Hầu, Nguyễn Đình Giản, v.v... cũng đã đóng góp ít nhiều cho cuốn sách. Lĩnh Nam chích quái - Trần Thế Pháp https://phatphapungdung.com/sach-noi/linh-nam-chich-quai-179406.html https://phatphapungdung.com/sach-noi/linh-nam-chich-quai-179406.html sách nói LNCQ https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam_ch%C3%ADch_qu%C3%A1i Lĩnh Nam chích quái (chữ Hán: 嶺南摭怪; có nghĩa là "Chọn lựa những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam"), là một tập hợp các truyền thuyết và cổ tích dân gian Việt Nam được biên soạn vào khoảng cuối đời nhà Trần. Tác giả Trần Thế Pháp (? - ?), một danh sĩ đời nhà Trần, là tác giả bộ sách Lĩnh Nam chích quái. Thông tin này đã được ghi trong các sách: Vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm,[1] Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Tiến sĩ Vũ Quỳnh, trong bài "Tựa" của ông, cho biết ông đã tìm được sách Lĩnh Nam chích quái và tiến hành nhuận chính[2] vào năm Hồng Đức thứ 23 (Nhâm Tý, 1492). Tuy nhiên, trong bài Tựa không có câu nào nói về tác giả.[3] Cùng thời gian đó, tiến sĩ Kiều Phú (1447-?)[4] cũng nhuận chính cho sách, có điều là mức độ sửa chữa theo quan điểm của ông nhiều hơn, so với bản của Vũ Quỳnh. Việc làm này đã được ông nói rõ trong bài Hậu tự đề năm Hồng Đức thứ 24 (Quý Sửu, 1493). Tuy nhiên, trong bài cũng không có câu nào nói về tác giả.[5] Có tài liệu [6] nói Vũ Quỳnh và Kiều Phú cùng hợp tác để làm việc nhuận chính, nhưng xem hai bài Tựa của hai người thì không thấy nói gì đến sự cộng tác đó. Sau đó (có lẽ khoảng năm 1679), một người khác là Nguyễn Nam Kim đã làm thêm phần Tục biên gồm 4 truyện. Năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), Vũ Đình Quyền phụng chỉ soạn thêm 2 truyện. Năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757), Vũ Khâm Lân cũng có tham gia soạn thêm, vì ở truyện Trành quỷ hiển linh truyện có chỉ rõ là do Vũ Khâm Lân ghi lại. Đến đời nhà Mạc, có một nho sinh tên là Đoàn Vĩnh Phúc (từng làm việc ở Cục tú lâm, thuộc Viện hàn lâm) cũng tham gia bổ sung cho bộ sách. Đề cập đến việc làm này, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí viết: ...Hai quyển trước là sách cổ truyền, một quyển sau là do người họ Đoàn thời Ngụy Mạc, lấy ở U linh tập mà theo ý mình cắn xén để phụ vào sau.[7] Văn bản Tóm tắt đặc điểm bốn bản Lĩnh Nam chích quái hiện có ở Thư viện Khoa học Xã hội (Hà Nội): • Bản A. 33: Là bản chính đã dùng để phiên dịch sách Lĩnh Nam chích quái xuất bản năm 1960.[8] Bản này chép lại từ một bản cũ đề năm Chính Hòa thứ 18 (1697), có 2 quyển, gồm 22 truyện. Ghi các tên người: Trần Thế Pháp (biên tập), Vũ Quỳnh (hiệu đính), Kiều Phú (soạn dịch). • Bản A. 1200: Theo mục lục có 45 truyện, nhưng thiếu mất 10 truyện (từ truyện Lý Phục Man [truyện 35] đến truyện Huyền Quang [truyện 45]). • Bản A. 1300: Mất hẳn phần đầu sách, chỉ còn từ nửa đầu truyện Kim Quy (truyện 13). Bản này có mấy đặc điểm: - Sách có 3 quyển, chứ không phải 2 quyển như các bản khác. Trong sách có bài Hậu tự của Kiều Phú đề năm Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493). - Sau Mục lục, có dòng chỉ rõ phần Tục bổ (4 truyện) là của Nguyễn Nam Kim. - Ở phần Tăng bổ có 2 truyện ghi tên tác giả là Vũ Đình Quyền phụng chỉ vua Lê Hiển Tông làm năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749). - Ở phần Tục bổ, nơi truyện Trành quỷ hiển linh truyện có chỉ rõ là do Vũ Khâm Lân ghi lại vào năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757). • Bản A. 2107: Bản này ghi tên sách là Lĩnh Nam chích quái truyện, có ghi rõ là do Kiều Phú làm, nhưng trong sách không có bài Tựa của ông mà chỉ có bài Tựa của Kiều Phú. Một số tên truyện trong tập này có sửa đổi (thêm một hai chữ ở đằng trước) như: Chưng bính truyện, đổi là Lang Liêu chưng bính truyện, Tân lang truyện đổi là Cao Thị Tân lang truyện, Tây qua truyện đổi là Mai thị Tây qua truyện... Ngoài ra, PGS. TS Nguyễn Đăng Na còn cho biết ở Viện Sử học (Việt Nam) còn có bản Lĩnh Nam chích quái mang ký hiệu HV 486.[9] Vì lẽ ấy, theo nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp, Lĩnh Nam chích quái không hẳn là sách của một hai tác giả nào, mà là một bộ sưu tập truyền thuyết, truyện cổ tích, do nhiều người nối tiếp nhau sưu tập, cải biên. Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú chỉ là những người đầu tiên làm việc đó. Trong số này, Trần Thế Pháp chỉ là lời "tương truyền", văn bản không có gì chứng minh.[10] Nội dung Trong Lĩnh Nam chích quái (bản cổ, gồm 22 truyện) có những truyện thần thoại thời thái cổ như Truyện họ Hồng Bàng, Truyện Tản Viên, Truyện Đổng Thiên Vương...; có những truyện là sự tích thời Bắc thuộc như Truyện Việt tỉnh (Giếng Việt), Truyện Nam Chiếu...; có những truyện là thần tích thời Lý-Trần như Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Hà Ô Lôi... Lại có truyện hoặc gắn với nguồn gốc dân tộc Việt như Truyện họ Hồng Bàng, Truyện Ngư tinh, Truyện Hồ tinh, Truyện Mộc tinh...; hoặc có liên quan với những phong tục tập quán lâu đời của dân tộc Việt như Truyện bánh chưng, Truyện trầu cau...; hoặc có liên quan với những di tích văn hóa cổ đại của dân tộc Việt như Truyện rùa vàng, Truyện hai thần Long Nhãn và Như Nguyệt...; hoặc có liên quan với những nhân vật lịch sử như Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải,... Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, Lĩnh Nam chích quái chủ yếu có nguồn gốc ở Việt Nam, nhưng do ảnh hưởng của sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, nên có một số truyện có nguồn gốc hoặc chịu ảnh hưởng từ nước ngoài. Như Truyện Giếng Việt chịu ảnh hưởng của truyện Trung Quốc, Truyện Dạ Xoa Vương chịu ảnh hưởng của văn hóa Chiêm Thành... Mặc dù vậy, tác phẩm vẫn có một ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng ý thức quốc gia dân tộc Việt. Đặc biệt, Lĩnh Nam chích quái có nhiều truyện mang những tư tưởng, tình cảm rất phóng khoáng. Quả đây là tấm gương phản chiếu đời sống tinh thần ở một thời kỳ mà mối quan hệ đạo lý giữa người với người còn cởi mở, chưa bị những khuôn sáo, tín điều gò bó quá chặt chẽ. Lại có những truyện chịu sự hạn chế của ý thức hệ phong kiến, nhất là các truyện do các soạn giả đời sau thêm vào. Song nhìn chung, toàn bộ tập truyện vẫn thấm nhuần một tinh thần nhân đạo chủ nghĩa của văn học dân gian. Có thể ít nhiều thấy được ở đó thái độ yêu ghét của nhân dân: yêu chính nghĩa, ghét phi nghĩa, yêu điều thiện, ghét điều ác, đề cao những mối quan hệ tốt đẹp thủy chung giữa người và người.[11] Mục lục Dưới đây là mục lục tác phẩm Lĩnh Nam chích quái (bản HV 486 của Viện Sử học Việt Nam, gồm 23 truyện). • Quyển 1: 1. Hồng Bàng Thị truyện (鴻龐氏傳), chuyện về họ Hồng Bàng thời cổ. 2. Ngư tinh truyện (魚精傳), chuyện về Ngư tinh do Lạc Long Quân tiêu diệt. 3. Hồ tinh truyện (狐精傳), chuyện về một hồ ly tinh do Lạc Long Quân tiêu diệt. 4. Mộc tinh truyện (木精傳), chuyện một loại yêu quái có hình dạng và đặc tính cây từ thời cổ bị tiêu diệt thời Đinh Tiên Hoàng. 5. Đổng Thiên vương truyện (董天王傳), câu chuyện về Phù Đổng Thiên Vương. 6. Tân Lang truyện (檳榔傳), còn gọi là Sự tích trầu cau, giải thích ý nghĩa người Việt dùng trầu cau làm sính lễ khi cưới hỏi. 7. Nhất dạ trạch truyện (一夜澤傳), câu chuyện về đầm Nhất Dạ giữa Chử Đồng Tử và Tiên Dung mị nương. 8. Chưng bính truyện (蒸餅傳), là truyền thuyết về Lang Liêu làm ra Bánh chưng, mô phỏng tâm kế muốn đoạt ngôi trong xã hội Hùng vương thần thoại. 9. Tây qua truyện (西瓜傳), chuyện về sự tích quả Dưa hấu. 10. Bạch trĩ truyện (白雉傳), nói về sự kiện Việt Thường Thị cống chim trĩ trắng thời Chu Công. • Quyển 2: 1. Lý Ông Trọng truyện (李翁仲傳), câu chuyện về Lý Ông Trọng. 2. Việt tỉnh truyện (越井傳), câu chuyện cái giếng Việt vào khoảng thời Triệu Đà, hình thành cố sự về Ân vương thành (殷王城). 3. Kim Quy truyện (金龜傳), câu chuyện về Rùa thần Kim Quy. 4. Nhị Trưng phu nhân truyện (二徵夫人傳), câu chuyện thần thoại về Hai Bà Trưng theo nhãn quan thời Lý Trần. 5. Man Nương truyện (蠻娘傳), câu chuyện về Phật Mẫu Man Nương. 6. Nam Chiếu truyện (南詔傳), vắn tắt về nước Nam Chiếu. 7. Tô Lịch giang truyện (蘇瀝江傳), chuyện về Sông Tô Lịch. 8. Tản Viên sơn truyện (傘圓山傳), câu chuyện về thần núi Tản Viên. 9. Long Nhãn Như Nguyệt nhị thần truyện (龍眼如月二神傳), câu chuyện về hai vị thần của hai sông Long Nhãn và Như Nguyệt. 10. Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không truyện (徐道行、阮明空傳), câu chuyện đầy sự thần bí về Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không. 11. Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải truyện (楊空路、阮覺海傳), câu chuyện về Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải. 12. Hà Ô Lôi truyện (何烏雷傳), câu chuyện đầy tính kỳ bí về Hà Ô Lôi. 13. Dạ Xoa vương truyện (夜叉王傳), giảng giải về vương quốc Hồ Tôn Tinh trong truyền thuyết. ] [Thời kỳ hình thành nhà nước đầu tiên từ các bộ tộc hay bộ lạc -- Âu Việt, Lạc Việt https://www.youtube.com/shorts/Ml6mce1KKXg Xích Quỷ (from https://www.youtube.com/@XinChaoVietNam88/shorts) 2879 TCN / thời gian giữa thời tiền sử và Hùng vương Kinh Dương vương con trai Đế Minh vua phương Nam. Vua KDV đặt ra tục xâm mình. Bách Việt: (Điền Việt, Nam Việt, Hồ Việt phía Tây và chính giữa gần Động đình hồ thuộc Hồ Nam; Đông Việt, Mãn Việt phía Đông; U Việt phía Bắc; Lạc Việt và Chiêm Việt phía Nam...). KDV lấy con gái Long vương ở Động đình hồ sanh ra Lạc Long Quân/Sùng Lãm. SL lấy Âu Cơ sanh ra 100 con, tách ra cát cứ vùng biển và vùng núi, làm tiền đề cho nước Âu Lạc, rồi Văn Lang về sau.] Nhà Nước Đầu Tiên Của Người Việt: Nước Văn Lang Với Các Đời Vua Hùng Vua Hùng thứ nhất là Hùng Hiền Vương tức Lạc Long Quân. Con cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ là . Dưới vua có các lạc tướng, lạc hầu. Nước Văn lang (tk thứ 7 TCN): giáp nước Hồ tôn/Hồ nam; VL gồm 15 bộ lạc; kinh đô tại bộ Văn Lang. Các vua Hùng kéo dài 18 đời (kéo dài 2622 năm; 2879-257/tk thứ ba TCN). Các vua Hùng: Hùng Hiền Vương tức Lạc Long Quân.Hùng Lân Vương con cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ; tiếp theo là Hùng Diệp; Hùng Nghi; Hùng Huy (sự tích Thánh Gióng; sự tích Bánh dày bánh chưng),Hùng Chiêu, Hùng Vỹ, Hùng Định,Hùng Hy, Hùng Chinh, Hùng Vũ;Hùng Việt, Hùng Anh;Hùng Chiêu;Hùng Tạo;Hùng Nghị (Quả dưa đỏ); Hùng Duệ (vua Hùng 18) có hai con gái là Ngọc Hoa và Tiên Dung (sự tích Chữ Đồng tử và Tiên Dung; công chúa Ngọc Hoa và sự tích Thủy tinh vs Sơn tinh). Đây là thời kỳ đồ đồng và đồ sắt. • Nhà nước đầu tiên: Theo truyền thuyết và thư tịch cũ, nhà nước Văn Lang ra đời khoảng tk 7 TCN, đứng đầu là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu (Phú Thọ ngày nay). Văn lang tk7 TCN: giáp nước Hồ tôn/Hồ nam; VL gồm 15 bộ lạc; kinh đô tại bộ Văn Lang, các vua Hùng kéo dài 18 đời (kéo dài 2622 năm; 2879-257 TCN). • Văn hóa Đông Sơn (Bắc Trung phần): qua các giai đoạn khảo cổ từ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun đến văn hóa Đông Sơn rực rỡ với trống đồng là biểu tượng. • Nền kinh tế: Cư dân chủ yếu trồng lúa nước, đúc đồng, và khai thác lâm thổ sản. • Xã hội: Hình thành liên minh bộ lạc chặt chẽ, có tổ chức xã hội sơ khai. Thế kỷ thứ ba TCN, cuối đời Hùng Vương thứ 18, An Trị Vương (Thục Chế) có con là Thục Phán. Thục Phán bị vua Hùng thứ 18 từ chối không gả Ngọc Hoa, nên Thục Phán đánh Văn Lang (263TCN-257TCN?): Thục Phán thắng vua Hùng, xưng An Dương vương. Thục Phán chiếm Văn Lang, lên ngôi xưng là An Dương Vương. Âu Việt và Lạc Việt được sát nhập thành Âu Lạc. Ông cho xây thành Cổ Loa, và truyền thuyết nỏ thần về việc xây thành là dấu chứng của sự phát triển kỹ thuật cao về quân sự. https://www.youtube.com/watch?v=mHFfuffnuG0 Triệu Đà: Nghi án lịch sử ngàn năm và cuộc chiến bản sắc dai dẳng nhất Bên Tàu, nhà Tần sụp đổ với cái chết của Tần Thủy Hoàng. Ở phương Nam của Tàu, tướng Nhâm Ngao trước khi qua đời trao quyền cho Triệu Đà, tướng lưu vong của nhà Tần ở Nam Hải. TĐ muốn xưng vương một cõi, nhắm vào nước Âu Lạc mới hình thành ở phương Nam của An Dương Vương Thục Phán. TĐ bèn dùng mưu đánh chiếm thành Cổ Loa (truyền thuyết về nỏ thần làm từ móng rùa thần Kim Quy). TĐ xưng đế hiệu là Triệu Vũ Vương, sát nhập nước Nam Việt của ông với nước Âu lạc của ADV, lập ra nước Nam Phương Âu Việt tức Nam Việt, đóng kinh đô ở Phiên Ngung, 207 TCN-202 TCN?. Triều đại các vua Hùng kết thúc năm 257-208 trước CN (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư; Lĩnh Nam Chích Quái, Tứ Bất tử : Thánh Gióng/Phù Đổng thiên vương, Nguyễn Tuấn/Sơn tinh; Chữ Đồng tử/Chữ Đạo tổ; Tiên Dung/Mẫu Thượng thiên/Mẫu Liễu Hạnh), và Sử ký Tư Mã thiên). Năm 208 Triệu Đà đánh Âu Lạc của Thục Phán. Triệu Đà lên ngôi xưng là Triệu Vũ Đế, sát nhập nước mình với nước Âu lạc đặt tên là Nam Phương Âu Việt hay Nam Việt, gồm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân đặt kinh đô ở Phiên Ngung, trị vì từ 207 TCN-202 TCN. Sau đó nhà Hán tấn công chiếm Nam Việt năm 111 TCN. Từ đó các triều đình phương Bắc của Tàu lần lượt thay nhau đô hộ người Việt: thời kỳ Bắc thuộc. THỜI KỲ LỆ THUỘC TÀU (BẮC THUỘC) https://www.youtube.com/watch?v=BY4lJvG8kJo https://www.youtube.com/watch?v=zo__BPjcjPg Tóm tắt nhanh: 1000 năm Bắc thuộc https://www.youtube.com/watch?v=lOeq8pMtMsc 1000 năm Bắc Thuộc & Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta | Tóm tắt lịch sử Việt Nam. Các cuộc khởi nghĩa chống quân của triều đình phương Bắc thời Bắc thuộc. Các giai đoạn Bắc thuộc chính: • Bắc thuộc lần I (179 hoặc 111 TCN - 40): Bắt đầu từ khi Triệu Đà thôn tính Âu Lạc, sau đó nhà Hán đô hộ. • Bắc thuộc lần II (43 - 541): Nhà Đông Hán, Đông Ngô, Tấn, Tề, Lương cai trị sau khi đè bẹp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. • Bắc thuộc lần III (602 - 938): Nhà Tùy, nhà Đường đô hộ cho đến khi Ngô Quyền giành độc lập. Đặc điểm nổi bật: • Chính sách đô hộ: Phương Bắc thiết lập bộ máy cai trị, chia quận huyện, bắt nhân dân cống nạp sản vật quý, và thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa sâu sắc. • Đấu tranh giành độc lập: Dù bị kìm kẹp, các cuộc khởi nghĩa của người Việt nổ ra liên tục: Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Triệu (248), Lý Bí (542), Mai Thúc Loan (713), Khúc Thừa Dụ (905), Ngô Quyền (938) • Giữ gìn bản sắc: Người Việt vẫn giữ được ngôn ngữ, phong tục tập quán (như ăn trầu, nhuộm răng) và không bị đồng hóa hoàn toàn. Triệu Đà (Triệu Vũ Vương) chống đạo quân do Chủ Soái Đồ Thư của Tần Thủy Hoàng Triều Hán cai trị. Triệu Vũ vương qua đời, Triệu Văn vương lên ngôi, vẫn lệ thuộc tức là một phiên trấn thuộc triều đình phương Bắc năm 135-111TCN. Con TĐ kế vị sau đó là: Triệu Minh vương. Triêu Ai vương tên là Hưng. Lữ Gia, tể tướng của nhà Triệu. Vì Thái Hậu gốc nhà Hán, vua TAV còn nhỏ, Lữ Gia bèn làm loạn, phò vua Triệu Minh vương, chống lại thế lực của nhà Hán. Thời ấy có các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Sau khi nhà Hán thắng nhà Triệu, nhà Hán chia Nam Việt thành chín quận, đặt các quan Thái thú cai trị các quận. Lê văn Hưu sử gia nói: triều đại nhà Triệu, người Hoa nắm các vị trí chủ chốt trong triều đình Nam Việt. Như vậy Triệu Đà không thể là vua người Việt, mà là người Hán. Bắc thuộc (1000 năm): 110 TCN Nhà Hán đổi tên nước Nam Việt thành Giao châu chia thành chín quận:Nam hải, Hợp phố, Cửu chân, Thương ngô, Nhật nam, Châu nhai, Đạm nhĩ, Lĩnh Nam, Uất Lâm. Các Thái thú: Ít người giúp dân; phần lớn tham lam, tàn bạo. Do đó có nhiều cuộc khởi nghĩa chống sự đô hộ của Tàu. Thái thú Tích Quang (Giao Chỉ) và Nhâm Diên (Cửu Chân). Năm 30 Tô Định là Thái thú. Thi Sách chồng của Trưng Trắc (Mê Linh), bà có em là Trưng Nhị. Tháng hai năm 40 TT và TN phát động cuộc khởi nghĩa. Hai bà thắng Tô Định, lên ngôi tức Trưng Vương. Nhưng năm 42-43, hai bà bị Mã Viện đánh bại, hai bà nhảy xuống sông Hát tự tử. Năm 44 MV về nước. https://www.facebook.com/100063628642963/videos/671238403776628?__so__=permalink Năm 187 Sỹ Nhiếp là Thái thú. Năm 201 Lý Tiến thứ sử Giao châu, Lý Cầm túc vệ của triều đình. Năm 226 Sỹ Nhiếp mất. Thời kỳ các vua Tàu đời Đông Ngô (Bà Triệu/Lệ Hải Bà vương và anh của Bà khởi nghĩa; Tôn Quyền diệt quân khởi nghĩa), Tấn, Tống, Tề, Lương (Lý Bí khởi nghĩa; Lý Nam đế, Nam Việt vương, Vạn Xuân; Triệu Việt vương, Lý Phật Tử/Hậu Lý Nam đế), Tùy, Đường chia nước ta thành 12 châu để đô hộ. Mai Thúc Loan/Mai Hắc đế năm 722 khởi nghĩa giành quyền tự trị. Phùng Hưng, Phùng An là con tiếp nối. Năm 905-907 Khúc Thừa Dụ, con là Khúc Hạo thời nhà Hậu Lương đô hộ. Khúc Thừa Mỹ, con KH, năm 917, thua Nam Hán. Kiều Công Tiễn sang cầu cứu Tàu. KCT và Hoằng Tháo bị Ngô Quyền đánh bại dùng cọc đóng ngầm dưới thủy triều trên Bạch Đằng. Cuối năm 938- 939, chiến thắng quan trọng lập quốc độc lập tự chủ, NQ lên làm vua đóng đô ở Cổ Loa.. Sau khi NQ mất dòng họ Ngô cai trị thêm ít năm rồi tiếp theo sau triều Ngô là thời kỳ loạn lạc kéo dài gọi là Thập nhị xứ quân.

Saturday, April 25, 2026

THIỀN trong thơ Nguyễn Duy

ÁNH ĐÈN TRÚC CHỈ và HƠI THỞ THIỀN trong thơ Nguyễn Duy Tô Văn Trường Có những cuộc gặp gỡ không chỉ là kỷ niệm, mà trở thành một dạng “thiền duyên” - nơi con người, thơ ca và thời cuộc chạm vào nhau trong một khoảnh khắc vừa thực vừa hư. Tôi nhớ thập niên 90 của thế kỷ XX, có dịp cùng nhà thơ Nguyễn Duy tháp tùng ông Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) đi khảo sát vùng Tứ giác Long Xuyên. Những chuyến đi dài, đất còn hoang, nước còn nặng phù sa, và câu chuyện mở đất khi ấy không chỉ là chuyện kinh tế, mà là đánh thức một vùng năng lượng đang ngủ quên. Trong một lần dừng chân, Nguyễn Duy đọc lại “Đánh thức tiềm lực”. Tôi không còn nhớ hết từng câu chữ, chỉ nhớ một cảm giác rất lạ: bài thơ khi ấy không còn là thơ nữa. Nó như chạm vào đất, vào người, vào cái đang chờ được gọi tên. Nhiều năm sau, cách đây chừng ba năm, tôi lại gặp ông. Nguyễn Duy khi ấy đã yếu, phải chống gậy, nhưng vẫn lặn lội về quê lúa thăm bạn già. Và cũng như một duyên cũ chưa dứt, ông lại đọc “Đánh thức tiềm lực”. Vẫn bài thơ ấy, nhưng không còn là tiếng gọi của một thời mở đất, mà như một lời tự đánh thức – lặng hơn, sâu hơn, như chạm vào chính phần tiềm lực đang dần khép lại của đời người. Hai lần nghe, hai không gian, hai trạng thái của đời người nhưng là một dòng chảy. Có lẽ từ những khoảnh khắc ấy, tôi hiểu thơ Nguyễn Duy theo một cách khác: không chỉ là ngôn từ, mà là một dạng tỉnh thức – một cách đánh thức không chỉ tiềm lực của đất, mà của chính con người, trong mỗi chặng đời. Nguyễn Duy, trong con mắt nhiều người, là nhà thơ của đời sống, của chiến tranh, của cây tre bền bỉ và dân dã. Nhưng phía sau những vần thơ quen thuộc ấy, còn có một Nguyễn Duy khác - lặng lẽ, thâm trầm, và gần như “vô vi” khi ông bước vào thế giới của thơ thiền. Cuộc triển lãm “Thơ Thiền Lý-Trần” năm 2007 tại Boston, và hành trình trở về TP.HCM sau 19 năm, không chỉ là một sự kiện văn hóa, mà còn giống như một vòng luân hồi của thi ca: đi xa để trở về, mất dấu để hiển lộ. Trong dòng chảy ấy, bài thơ “Quốc Tộ” của Thiền sư Pháp Thuận hiện lên như một hạt nhân tinh thần. Không dài, không phô diễn, nhưng lại chứa đựng một tầm nhìn rộng lớn về vận nước và đạo trị quốc. Bốn câu thơ như bốn nhịp thở ngắn gọn, cô đọng, nhưng lan tỏa một nguồn năng lượng tĩnh tại mà sâu xa: Quốc tộ như đằng lặc Nam thiên lí thái bình Vô vi cư điện các Xứ xứ tức đao binh Nguyễn Duy, bằng cảm quan hiện đại nhưng vẫn giữ được linh khí cổ xưa, đã chuyển tải bài thơ ấy sang một dạng ngôn ngữ vừa gần gũi vừa huyền ảo: Bời bời vận nước quấn mây Trời Nam mở lượng đó đây thái bình Thiền tâm thấm tận triều đình Thì nhân gian dứt đao binh đời đời Có thể nói, đây không đơn thuần là một bản dịch, mà là một sự “chuyển kiếp” của thi ca. Nguyễn Duy không chỉ chuyển nghĩa, mà chuyển cả khí, cả thần. Cái “đằng lặc” trong nguyên tác - hình ảnh dây leo quấn quýt trở thành “bời bời vận nước quấn mây”, mở ra một không gian vừa rối ren vừa linh động. Vận nước không còn là một khái niệm chính trị khô cứng, mà là một dòng năng lượng đang vận động, có thể xoắn lại, có thể bung ra. Điểm đặc biệt ở đây là Nguyễn Duy không cố gắng “hiện đại hóa” bài thơ theo nghĩa làm mới bề mặt, mà ông đi sâu vào tinh thần thiền - nơi mọi thứ đều không cố định, không bám chấp. Chính vì thế, câu “Vô vi cư điện các” được ông chuyển thành “Thiền tâm thấm tận triều đình”. Đây là một lựa chọn đáng suy ngẫm. “Vô vi” - một khái niệm cốt lõi của triết học Đông phương không phải là không làm gì, mà là hành động trong sự thuận theo tự nhiên, không cưỡng cầu. Nguyễn Duy không giữ nguyên từ “vô vi”, mà thay bằng “thiền tâm”, như muốn nhấn mạnh rằng gốc rễ của trị quốc không nằm ở hành động bên ngoài, mà ở trạng thái nội tâm. Chính chỗ này, thơ Nguyễn Duy chạm vào một tầng sâu hơn của hiện thực. Khi ông Sáu Dân nghe bài thơ “Đánh thức tiềm lực” và thốt lên “đau nhưng chịu được”, đó không chỉ là phản ứng trước một tác phẩm, mà là sự cộng hưởng giữa thi ca và thực tại. Cái “đau” ở đây có thể là nỗi trăn trở về đất nước, về những tiềm lực chưa được khai mở. Nhưng “chịu được” bởi vì trong cái đau ấy, vẫn có một niềm tin, một khả năng chuyển hóa. Thơ thiền của Nguyễn Duy, vì thế, không phải là sự lánh đời, mà là một cách đối diện với đời ở mức sâu nhất. Ông không rao giảng, không triết lý trực tiếp, mà để cho hình ảnh và nhịp điệu tự nói. Điều này rất gần với tinh thần của thiền: không giải thích, không áp đặt, mà gợi mở. Hình ảnh khung đèn trúc chỉ ở Huế, nơi bài thơ “Quốc Tộ” được chế tác thành một tác phẩm nghệ thuật, là một biểu tượng đẹp cho sự giao thoa giữa thơ và đời. Ánh sáng xuyên qua lớp giấy trúc, mang theo từng câu chữ, tạo nên một không gian vừa hữu hình vừa vô hình. Đó cũng chính là bản chất của thơ thiền: không nằm hoàn toàn trong chữ, mà trong khoảng trống giữa các chữ. Nguyễn Duy giữ khung đèn ấy trong nhà, như giữ một ngọn đèn tâm thức. Mỗi lần nhìn vào, có lẽ không chỉ là nhớ về một bài thơ, mà là nhớ về một trạng thái - trạng thái của sự tĩnh lặng giữa biến động. Việc triển lãm trở về TP.HCM sau 19 năm càng làm rõ thêm ý nghĩa của hành trình này. Thơ thiền không bị “lưu lạc”, mà chỉ đang đi qua những không gian khác nhau để tích tụ thêm năng lượng. Khi trở về, nó không còn là chính nó của ngày xưa, mà đã mang theo những lớp nghĩa mới, những trải nghiệm mới. Có một điều thú vị là thơ thiền, dù ra đời từ hàng nghìn năm trước, lại có khả năng đối thoại với hiện tại một cách mạnh mẽ. Trong một thế giới đầy biến động, nơi con người dễ bị cuốn vào tốc độ và áp lực, những câu thơ như “Vô vi cư điện các” hay “Thiền tâm thấm tận triều đình” trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Chúng nhắc nhở rằng mọi thay đổi bên ngoài đều bắt đầu từ bên trong. Nguyễn Duy, bằng cách của mình, đã làm sống lại những giá trị ấy mà không biến chúng thành bảo tàng. Ông không đóng khung thơ thiền trong quá khứ, mà đưa nó vào dòng chảy hiện đại. Và chính vì thế, thơ ông vừa có tính lịch sử, vừa có tính đương đại. Nếu nhìn rộng hơn, có thể thấy hành trình của thơ thiền Nguyễn Duy cũng là hành trình của văn hóa Việt Nam: đi qua chiến tranh, qua những biến động, qua những lần “lưu lạc”, nhưng vẫn giữ được một lõi tinh thần. Lõi ấy không ồn ào, không phô trương, nhưng bền bỉ giống như cây tre trong thơ ông. Khi nhớ lại hình ảnh Nguyễn Duy chống gậy về quê lúa thăm bạn già, đọc lại bài thơ “Đánh thức tiềm lực”, ta thấy một sự nối dài của thời gian. Con người có thể già đi, nhưng thơ thì không. Nó chỉ thay đổi cách hiện diện. Và trong sự hiện diện ấy, luôn có một khoảng lặng - nơi người nghe, người đọc, và chính tác giả có thể gặp lại mình. Có lẽ, điều hấp dẫn nhất của thơ thiền Nguyễn Duy chính là sự “không hoàn tất”. Mỗi lần đọc, mỗi lần nghe, lại mở ra một cách hiểu khác. Nó không đưa ra câu trả lời, mà đặt ra những câu hỏi không phải để giải, mà để sống cùng. Và trong ánh sáng mờ ảo của chiếc đèn trúc chỉ, bài thơ “Quốc Tộ” vẫn tiếp tục ngân lên không chỉ như một lời tiên tri về vận nước, mà như một lời nhắc nhở về cách con người có thể sống: nhẹ hơn, sâu hơn, và tỉnh thức hơn giữa những “bời bời” của đời sống. Đó, có lẽ, là dấu lặng đẹp nhất mà Nguyễn Duy để lại - một dấu lặng không kết thúc, mà mở ra. https://www.facebook.com/hoang.thuy.hung.2025/posts/pfbid02LNS79tEDwQUy33qFksrEy1cxHmDo8EfzTFiXG3QBbMaHYsDQrMko3L57cdqBEQd2l

Friday, April 24, 2026

26 hang động mới ở Phong Nha - Kẻ Bàng

https://tuoitre.vn/phat-hien-26-hang-dong-moi-o-phong-nha-ke-bang-co-hang-dac-sac-dai-4-2km-20260424161626802.htm Phát hiện 26 hang động mới ở Phong Nha - Kẻ Bàng, có hang đặc sắc dài 4,2km

'Self-Aware' Robots (Switzerland) -- Self-Awareness and Consciousness

https://www.npr.org/2025/03/28/nx-s1-5178103/road-safety-tips-highway-emergencies 'Self-aware' robots can learn complex tasks by watching humans. Is that a good thing? April 24, 20266:00 AM ET By Katia Riddle Scientists have used machine learning to help robots learn how to do new tasks even in changing conditions. Malte Mueller/Getty Images Imagine a robot that could do your laundry, make your bed, cook your dinner, or stock the dairy section at your local grocery store. Humans have long been able to teach robots how to do individual tasks, but instructing them on these more sophisticated jobs has been an elusive goal, despite billions of dollars invested into robotics. Now, a team of scientists in Switzerland has made progress in the quest to invent helpful robots that can act on complex instruction from humans. The development raises questions about whether this kind of technology could someday learn not only to help humans, but to also become capable of harming them. Inventing the personal barista For years, robotics scientist Sthithpragya Gupta has been dreaming about the things his robot might do. "I personally want the robot to make me a coffee," says Gupta. He and his colleagues at École Polytechnique Fédérale de Lausanne — an engineering school in Switzerland — keep late hours at their lab in the Swiss Alps. "There's a lot of coffee consumption," says Gupta. "If I could just say 'a little bit of sugar, a bit more creamer,' stuff like that," he says. "That would be a dream come true." A problem that robotics scientists and engineers like Gupta have long battled is that robots cannot do tasks beyond those they are specifically programmed for. Gupta uses a tennis example to explain the issue. Robots may be able to learn how to hit a backhand shot, he explains. They can backhand that ball perfectly again, and again, and again. But if conditions change — say, their opponent moves, or the light changes — it all falls apart. Humans have no problem adjusting to these kinds of changes. Teaching a robot how to adapt, though, is much more difficult. "It's very difficult to transfer this behavior from humans to robots," says Gupta. Until now, he hopes. Gupta and his colleagues have published a paper in the journal Science Robotics demonstrating a new way of teaching robots using machine learning, a type of artificial intelligence. The approach relies on kinematic intelligence — a robot's built-in awareness of how its own body can move safely through space. In a video demonstrating their technology, robots with a single arm attached to a base watch as a human instructor tosses a ball into a small container. The robots then pick up the ball and copy the instructor's behavior, adjusting for their own position and accommodating their non-human bodies. Robots are then capable of transferring these skills and knowledge to other robots. "It could be a turning point," says Robert Platt, who studies engineering and robotics at Northeastern University. Platt, who called the work a "breakthrough," noted that the field of robotics is not in widespread agreement about the path forward to creating effective robots through machine learning — but that most agree the problem these researchers are tackling is a critical one. "More people may do this in the future," he said. Platt was hesitant to forecast any particular timeline for robots becoming widespread household accessories. "We're at a point of very fast change," he notes. " Part of the reason why I hesitate to make predictions — look what happened with large language models," he says, referring to generative AI chatbots such as ChatGPT or Claude that have been widely adopted. "We were a long way away and then all of a sudden — we weren't." A fine line between self-awareness and consciousness If a robot can self-correct and teach others, does that make it self-aware? " It looks like this robot is capable of doing some very impressive feats of learning," says Susan Schneider, who studies artificial intelligence at Florida Atlantic University. "But that doesn't mean something has full-blown consciousness or inner awareness in the sense that biological beings have it." Schneider points out that a critical distinction between robots and humans is feeling. "Consciousness is the felt quality of experience," she says. "When you sip your morning espresso shot, when you see the richness of the sunset, when you have a headache, it feels like something from the inside to be you." But this lack of consciousness poses new questions about ethics. "It immediately raises alarm bells in any AI safety researcher's mind," says Schneider. Later versions of this kind of technology, she says, could potentially be weaponized against humans. Researchers have taken care to include safety protocols to ensure that robots aren't able to hurt people. Even they acknowledge, however, that future development of this technology will need guardrails. " I think really soon we should have regulatory frameworks on who operates a robot and how," says Gupta. Humans are at an inflection point with robotics, says Susan Schneider. "It's a very exciting time," she says, "and we just don't know where it's headed." Related: https://www.npr.org/2026/04/20/nx-s1-5785241/these-robots-can-figure-out-how-to-do-a-task-after-watching-humans-do-it https://www.npr.org/2025/05/12/1250811320/its-actually-really-hard-to-make-a-robot-guys https://www.npr.org/2025/09/11/nx-s1-5532095/where-word-robot-came-from-rur

Road Safety Tips for Car Drivers

What To Do When There's A Flash Flood Warning While You're Driving https://www.npr.org/2021/10/28/1050148981/what-to-do-when-theres-a-flash-flood-warning-while-youre-driving https://www.npr.org/2025/03/28/nx-s1-5178103/road-safety-tips-highway-emergencies 1. DON'T speed. It can make it harder to avoid potential hazards on the road, and it can make car crashes more severe, Carias says. If someone is tailgating you, "move over one lane and let them pass. There's no reason for you to speed up." 2. DO call 911 if you're being threatened by another driver. "If someone is brandishing a firearm or a car has been following you, contact 911," Carias says. Don't engage. Officers will send help. If they can't get to your location on the highway, "Don't stop. Our dispatch will stay on the phone with you and give you directions to a designated location, where an officer will try to meet you." 3. DON'T slam the brakes if you have engine trouble on the highway. If your car stalls or runs out of gas on the road, put your hazard lights on right away and release the accelerator, Carias says. "Try to veer to the right shoulder of the freeway and come to a safe stop," then call roadside assistance or 911. Sitting in the passenger's seat can be safer than sitting in the driver's seat if you're parked on the right shoulder of the road awaiting help. And remember to buckle up. Klaus Kremmerz for NPR 4. DO hop into the passenger seat while waiting for help in the right shoulder lane. It can be safer than sitting in the driver's seat. You want to position yourself as far away from traffic as possible. And buckle up, Carias says. 5. DO get as far away from your car as possible if you see smoke or flames coming out of the engine. In the event of a car fire, pull over, turn off the engine and move yourself at least 100 feet away from the burning vehicle, according to the U.S. Fire Administration. Don't try to fight the fire. 6. DO slow down in extreme rainy conditions. "Give yourself more time to be reactive" to road hazards, Carias says. And turn on your headlights. Rain can make it hard to see the road and for other drivers to see you. "I have a little saying that goes, 'if your wipers are going, your headlights are glowing.'" 7. DON'T accelerate or slam the brakes if you're skidding on ice. "Once you've already started sliding, you're kind of going along for the ride," Carias says. Cautiously turn your wheel in the direction you want the car to go, and straighten the wheel as you feel the car straighten out, according to AAA. 8. DON'T turn on your high beams in heavy fog. "Fog is essentially water molecules. Shining bright light at those molecules is just going to reflect that light back to you and make it harder to see," Carias says. Instead, turn on your headlights and fog lamps if you have them. The moment your car falls into a body of water, unbuckle your seatbelt and roll down the windows. Don't open the door. 9. DO unbuckle your seatbelt and start to roll down the windows the moment your car falls into a body of water. "Don't try to open the door," Carias says. Once a vehicle is more fully submerged, the pressure from the water against the windows and doors can make it difficult to open them. Escape through the open window and exit to safety. If you can't roll down the window, "do your best to shatter the window using your elbow or whatever you can," Carias says. For peace of mind, purchase a window punch to keep in your car. Sponsor Message 10. DO keep emergency supplies in your car. That includes a first aid kit, water, jumper cables, a flashlight and blankets, Carias says. AAA also recommends keeping a basic set of tools and road flares or reflectors. Source: npr.org This episode was produced by Margaret Cirino. The digital story was edited by Meghan Keane. The visual editor is Beck Harlan. We'd love to hear from you. Leave us a voicemail at 202-216-9823, or email us at LifeKit@npr.org.