Tuesday, March 17, 2026

Cảm nhận Berlin: Từ Rhinstrasse đến Đồng Xuân (Kỳ 1)

https://baotiengdan.com/2026/03/11/cam-nhan-berlin-tu-rhinstrasse-den-dong-xuan-ky-1/ Cảm nhận Berlin: Từ Rhinstrasse đến Đồng Xuân (Kỳ 1) 11/03/2026 Nguyễn Thọ 11-3-2026 Cuối tuần qua tôi lại quay về Berlin, nơi tôi trải qua tuổi trẻ những năm 1960 thế kỷ trước. Từ năm 1991 sang Köln định cư đến nay, tôi đã quay về Berlin cả chục lần và luôn chứng kiến sự thăng trầm của cộng đồng người Việt ở đây. Những năm đầu sau thống nhất nước Đức, khi Chủ nghĩa Xã hội ở miền Đông sụp đổ thì mấy chục ngàn người Việt cũng mất phương hướng. Tự do và hàng hóa phương Tây tràn vào không thay thế được mối lo thất nghiệp, nỗi sợ cho tương lai. Người ta tung tóe, đổ xô nhau buôn bán, chộp giật. Nhiều người lãnh tiền đền bù 3.200 DM để về nước, nhưng không ít kẻ sau khi tiêu hết số tiền đó lại “Đức quay”. Dù sao chộp giật ở một đất nước mà tất cả còn đang ngơ ngác vẫn dễ hơn xứ trời Nam, nơi “đánh quả” là phương sách ngự trị từ sau năm 1975. Thế là những “Ghetto cao tầng” lần lượt xuất hiện ở Đông Đức. Đó là những tòa nhà lắp ghép 5-6 tầng với hàng trăm phòng ký túc xá, từng được CHDC Đức dành cho công nhân nước ngoài. Công nhân đi làm cả ngày, tối về nấu nướng ăn uống, may vá và cuối tuần là nơi trao đổi hàng hóa, mua bán, đóng thùng gửi hàng về nước. Tuy lối sống đậm chất nông dân Việt đã làm cho các “Chung cư thợ” (Arbeiterwohnheim) đó khác hẳn các tòa cao tầng của người Đức về tiêu chuẩn vệ sinh, sự ngăn nắp và tiếng ồn. Nhưng các ông quản lý người Đức vẫn giữ được chúng trong một khuôn khổ tạm chấp nhận được. Bức tường Berlin đổ khiến nước CHDC Đức qua đời. Người Việt thất nghiệp chỉ biết tự nuôi sống bằng cách của mình. Tất cả các khu nhà tập thể đương nhiên trở thành cái chợ, thành nhà kho, văn phòng bán buôn, quán ăn, tiệm cắt tóc v.v. và v.v. Tòa nhà Rhinstrasse 85 từng là một trong những ghetto như vậy. Gọi là ghetto, vì chỉ có người Việt sống chen chúc trong đó, người Đức không dám bén mảng đến. Kể cả cảnh sát cũng ngại vào, nếu không có án mạng. Năm 1994 tôi có việc phải vào đó. Thật khiếp đảm khi đi trong cái hành lang sặc một loại mùi hổ lốn từ thuốc là, mùi tanh cá và nước mắm pha dầu cù là, mờ mờ khói nhang. Tôi suýt phát nôn khi nhìn thấy một bồn tắm nước đỏ lờ lờ, chứa đầy lòng lợn, tanh mùi máu. Ông bạn rủ ngồi lại “làm bát cháo lòng với tiết canh!”, nhưng tôi phải bỏ chạy ngay. Cả một thời kỳ dài hơn chục năm trời, báo chí Đức hay nhắc đến Zigaretten-Mafia (mafia thuốc lá) sau những vụ án mạng do tranh chấp lãnh địa và bảo kê. Tất cả người Việt kinh doanh đều khiếp sợ các băng đảng mang súng AK của “Bộ đội khu 4”. TV-Đức hay đưa những mẩu tin về ráp bố (Razzia) các khu chợ cóc bán quần áo, tạp phẩm của người Việt. Niềm hân hoan thống nhất nước Đức đem lại cho người Việt từ hai miền cũng không kéo dài. Những ngày sau khi bức tường đổ, người Việt Tây Berlin giang tay đón những người đồng bào “mới được giải phóng”. Người miền Đông, được gọi là “Cộng”, tuy ngại ngùng nhưng cũng sẵn sàng đón nhận những cử chỉ đùm bọc của các bác “Kiều” miền Tây, vốn đã hội nhập vững vàng vào xã hội tư bản. Ngày đó không có “ba que” không có “bò đỏ, bò vàng”. Rồi “Kiều” giúp “Cộng” làm đơn xin tỵ nạn, xin trợ cấp xã hội mà không cần biết đến “hòa giải, hòa hợp dân tộc”. Chỉ một thời gian sau, sự khác biệt về văn hóa, về lối sống lại xé hai cộng đồng này ra khỏi nhau. Các bác “Kiều” quay lại với nhau trong các hội “Người Việt ty nạn”. Ngày Tết ngày lễ họ vẫn tụ họp, dưới lá cờ tam tài và bài ca “Tiếng gọi công dân” [1] để nhớ về quê hương. Ở Đông Berlin, các hội “Đồng hương”, “Phụ nữ”, “Cựu chiến binh” mọc lên như nấm. Ngày Tết, lễ bà con vẫn quây quần, quân phục, quân hàm, hát vang bài ca “Năm anh em…”, hoặc “Như có Bác Hồ…”, bất kể là đang đang xin tỵ nạn chính trị hay bán thuốc lá chui. Bức tường trong đầu bỗng mọc lên, vô hình nhưng sừng sững. Giữa vết cắt Bắc – Nam đó có một thứ không thể bị xé. Đó là những gia đình “xuyên vĩ tuyến”. Khối chàng sinh viên miền Nam đã yêu cô thợ dệt, thợ may Bắc. Có anh bộ đội Bắc sau ra quân được sang Đông Đức “đổi đời”. Chưa kịp đóng hòm to, hòm nhỏ gửi về thì nhà máy sập tiệm. Mò sang Tây Đức làm phụ bếp tiệm ăn chưa lâu anh đã phải lòng cô gái con ông chủ gốc Nam. Nhiều mối tình vẫn bền đến hôm nay. *** Dân tộc Đức cũng không thoát khỏi bức tường vô hình trong đầu. Sau những ngày ôm nhau trong nước mắt, mừng hội ngộ, Đông Đức trở về với bi kịch của chế độ bao cấp XHCN đang đổ vỡ. Các xí nghiệp quốc doanh đều đóng cửa vì dùng đồng DM để thanh toán nên mất hẳn sức cạnh tranh. Có nhà máy được bán với giá tượng trưng 1,0 DM mà cũng không ai mua. Thất nghiệp tràn lan. Dân tình bỏ đi. Đông Berlin bỗng vắng vẻ điêu tàn với những con phố mà toàn bộ mặt tiền lở lói thảm hại. Người ta đổ tội cho bọn ngoại quốc làm cho họ mất việc, đổ tội cho bọn tư bản miền Tây sang đây bóc lột. Phát xít mới thắng thế. AfD đang dần trở thành lực lượng chính trị mạnh nhất Đông Đức. Nước Đức thống nhất không tốn viên đạn, không ai bị trả thù, một cô đoàn viên chế độ cũ được làm thủ tướng suốt 16 năm. Sách báo, phim ảnh XHCN nay vẫn lưu hành… Vậy mà bức tường trong đầu vẫn xuất hiện. Thế thì cái hố ngăn cách giữa người Việt với nhau không hề dễ xóa bỏ, khi vẫn còn nhiều kẻ cố tình hay vô ý cầm xẻng đào tiếp. *** Tuy người Việt và người Đức khác nhau rất nhiều, nhưng có một điều giống nhau không thể chối cãi, đó là tính chăm chỉ, cần cù. Một chính khách nào đó của Đức từng nói: “Người Việt là người Phổ Á châu” (Vietnamesen sind die Preussen Asiens). Đức tính chung này cùng đưa đến một kết quả: Đông Đức sau 30 vất vả, khốn khổ nay đã hồi phục. Hôm nay tôi không thể phân biệt được là mình đang đi ở Đông hay Tây Berlin nữa. Những người Việt bán thuốc lá lậu, bán rau, bán hoa, quần áo cũng vậy. Họ đã thoát khỏi cảnh rét run đứng bên cạnh xe hàng từ sáng đến tối, lúc nào cũng lo bị cảnh sát chộp. Một tầng lớp doanh nhân mới đã hình thành và những trung tâm thương mại Đồng Xuân, Thái Bình Dương ra đời để thay thế những ghetto Rhinstrasse. Tất cả các bước thăng trầm này cũng được Minh Thứ, một cậu em rất giang hồ ở Berlin kể lại trong cuốn “Những Mảnh Đời Phiêu Bạt” [2] bằng lối viết sinh động và chân thực. *** Nhưng cho dù là Đồng Xuân, Thái Bình Dương, Sapa (Praha) hay Chợ Hổ (Budapest) thì chúng vẫn là những “cái chợ” kiểu Việt Nam theo đúng nghĩa. Cho dù chính quyền Berlin đã đặt tên cho bến tàu điện “Herzbergstr/ Dong Xuan”, thì công an và phòng thuế vẫn coi đây là địa bàn hoạt động của mafia và bọn trốn thuế. Có lần tôi vào một quán ăn khang trang trong chợ, bỗng ngạc nhiên nhìn thấy khẩu hiệu “Chào mừng đồng chí A, ủy viên TƯ Đảng, Bộ trưởng bộ B. đến thăm Berlin! Ngày… tháng”. Mặc dù đã một tuần trôi qua mà tấm khẩu hiệu vẫn hiên ngang treo trên cái sân khấu có đàn organ, bộ trống kèn sáng lòe, như muốn kéo dài cảm giác tự hào cho ông chủ quán. Sự vươn lên từ Rhinstrasse đến Đồng Xuân là không nhỏ, nhưng vẫn thiếu vắng chất văn hóa đáng phải có sau 35 năm hội nhập. Tôi đến Berlin lần này để giới thiệu sách “Xuyên Qua Mọi Chiến Tuyến”. Buổi họp mặt đã được các bạn Thu Ha Do, và Nguyen Ngoc Hoa chuẩn bị chu đáo, với sự ủng hộ của Madam Tuyết. Anh Phạm Duy Thoại, giáo sư nhãn khoa và bạn Trương Hồng Quang, một nhà nghiên cứu văn học Đức/ Việt nhận giúp đỡ về nội dung. Những gì cảm nhận được trong hai ngày tại trung tâm sự kiện Madam Tuyết Herzbergstr. 57 đã khiến tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. (Còn tiếp) [1] “Tiếng Gọi Thanh Niên”, nhạc và lời Lưu Hữu Phước 1941. Năm 1956 nhà nước VNCH đổi thành “Tiếng gọi Công Dân” và coi là quốc ca. [2] Minh Thứ, Những Mảnh Đời Phiêu Bạt. NXB Văn Học 11.2025
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/1-41.jpg Ghi chú của tác giả: Buôn bán thuốc lá lậu trong những năm 1990 ở Đông Đức. Nguồn: Spiegel
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/2-9.jpg Bên tàu điện Herzbergstr/ Dong-Xuan ngay trước mặt chợ Đồng Xuân Berlin. Nguồn: VnExpress https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/03/2-8-195x300.jpg Ghi chú của tác giả: Ảnh bìa bút ký “Những Mảnh Đời Phiêu Bạt” là một bức tranh sống động về cuộc đời chìm nổi của phần đông người Việt Đông Berlin.

Monday, March 16, 2026

The national security crisis no one in D.C. is talking about

https://wamu.org/story/26/03/10/the-national-security-crisis-no-one-in-d-c-is-talking-about/ NOTUS | Mar 10 The national security crisis no one in D.C. is talking about Anna Kramer Potomac River Keeper Dean Naujoks, holds a biohazard collection bag while standing alongside the site where a massive pipe rupture has sent sewage spilling into the Potomac River, Friday, Jan. 23, 2026 in Glen Echo, Md. Cliff Owen / AP This story was originally reported in NOTUS, a nonpartisan newsroom from the Allbritton Journalism Institute. The worst-case scenario would begin with a boil water warning. By the next morning, faucets and toilets in the nation’s capital would spew brown water — even at the Capitol, the White House and the Pentagon. Schools and businesses would have to close, and Congress would go out of session indefinitely. Life in the contamination zone would come to a standstill. It takes just 24 hours for the region to exhaust its backup water supply. It takes just one month without drinking water for the region to lose $6 billion worth of economic growth. Washington has narrowly avoided this scenario three times in the last six years — most recently in January, when a sewage pipe collapsed and millions of gallons of wastewater spilled into the Potomac River. For weeks, the city and surrounding states have been dealing with a challenging environmental disaster. Had the Potomac Interceptor sewer line burst several miles up the river, it had the potential to devolve into a full-blown national security crisis. “There is no direct pumping to the White House versus Mrs. Smith in the Seventh Ward,” said Cynthia Mitchell, the spokesperson for the Baltimore district of the U.S. Army Corps of Engineers. “You’re looking at contingency measures for all of the hundreds of agencies throughout D.C. and NOVA, as well as the Pentagon and the White House.” Contamination levels in the Potomac river are improving. But even as this crisis fades from public memory, the region’s drinking water remains at extraordinary risk. The Potomac River feeds the Washington Aqueduct. Run by the Corps, the aqueduct is the only source of drinking water for the region. It remains vulnerable not only to future sewage spills from the old and corroding Potomac Interceptor, but also to chemical spills from freight trains, severe algal blooms and sabotage. Currently, there is no backup plan if D.C.’s water becomes seriously contaminated. And the political will to secure one has yet to materialize.
https://wamu.org/wp-content/uploads/2026/03/AP26051802127113-1600x1067.jpg District of Columbia Mayor Muriel Bowser attends at a news conference regarding the Potomac Interceptor break, Friday, Feb. 20, 2026, in Washington. (AP Photo/Allison Robbert) In late 2019, two freight cars fell off the tracks and into the Potomac River near Harpers Ferry, West Virginia. The freight line frequently carries oil and chemicals. These freight cars, luckily, were empty. “If they were filled with a harmful chemical, or oil or something like that, it would be a different story altogether,” said Michael Nardolilli, the executive director of the Interstate Commission on the Potomac River Basin, an advisory organization created by Congress to oversee pollution and water-use issues that affect multiple states and the District of Columbia. “Oil, of course, is a major concern, because it really would foul up the machinery if it got in,” he added. Less than four years later, on July 3, 2024, a dense bloom of algae mushroomed across the Potomac and clogged one of the water-treatment facilities in the Washington Aqueduct, forcing the available drinking water supply to drop precipitously. Because the Washington Aqueduct was originally designed to pump water for fire suppression, the Army must shove water through the system, even if its water becomes undrinkable. “We found ourselves getting very close to: Do we need to flip that switch and make that call? And keep pushing water, because now you’re looking at the Fourth of July, which is coincidentally the biggest fire-suppression need day of the year, right? And we cannot fail that mission,” Mitchell said. The Corps came within just a couple of hours of making that decision. These two near catastrophes passed with little public awareness about what had been avoided. And with no sense of crisis, there was no new reckoning about the need for a plan. And then came January 2025. The Potomac Interceptor pipe collapsed, spilling hundreds of millions of gallons of sewage into the river. It was yet another close call. “This is unprecedented,” Nardolilli said of the clean up efforts after the Potomac Interceptor break. “We really don’t know what the impact would be on drinking water if the same scenario happened above the intakes.” Raw sewage is seen where three interceptor pipes are inserted into a larger pipe after a pipe rupture is sending raw sewage into the Potomac River, in Glen Echo, Md., Friday, Jan. 23, 2026. (AP Photo/Cliff Owen) https://wamu.org/wp-content/uploads/2026/03/AP26023673109775-1600x1065.jpg
Washington does not have a backup for drinking water. It doesn’t even have a plan for a backup. What it does have is a study. Next year, the Army Corps of Engineers is expected to finish its evaluation of possible back up sources of drinking water for the District of Columbia and surrounding Virginia cities. The study was funded in December 2022, when Del. Eleanor Holmes Norton finally persuaded Congress to pony up the $3 million needed to evaluate the problem. So far, the study has not yet produced any answers about serious alternatives and has already run into significant problems. Congress has rules restricting the cost and length of time that an Army Corps of Engineers study can run. In this case, those limitations have stymied the group’s ability to study serious alternatives for a legitimate backup supply. “We have kind of conflicting paradigms here. So Congress was very frustrated with the Corps of Engineers for many years, because we’re taking too long to do studies,” said Trevor Cyan, the chief of the Civil Works Project Management Office for the Corps’ Baltimore district. “So we’re trying very hard to lean into building infrastructure, not paperwork, so we’re trying to deliver an early, actionable project that can help with the problem as soon as possible.” The early project they’ve landed on is an expansion of the existing backup reservoir, which can currently provide 24 to 48 hours of supply. The expansion, if it is ever funded by Congress, would allow for an additional 12 hours of water supply. While those 12 hours would be helpful in an emergency, the Corps acknowledged that would not be enough during a security crisis. “We’ve got to come up with a measure that would work for all of us. It’s not only health and security for local communities, but now you’re talking national security, because this is the seat of government,” Mitchell said. Members of Congress need to work with Virginia, Maryland and D.C. leadership to agree on a project and help to fund it. But Congress has little interest in addressing this problem. “You have a real problem with the federal government’s reputation in the rest of the country,” Nardolilli said. “So what is it to a congressman from Nebraska, if there’s no water in D.C.? They’re more concerned about their neck of the woods and trying to get the Army Corps of Engineers to focus on flooding in their area or water supply in their area.” The Washington Aqueduct is not owned by the states, so why would states want to pay to fix it? “A lot of nonfederal partners have not wanted to come to the table because they felt the perception was they would just improve the aqueduct, which is not theirs. It’s been a tricky nuance for us,” Cyan said.
DC Water’s Blue Plains Wastewater Treatment Plant treats close to 300 million gallons of wastewater with a daily capacity of 384 million gallons and the ability to treat over 780 million gallons a day at peak flow.photo courtesy DC Water / photo courtesy DC Water https://wamu.org/wp-content/uploads/2026/03/blue_plains-600x338.jpg A crisis with the aqueduct is not the only Washington water disaster that’s just one terrible 24 hours away. The largest advanced wastewater treatment plant in the world sits near the end of the Potomac River. The plant rests at one of the lowest points on the river, so that sewage can flow downhill to be treated without needing to be pumped. That makes it vulnerable to flooding. A severe flood would likely render the region’s largest treatment facility out of operation for weeks or even months. Hundreds of millions of gallons of raw sewage that usually flow into the treatment plant every day would instead spill into the Potomac River near Alexandria, Virginia. It would drift through Northern Virginia, stinking up and clogging the river coastline, and eventually leak out into the Chesapeake Bay. The environmental cleanup task would be unfathomable. “Imagine every pipe from every community that’s now served entering into the local river system,” said Rachael Jonassen, the director of the Climate Change and Greenhouse Gas Management Program at George Washington University. “That’s what we’re talking about. Untreated waste being sent out into the environment, with just huge implications in terms of the public health, but also an ecological tragedy of massive proportions.” Unlike with Washington’s drinking water, there’s a plan to mitigate a potential disaster. D.C. Water has had some construction underway for years, building the flood walls that could dramatically improve protection for the plant. But now the project has paused — because of political problems. In April 2025, the Federal Emergency Management Agency canceled the Building Resilient Infrastructure and Communities program, which was partially funding the construction of the flood wall. Trump administration officials at the time called the program “wasteful” and pledged to cancel all of its awards. A federal judge has since ordered the administration to restore the program, but the Department of Homeland Security under Secretary Kristi Noem has done nothing to restore any of the hundreds of grants awaiting funding. That includes the remaining funding for the Blue Plains floodwall: Just $23.4 million from FEMA. “The floodwall includes four segments totaling 4,125 feet. Only one segment has been completed,” said Sherri Lewis, a spokesperson for D.C. Water. “The project remains in the design phase, and construction has not begun while D.C. Water explores its options due to the funding uncertainty. The construction of the remaining segments remains a priority.” When asked about the grant, FEMA responded with information about the smaller first phase of the project, not the $23 million DC Water still needs to complete the flood wall. “The agency remains committed to supporting State, Local, Tribal, and Territorial partners and ensuring communities receive the resources they need to enhance safety and preparedness. FEMA will continue to follow all legal requirements and court directives as we work to deliver funding and support for disaster resilience. FEMA is complying with all applicable court orders and administering the program consistent with statutory requirements, judicial direction, and available appropriations,” a FEMA spokesperson said. D.C. Mayor Muriel Bowser’s office directed questions about the grant to D.C. Water. “We doubt there’s anything we could do to get that funding back until we have a new administration that revives BRIC,” a spokesperson for Holmes Norton said.

Sunday, March 15, 2026

Một Số Nhà Cách Mạng và Trí Thức Yêu Nước Miền Nam Việt Nam Thời Kháng Chiến

https://nghiencuulichsu.com/2015/09/07/tim-hieu-vu-am-sat-ta-thu-thau/ Tìm hiểu vụ ám sát Tạ Thu Thâu (1906-1945) This entry was posted on Tháng Chín 7, 2015, in Lịch sử Việt Nam and tagged cộng sản, Tạ Thu Thâu, việt minh. Bookmark the permalink. 9 bình luận Tấn Đức Tạ Thu Thâu là một nhà yêu nước, một nhà cách mạng vĩ đại Việt Nam đầu thế kỷ XX. Nhưng, tên tuổi của ông, dù gắn liền với cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp trong hai thập niên 30 và 40, lại ít được giới trẻ Việt Nam biết đến, nhất là những người sinh ra và trưởng thành ở miền Bắc “xã hội chủ nghĩa”. Sử đảng[1] và các văn kiện chính thức của đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nhắc đến ông và các đồng chí của ông bằng những lời lẽ bỉ thử, miệt thị và tồi tệ, như “tay sai cho đế quốc Pháp”, “mật thám cho phát-xít Nhật”… Vậy, sẽ không vô ích nếu chúng ta điểm qua đôi nét về cuộc đời sáng lạn và cái chết bi thảm của một nhà cách mạng ưu tú, đã từng được “Ủy ban nước Pháp của kiều dân, nước Pháp của tự do” (France Des Immigrés, France Des Libertés) chọn để đăng ảnh và tiểu sử trên một bức tường lớn trong mộtcuộc triển lãm long trọng ở Vòm trời hữu nghị (Arche De La Fraternité) tại khu La Défense (Paris) nhân kỷ niệm 200 năm Đại cách mạng Pháp vào năm 1989[2]. Tiểu sử giản yếu của Tạ Thu Thâu Nhà cách mạng Tạ Thu Thâu sinh năm ngày 5-5-1906 tại Tân Bình (Long Xuyên), là con thứ tư trong một gia đình đông con và nghèo khó. Từ năm 11 tuổi, sau khi thân mẫu qua đời, ông đã vừa học vừa phụ việc cho cha để nuôi sáu miệng ăn. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, ông dạy học ở Sài Gòn và tham gia những tổ nhóm thanh niên yêu nước, trong đó có đảng Annam trẻ (Jeune Annam) năm 1925, sau này bị chính phủ thực dân giải tán. Tạ Thu Thâu coi giai đoạn này trong đời ông là “giấc mộng liều mạng của tuổi trẻ”. Năm 1926, Tạ Thu Thâu tham gia nhiều cuộc biểu tình phản đối chính phủ Pháp, đòi các quyền tự do, dân chủ cho dân Việt. Qua Pháp tháng 7-1927 khi mới 21 tuổi, theo học ban Khoa học (Đại học Paris), ông gia nhập đảng Việt Nam Độc lập (PAI) của nhà yêu nước Nguyễn Thế Truyền và đảm nhiệm điều khiển đảng này năm 1928 sau khi Nguyễn Thế Truyền về nước. Năm 1929, sau một thời gian hoạt động tích cực chống thực dân trên lập trường một người quốc gia, ông tiếp xúc với Tả đối lập Pháp và được Alfred Rosmer – một người bạn, người đồng chí, học trò của Trotsky – giới thiệu vào tổ chức này. Từ đó trở đi, ông trở thành lãnh tụ trốt-kít Việt Nam đầu tiên, cùng các đồng chí của ông là Huỳnh Văn Phương và Phan Văn Chánh. Ngày 20-5-1930, Tạ Thu Thâu cùng một số kiều dân Việt ở Pháp tham gia cuộc biểu tình trước điện Elysée (dinh Tổng thống Pháp), phản đối việc thực dân Pháp xử tử các chiến sĩ yêu nước Việt Nam Quốc dân đảng ở Yên Bái. Sau đó, ông bị bắt cùng 18 Việt kiều khác và bị trục xuất về Việt Nam vào cuối tháng 5. Trong vòng 15 năm kể từ khi về nước đến khi bị ám hại vào năm 1945, Tạ Thu Thâu là một lãnh tụ ái quốc lừng danh ở Việt Nam. Là người tổ chức và lãnh đạo phong trào Tả đối lập trốt-kít, sau đổi thành Đông Dương Cộng sản đảng, ông hoạt động cách mạng bằng mọi phương tiện như xuất bản tờ Vô sản (tháng 5-1932), làm báo Pháp ngữ La Lutte (Tranh đấu; tháng 4-1933), ứng cử Hội đồng thành phố Sài Gòn (tháng 5-1933, tranh cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ, tháng 4-1938)… Từ năm 1932 đến 1940, Tạ Thu Thâu bị bắt 6 lần và bị kết án 5 lần, tổng cộng 13 năm tù và 10 năm biệt xứ. Cuối năm 1944, sau khi được phóng thích từ Côn Đảo, ông dự định thành lập đảng Xã hội Thợ thuyền. Ý định ấy đã không thành vì đầu tháng 9-1945, trên đường về Nam sau khi đã bắt liên lạc với một số đồng chí ở Bắc Bộ nhằm xuất bản tờ Chiến đấu, cơ quan ngôn luận của đảng Xã hội Thợ thuyền miền Bắc, ông bị Việt Minh đón đường và sát hại trên một cánh đồng dương liễu bên bờ biển Mỹ Khê (tỉnh Quảng Ngãi) khi mới 39 tuổi. Chẳng những là một nhà cách mạng kiên cường, Tạ Thu Thâu còn là một cây bút sắc bén (ông có tài viết Việt văn cũng như Pháp văn), một diễn giả xuất sắc, một trí thức có uy tín, tính tình ôn hòa, nhã nhặn. Những người từng biết ông, sau này đều nhắc đến ông với lời lẽ kính trọng. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở gần chợ Bến Thành, Sài Gòn: 10 năm sau ngày “giải phóng miền Nam”, con đường ấy mới bị đổi tên. Ai là người đã ra lệnh ám sát Tạ Thu Thâu? Có thể không bao giờ chúng ta có lời giải đáp chính xác cho câu hỏi này. Một chỉ thị như thế, dù có tồn tại trên văn bản, chắc chắn cũng đã bị thiêu hủy. Trên phương diện này, “người anh lớn” Liên Xô đã đặt ra một tiền lệ đáng “noi theo” cho tất cả các “chư hầu” khác trong khối “xã hội chủ nghĩa”: ngay từ năm 1920 (tức là khi Lenin còn sống và còn tỉnh táo), đã có một chỉ thị được chuẩn y nhằm cấm ngặt việc “đưa những nghị quyết trong các vấn đề quan trọng nhất của Bộ Chính trị vào biên bản chính thức [của các phiên họp Bộ Chính trị]”. Trong những năm về sau, đảng Cộng sản Liên Xô đã đưa ra hàng loạt chỉ thị, nghị quyết để “mật hóa” hoặc dấu tịt bằng chứng về những tội lỗi tầy trời của họ trước giới sử học và trước đời sau[3]. Nên nhớ rằng đảng Cộng sản Liên Xô đưa ra quyết định trên vào năm 1920, tức là khi nước Nga Xô-viết đã thoát khỏi tình thế hiểm nghèo do cuộc can thiệp của các nước “tư bản” và sự chống đối của các lực lượng Bạch vệ trong nước gây ra. Ở Việt Nam, vào nửa cuối năm 1945, khi chính quyền Việt Minh còn đang trong cảnh “trứng nước” và khi những người trốt-kít yêu nước bị coi là “tay sai đế quốc”, “tay sai cho phát-xít quốc tế”…, phải “triệt ngay” và “trừng trị đích đáng”, thì quyết định ám sát Tạ Thu Thâu và các lãnh tụ trốt-kít khác hẳn phải được coi là một “nghị quyết quan trọng” và đáng để “mật hóa” trước hậu thế. Mà cách “mật hóa” hữu hiệu nhất, là phi tang, là xóa bỏ mọi chứng từ giấy tờ, là thủ tiêu mọi nhân chứng, thậm chí thủ phạm, trong chừng mực có thể. Phục hồi lịch sử sau ngần ấy năm, nhất là lịch sử của một thời kỳ vô cùng rối rắm và phức tạp như những năm 1945-1946, không phải là chuyện dễ. Nhiều khi, chúng ta chỉ có thể dựa vào những nguồn tin “truyền khẩu” theo lời thuật lại của dân chúng. Những “nhân chứng” thời ấy, nếu có, giờ đây cũng đều trên ngưỡng “thất thập”. Họ có thể nhớ lại và thuật lại một cách chính xác những gì đã xảy ra không? Dưới tác động của tình hình chính trị ở Việt Nam, những thông tin họ đưa ra cóthể coi là xác tín đến mức nào? Đó là những câu hỏi và những nghi ngờ thường lệ mà chúng ta phải đặt ra trước vấn đề cái chết của Tạ Thu Thâu, cũng như bất cứ một “nghi án” lịch sử nào, được coi là “vết trắng” trong lịch sử Việt Nam cận đại và đương đại. Đảng Cộng sản Việt Nam, trong các văn kiện chính thức, đều cho rằng việc triệt hạ các chiến sĩ yêu nước trốt-kít là một “thắng lợi lớn” của đảng. Nhưng, trong khi không tiếc lời xuyên tạc và phỉ báng hoạt động ái quốc của các tổ chức trốt-kít, dường như không bao giờ họ đả động đến việc “thắng lợi lớn” ấy đã được thực hiện trong thực tế như thế nào. Một bài báo mang tính tổng kết những “thắng lợi oanh liệt” trong năm 1945 của đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đàn áp và tiêu diệt các tổ chức trốt-kít, cũng chỉ nói rất chung chung: “Báo chí của ta đã nghiêm khắc lên án bọn trốt-kít. Nhân dân ta đã vạch trần bộ mặt phản động của chúng, chính quyền nhân dân đã trừng trị đích đáng bọn trốt-kít… Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã cuốn đi số lớn phần tử trốt-kít thối nát”[4]. Không hề có một chữ về những chủ nhân của “thắng lợi oanh liệt” đó! Lần theo dấu sự thật, sử gia Daniel Hémery, một cựu đảng viên cộng sản Pháp, là người có những cố gắng lớn trong việc tái tạo sự thật về cái chết của Tạ Thu Thâu và các đồng chí của ông. Là một nhà nghiên cứu sử chuyên về đề tài Việt Nam, ông đã viết rất nhiều sách vở về lịch sử Việt Nam; luận án tiến sĩ của ông cũng lấy đề tài về Tạ Thu Thâu và nhóm trốt-kít ở Việt Nam. Tuy nhiên, do gặp nhiều trở ngại về tư liệu và bằng chứng cụ thể (nhất là sự giấu diếm của đảng Cộng sản Việt Nam), trong những năm của thập kỷ 70, ông mới có thể đưa ra các “giả thuyết” và suy luận xem “giả thuyết” nào hợp lý hơn cả. Trong số các tư liệu Việt ngữ, phải đặc biệt nhấn mạnh những tìm tòi của nhóm trốt-kít Việt Nam tại Pháp, dựa trên các sự kiện mới, các văn bản mới được phanh phui, “bạch hóa”, dựa trên lời thuật lại của một số người trốt-kít cựu trào còn sống sót. Những tìm tòi ấy được ông Hoàng Khoa Khôi, người đứng đầu nhóm, tổng kết lại trong bài viết Ai đã ám sát Tạ Thu Thâu và những người trốt-kít Việt Nam? đăng trên Hồ sơ về phong trào Đệ tứ Việt Nam[5]. Trong bài viết này, ông Hoàng Khoa Khôi đã lần lượt điểm qua ba “giả thuyết” của sử gia Daniel Hémery về người chủ mưu ám sát Tạ Thu Thâu: 1. Tướng Nguyễn Bình, chỉ huy quân đội miền Nam. 2. Trần Văn Giàu và Dương Bạch Mai, hai lãnh tụ công khai của đảng Cộng sản Việt Nam ở Sài Gòn, đồng thời là những người xta-lin-nít khét tiếng[6]. 3. Chính ông Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao của đảng[7]. Với những lập luận và bằng cớ sắc sảo và đầy tính thuyết phục, tác giả bài viết loại trừ hai khả năng đầu và thiên về khả năng thứ ba vì theo ông, chính ông Hồ Chí Minh là “người cha tinh thần” của tất cả những cuộc thanh trừng, khủng bố các tổ chức trốt-kít Việt Nam, kể từ khi ông còn lưu lạc ở nước ngoài và hoạt động dưới sự điều khiển của Đệ tam Quốc tế. Chúng ta cũng được biết rằng sáu năm trước khi Việt Minh tổ chức vụ đại thảm sát toàn bộ các chiến sĩ trốt-kít yêu nước, sáu năm trước khi bài Phải triệt ngay bọn trốt-kít![8] được đưa ra chính thức trên tờ Cờ giải phóng của đảng Cộng sản Việt Nam như một lời hô hào chém giết khát máu, thì ông Hồ Chí Minh, ở nước ngoài, đã dùng những lời lẽ hết sức kích động để kêu gọi “tiêu diệt” những người trốt-kít, “tay sai của phát-xít”, “bất lương”, “chó săn”, “bán rẻ tổ quốc”… Như thế, ông Hồ Chí Minh và những người nối nghiệp ông sẽ phải trả lời ra sao khi trong một cuộc hội kiến diễn ra vào năm 1946[9] với nhà văn Pháp Daniel Guérin, người bạn và đồng chí cũ của Tạ Thu Thâu trong Tả đối lập Pháp, ông đã tuyên bố: “Tạ Thu Thâu là người yêu nước tầm cỡ lớn. Tôi khóc cái chết của ông ấy” (Tạ Thu Thâu était un grand patriote, nous le pleurons)? Nhưng ngay sau đó, ông Hồ Chí Minh đã bồi thêm: “Nhưng tất cả những ai không đi theo đường lối do tôi vạch ra sẽ đều bị bẻ gẫy”[10]. Có thể hiểu câu nói thứ hai này – mà ông Trần Văn Giàu, trong một cuộc nói chuyện ở Paris mùa hè năm 1989, đã cho là không đúng sự thật – là một lời thú nhận thành thực về trách nhiệm của ông Hồ Chí Minh về cái chết của Tạ Thu Thâu[11]? Vụ ám sát Tạ Thu Thâu đã được diễn ra như thế nào? Ông Hoàng Khoa Khôi, trong bài báo nói trên, đã có một nhận định xác đáng: “… người cầm dao hay nổ súng chỉ là người thừa hành, không phải thủ phạm chính. Thủ phạm chính phải tìm trong đám người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam, kể cả Hồ Chí Minh. […] Thủ phạm chính là kẻ đã mài dao, lắp đạn cho đao thủ phủ”. Tuy nhiên, để lịch sử được rạch ròi, cũng nên tìm hiểu hoàn cảnh Tạ Thu Thâu bị sát hại và “vạch mặt chỉ tên” cả những kẻ đao phủ trực tiếp này. Trong vấn đề này, nguồn tư liệu mà chúng tôi hiện có cũng hết sức hạn chế. Sau khi đặt câu hỏi “ở Việt Nam, ai đã hạ sát Tạ Thu Thâu và các đồng chí [của ông]?”, ông Hoàng Khoa Khôi cho biết: “Sau khi điều tra, chúng tôi biết được ba thủ phạm. Họ đều là những người cộng sản. Người thứ nhất là Kiều Đắc Thắng, trách nhiệm Nghiệp đoàn. Người thứ hai là Nguyễn Văn Trấn, đã từng được đi học tập ở Moscow. Người thứ ba tên là Nguyễn Văn Tây, cựu bộ trưởng chính phủ Trần Văn Giàu”. Cần nói thêm rằng nhân vật Nguyễn Văn Trấn được nhắc đến ở đây chính là ông Nguyễn Văn Trấn đã mất ít lâu nay, một người cộng sản “phản tỉnh”, tác giả cuốn Viết cho Mẹ và Quốc hội được nhiều người ưa thích trong đó ông vẫn dùng nhiều từ ngữ và luận điệu thô thiển, thậm chí bất nhã, khi nhắc đến Tạ Thu Thâu và những người yêu nước trốt-kít ở Việt Nam. Trong cuốn sách Việt Nam 1920 – 1945 (Cách mạng và phản cách mạng dưới thời thuộc địa[12]) của ông Ngô Văn, một người trốt-kít cựu trào, từng là đồng chí của Tạ Thu Thâu ở Việt Nam, tác giả cũng chỉ viết một cách rất sơ lược: “… Thâu lên đường trở về Nam. […] Dân chúng kể lại khác nhau về những gì xảy ra sau đó. Chúng ta không biết đích xác nơi Thâu bị bắt, nhưng mọi người đều nói là ở Quảng Ngãi và gán cho Việt Minh chịu trách nhiệm. Họ cũng nói về sự nghi ngại của các vệ quân được lệnh bắn [Tạ Thu Thâu], khi nghe anh tự bảo vệ trong một vụ gọi là xét xử: anh đã biện minh về cuộc đời cách mạng của mình. Lệnh hô bắn ba lần, cả ba lần các tay súng đều hạ xuống, lúc đó viên “thẩm phán” đã kết thúc bằng một phát súng lục vào lưng (người hạ sát tên là Tư Ty). Đó là vào một ngày đầu tháng Chín năm 1945”[13]. Tác giả Trần Ngươn Phiêu trong bài viết Những nhân chứng cuối cùng cho biết thêm “… ông [Tạ Thu Thâu] bị bắt khi đi ngang qua Quảng Ngãi ngày 18 tháng Tám năm 1945, bị giam ở đình Xuân Phổ và sau đó bị giết ở cánh đồng Dương, bờ biển Mỹ Khê”. Trong số những tư liệu trong tay chúng tôi, riêng chỉ có bài báo nhan đề Tôi thấy Tạ Thu Thâu chết của một người ký tên là Nguyễn Văn Thiệt, đăng trên tờ tuần báo Hồn nước của “Tập đoàn công binh Việt Nam” (Rassemblement des travailleurs vietnamiens) vùng Paris trong hai số 7 (ngày 30-7) và số 8 (ngày 7-8) năm 1949, là thuật lại một cách chi tiết và kỹ lưỡng về cái chết của Tạ Thu Thâu. Bài báo này đã được đăng lại trong công trình sử học Người Việt ở Pháp 1940 – 1954[14] của ông Đặng Văn Long, một người trốt-kít cựu trào sống ở Pháp. Trong một số cuộc điện đàm với tác giả cuốn sách, chúng tôi được ông cho biết: theo ông, đa phần những thông tin trong bài báo có thể coi là trung thực. Cũng theo lời ông, cách đây vài ba năm, dường như có người còn gặp thủ phạm hạ sát Tạ Thu Thâu ở Việt Nam. Chúng tôi xin dẫn nguyên văn bài báo để bạn đọc tham khảo: “Ai đi ngang Quảng Ngãi vào khoảng tháng 9 năm 1945, cũng biết đến không khí hãi hùng của cái thành phố tự cho mình có tinh thần cách mạng cao ấy.Các tín đồ Cao Đài, các nhà trí thức, các nhà phú hộ, các nhà cách mạng quốc gia, tất cả những hạng người ấy cùng với vợ, con, anh em họ được Việt Minh cẩn thận chém giết, chôn sống, thiêu cháy, mổ bụng v.v… mỗi ngày theo chính sách “Tru di tam tộc để trừ hậu họa”. Người chết nhiều đến nỗi độ ấy ở Hà Nội, tờ báo “Gió mới” của Tổng hội sinh viên, một tờ báo rất thiên Việt Minh đã phải lên tiếng rằng ở Quảng Ngãi, ngày ngày đầu người rụng như sung. Anh Lê Xán, bạn tôi, một đồ đệ của cụ Phan Bội Châu, bị Pháp đày Lao Bảo, vừa được thả ra thì bị Việt Minh Quảng Ngãi bắt lại. Vì sự tình cờ của chiếc xe lửa ngừng lại nghỉ đêm ở Quảng Ngãi (độ ấy đường xe lửa Sài Gòn – Hà Nội bị hư nhiều nơi, xe lửa chạy rất chậm và hay nghỉ dọc đường) nên bắt buộc tôi phải xuống xe định kiếm một quán trọ ở cạnh ga mà nghỉ đêm. Trong lúc ngồi uống nước, sực nhớ đến Lê Xán, tôi tò mò hỏi bà chủ quán tin tức về bạn tôi. Lập tức tôi bị một trinh sát viên mặc áo nâu, đi chân không, đang đứng vớ vẩn ở cửa tóm lấy buộc tôi là đồng lõa với tội nhân và điệu tôi về Sở Công an. Bị giam ở Sở Công an hai hôm, nhốt trong một xà-lim cũ của Pháp, tôi dò hỏi thì được biết tin bạn tôi đã bị xử tử rồi. Nhưng tôi cũng lại biết thêm rằng người ta buộc tôi về tội định đến Quảng Ngãi giải vây cho Lê Xán và ngày hôm ấy tôi bị mang đi để giam ở một nơi xa… Tôi đang lo sợ một nơi xa ấy là cõi âm ti thì chiếc xe ngựa chở tôi và một người lính gác, tay cầm một con dao dài, một quả lựu đạn buộc tòng teng vào giây nịt bằng một sợi lạt, từ từ rẽ vào con đường đi về Phú Thọ. Tôi hết lo bị chém liền vì tôi biết rằng ở làng Phú Thọ, Ủy ban vừa dựng một nhà lao to để chứa cho đủ tội nhân xa thành phố sợ có chuyện bất trắc chăng. Nhưng tôi lại sợ quả lựu đạn đứt giây buộc nên cứ xem hoài. Nhà lao Phú Thọ xây trên một khoảng đất rộng, trong cùng là một nhà ngang, hai bên hai dãy nhà dọc, giữa sân trường một cột cờ. Mỗi sáng, mỗi chiều đều có tu-huýt thổi để chào cờ, và lính cũng như phạm nhân đều phải đứng dậy, nắm tay phải đưa lên ngang đầu, sẵn sàng hễ ông sếp lao hô ViệtNam Dân chủ Cộng hòa! thì tất cả đồng hô: Muôn năm! và Hồ Chí Minh!, thì tất cả Muôn năm! Phòng giam tôi vuông vức mỗi bề độ hai thước và cùng giam chung với tôi còn có mười sáu người nữa. Tứ bề bít kín, chỉ có một cái cửa để thông với ngoài, nhưng song cửa lại làm bằng mấy cây gỗ lim to quá, gần như khít với nhau, nên khó thở vô cùng. Trong những bạn đồng cảnh ngộ với tôi, tôi còn nhớ có tên Bùi Trọng Lệ trước làm mật thám cho Pháp (sau này y bị xử tám năm tù), và ba người con trai của Tổng đốc Nguyễn Hy. Ba người này bị bắt vì tội trong thời kỳ cách mạng toàn dân mà trong nhà chứa đờn và bài ca ủy mị, và đã bị xử tử một tuần lễ sau khi tôi đến. Một buổi sáng, tôi đang đứng dựa vào cửa cố thiu thiu ngủ thì bỗng giật mình vì những tiếng các bạn tôi kêu lên: Tạ Thu Thâu! Tạ Thu Thâu! Tôi tỉnh hẳn người. Tạ Thu Thâu? Trời ơi! Trong bao lâu, khi tôi còn đi học, tôi đã nghe đến tên Người, đã bị mê hoặc vì cái oai hùng của đời Người, dệt toàn bằng tranh đấu, hy sinh và đau khổ. Dưới thời Pháp thuộc, trong lúc các nhà cách mạng khác trốn ở hải ngoại thì Tạ Thu Thâu dám về trong nước hoạt động chánh trị ngay trong nước và chịu tù, chịu tội. Cái tên Tạ Thu Thâu tự bao nhiêu lâu và ngay cả đến bây giờ, luôn luôn gợi ra trong óc tôi hình ảnh của một người ngang tàng khí phách, coi sự tù tội, sự hình phạt về xác thịt như một sứ mệnh thiêng liêng mà Người phải riêng chịu đựng lấy, để giải thoát cho đồng bào. Trên đời mỗi khi thất bại vì một bất trắc gì, tôi thường hay nghĩ tới Người để tìm nguồn an ủi và lý do phấn khởi cho lòng mình. Các bạn tù của tôi tranh nhau nhìn qua cửa. Từ một phòng giam phía bên kia sân, độ bảy, tám người dân quân mang súng, gươm, lựu đạn và ông chủ tịch làng – vừa là sếp lao thì phải – kéo ra một người đàn ông ốm lỏng khỏng mà tôi nhìn ra ngay là ông Tạ Thu Thâu. Ông mặc một sơ-mi cụt tay có hai túi trên ngực, một cái quần Tây dài, chân đi giày vàng. Áo quần trắng đã bàu nhàu và bẩn thỉu, dây do những vết đen đỏ còn đọng, dấu tích của những sự tra tấn vừa qua. Râu tóc của ông Thâu rối beng, mặt mày hốc hác, nhưng cặp mắt vẫn bình tĩnh nhìn mọi người, mọi vật – không biết tôi có lầm chăng – miệng ông hơi nhếch một nụ cười. Các bạn tôi lao xao: – Lần này thì Tạ Thu Thâu phải chết. Một người nào đó nói nhỏ: – Quân khốn nạn! Tôi gián một con mắt vào khoảng hở giữa hai song cửa, hai tay muốn tét ra cho rộng để nhìn cho rõ đám người hùng hổ đi với ông chủ tịch luôn mồm la hét, nạt người này, cho lệnh kẻ kia và ở giữa, một bóng trắng chập choạng, khập khiễng đi đi… để biến sau mộr rặng cây mà ở đó tôi biết có một khoảnh đất trống gọi là pháp trường. Tôi bàng hoàng quá đỗi, không còn biết mình tỉnh hay mê. Tôi biết Tạ Thu Thâu bị Pháp bắt vừa mới ở tù ra, thân thể bị tiêm thuốc cho chết xuội đi một bên, nếu không có Chánh phủ Trần Trọng Kim thì ông đã chết trong khám rồi. Một người như Người suốt đời hy sinh cho dân tộc Việt Nam, bị tật nguyền vì dân tộc Việt Nam, thì còn có thể phạm tội gì với quốc gia mà đến nỗi khi Việt Nam vừa mới có ít chủ quyền thì dân Việt Nam liền bắt bớ, đọa đày và xử tử. Các bạn tôi nói là Tạ Thu Thâu bị buộc về tội phản cách mạng và âm mưu lật đổ chánh quyền, nhưng tra tấn bao nhiêu ông ta cũng đếch thèm khai. Bùi Trọng Lệ, đứng cạnh tôi, nói một cách nghiêm nghị quá đến nỗi tôi không cho là một lời mỉa mai: – Tội Tạ Thu Thâu nặng hơn nữa nhiều. Ông phạm cái tội rất lớn là được dân chúng thương yêu. Nhưng anh lính gác trước cửa phòng chúng tôi (không hiểu vì sao anh ta lại có cảm tình với tôi và thường hay nói chuyện cùng tôi) anh ta lại nói khác. Theo anh ta thì Ủy ban tỉnh Quảng Ngãi cũng không biết ông Tạ Thu Thâu bị bắt vì tội gì. Chỉ được điện tín của Trần Văn Giầu đánh ra cho các tỉnh, ra lệnh hễ ai gặp Tạ Thu Thâu thì bắt lại. Sau khi Ủy ban tỉnh đánh điện cho Sài Gòn biết là mình đã bắt và giam Tạ Thu Thâu thì liền được lệnh trả lời là phải giết ngay lập tức. Nhưng khi đem ra pháp trường thì ông Tạ Thu Thâu diễn thuyết cho mấy người lính, ông nói hay quá với lại đúng quá nên ai nấy đều bỏ súng buông lơ, có anh khóc, không ai dám bắn. Nên lại đem ông về lao và Ủy ban lại đánh giây thép vào Sài Gòn hỏi nữa sợ có giết lầm chăng. Và đã hai lần như thế rồi, Trần Văn Giầu đánh giây thép ra biểu phải giết, Tạ Thu Thâu đứng trước mũi súng lại diễn thuyết kêu gọi một mảy may lương tâm còn sót lại của đám người chỉ biết có vâng lệnh trên, rồi không ai nỡ bắn. Không dám bắn thì đúng hơn, rồi lại mang về, rồi lại đem đi. – Hôm nay thì chắc Tạ Thu Thâu phải chết! Các bạn tôi và cả anh lính cũng bảo thế, vì vừa được lệnh riêng của Cụ Hồ ở Hà Nội điện vô khiển trách Ủy ban bất tuân thượng lệnh. Tôi bàng hoàng lo sợ, ngồi bệt xuống đất, hồi hộp đợi chờ, trong cái im lặng rợn người, một tiếng đoành. Bỗng người lính gác kêu lên: – Châu cha! Tạ Thu Thâu lại về! Tất cả đều nhao nhao. Quả Tạ Thu Thâu về thiệt. Đám người đi qua rặng cây và đang tiến về phía trái. Nước mắt tôi trào lên, sung sướng khi thấy cái bóng trắng khấp khểnh kia có vẻ vững chắc hơn và trên môi lạt tôi tưởng tượng thoáng thấy một nụ cười ngạo mạn. Sự sung sướng của tôi không được lâu. Đám người đi vừa đến gần cổng lao thì một người trai trẻ mặc áo nâu quần sọc trắng ra vẻ học trò, tuổi lối mười bảy, mười tám đang đứng ở cạnh cổng, hung hăng nhảy ra, rút cây dao găm dắt ở lưng đâm vào vai Tạ Thu Thâu, miệng vừa hét: – Đồ Việt gian phản động! Rồi đạp Tạ Thu Thâu vào bụng cho ngã quay ra đất, đoạn đấm, đá túi bụi. Câu chuyện xảy ra rất mau, kể lại thì xem ra lâu quá. Thêm chỗ tôi đứng và chỗ tấn kịch rùng rợn đang diễn ra hơi xa nhau, mắt tôi lại đẫm lệ nên không thấy được tường tận. Tôi chỉ còn nhớ hình ảnh của một đám người bao quanh một bóng trắng đang quằn quại giữa vũng máu. Và từ đó, một giọng the thé rất trong của người thiếu niên vang lên: – Các đồng chí hèn quá, một thằng Việt gian cũng không dám giết! Đến nay, bao nhiêu ngày tháng đã trôi qua rồi mà không mấy đêm nằm ngủ tôi không thấy trước mắt cái bóng người quằn quại kia và nghe cái giọng nói the thé ấy. Viết bài này tôi chỉ mong làm tròn một bổn phận với Người mà tuy rằng không cùng một quan niệm chánh trị với tôi, tôi vẫn phụng thờ ý chí hy sinh và tâm hồn cao quí. Những kẻ khốn nạn đã vì đảng phái mà ám sát Người cũng như bao nhiêu kẻ xấu số khác, rồi đây khi hòa bình trở lại Việt Nam, họ sẽ ra trước tòa án quốc dân mà đền tội ác của họ. Chỉ lúc đó thù của Tạ Thu Thâu, quốc dân Việt Nam mới trả được.” Tròn nửa thế kỷ kể từ ngày bài báo nói trên ra đời, dường như “quốc dân Việt Nam” vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng tha thiết của người viết bài báo trên, là “trả được cái thù của Tạ Thu Thâu”: đưa những thủ phạm trực tiếp và gián tiếp ra trước tòa án quốc dân. Ở vào thời điểm mà “hòa giải hòa hợp” đang là một khẩu hiệu được nhiều người tán thưởng, nhắc lại sự thực của một số sự kiện lịch sử xảy ra đã lâu cũng chỉ nhằm mục đích gột rửa những nhơ nhớp trong quá khứ, phục hồi danh dự cho những người ái quốc đã bị thảm sát oan uổng. “Sự thật, chỉ nói sự thật!”, khẩu hiệu rất hay được nhắc đến trong thời cải tổ ở Liên Xô mươi năm trước đây, có thể là một “phép màu” cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ trước thiên niên kỷ thứ ba này. Người viết xin cám ơn các thành viên của nhóm Đệ tứ Việt Nam ở Pháp đã cho phép sử dụng một số tư liệu, công trình nghiên cứu của nhóm. (Những ngày đầu Xuân 1999) Ghi Chú: 1. Tức Lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, xuất bản lần đầu năm 1946, cuốn sách “gối đầu giường”, “cẩm nang” của mọi đảng viên cộng sản Việt Nam. 2. Cũng trong năm 1989, hơn 100 nhân sĩ nổi tiếng ở Pháp và thế giới đã đồng ký tên trong một bản kêu gọi phục hồi danh dự và nhân phẩm cho Tạ Thu Thâu và các đồng chí của ông như Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương… 3. Về vấn đề này, có thể tham khảo hai cuốn sách của nhà văn, nhà nghiên cứu sử học người Nga Edvard Radzinsky: Nga hoàng cuối cùng (Cuộc sống và cái chết của Nicholas Đệ nhị) và Stalin. 4. Nhìn lại chặng đường đấu tranh của đảng chống bọn trốt-kít phản động – Thế Tập (Tạp chí Cộng sản số 2-1983). 5. Tủ sách Nghiên cứu (Paris) ấn hành năm 1993. 6. Ông Trần Văn Ân, một người quốc gia, cũng cho rằng “Trần Văn Giàu là chánh phạm” trong vụ ám hại Tạ Thu Thâu. Xin xem bài Nói chuyện với cụ Trần Văn Ân mùa xuân 1993, bác sĩ Nguyễn Hoài Vân ghi lại. 7. Trong hồi ký chính trị Việt Nam máu lửa quê hương tôi (Nhà xuất bản Văn Nghệ ấn hành năm 1993), tướng Hoàng Linh Đỗ Mậu cũng cho rằng “lãnh tụ Đệ tứ Quốc tế, ông Tạ Thu Thâu, bị Hồ Chí Minh âm mưu sắp đặt cho dân quân Quảng Ngãi giết trên đường vào Nam”. 8. Của Tân Trào, đăng ngày 23-10-1945, hiện lưu trữ tại Vụ lưu trữ Văn phòng Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam. 9. Lúc đó, ông Hồ Chí Minh là người đứng đầu phái đoàn chính phủ Việt Nam ở Pháp. 10. Chi tiết này được đăng trong cuốn Au Service Des Colonisés 1930 – 1953, Nhà xuất bản Editions de Minuit, Paris 1954. 11. Gần đây nhất, trong một bài viết có tựa đề Những nhân chứng cuối cùng, tác giả Trần Ngươn Phiêu cho biết: “… khi ông Thâu chết, đã có ký giả hỏi ông Hồ Chí Minh ở Hà Nội về việc này thì ông có trả lời là địa phương đã giết lầm một người ái quốc”. 12. Nguyên tác Pháp ngữ: Vietnam 1920 – 1945 (Révolution et contre-révolution sous la domination coloniale. 13. Trích phần phụ lục của cuốn sách trên (Những mẩu đời – Tiểu sử của một số nhà cách mạng Việt Nam), bản Việt ngữ (chưa ấn hành). 14. Tủ sách Nghiên cứu xuất bản năm 1997. https://en.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A1_Thu_Th%C3%A2u Tạ Thu Thâu https://nghiencuulichsu.com/2019/03/15/mot-so-chi-tiet-ve-phan-van-hum/ Một số chi tiết về Phan Văn Hùm (1902-1946) https://nghiencuulichsu.com/wp-content/uploads/2019/03/ii_2_french-indochina-dates.jpg https://nghiencuulichsu.com/wp-content/uploads/2019/03/phan-van-hum.jpg Ðây là một đoạn trích thuật từ cuốn hồi ký của Bác sĩ Trần Nguơn Phiêu viết về một nhà cách mạng nổi danh là Phan Văn Hùm. Ký ức này là di sản quí báu và hàm chứa những dữ kiện khá mới là cho tới nay mới được tiết lộ về Phan Văn Hùm.- Ðầu năm 1945, không quân Mỹ đã bắt đầu gia tăng đánh phá thiết lộ xuyên Ðông Dương. Ngay cả thành phố Sài Gòn cũng đã nhiều lần bị giội bom, nhất là về phía thương cảng Khánh Hội. Tất cả sự kiện trên là những báo hiệu có thể quân đội Ðồng Minh sẽ đổ bộ lên bán đảo Ðông Dương, hầu cần quan trọng của quân đội Nhật. Ở về phía Bắc, Việt Minh đã thiết lập được các khu du kích và an toàn khu. Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh đã về hẳn trong an toàn khu do Chu Văn Tấn bảo vệ. Việt Minh đã nhận được sự trợ giúp của cơ quan tình báo OSS của Mỹ. Về phía Trung Hoa, Tướng Trương Phát Khuê cũng đã yểm trợ Hồ Chí Minh phần nào để chuẩn bị cho kế hoạch Hoa quân nhập Việt. Trước việc Ðồng Minh đang chuẩn bị tấn công Nhật trên bán đảo Ðông Dương, Hồ Chí Minh đã phái hai đại biểu đến Côn Minh để gặp lãnh sự Pháp và đề nghị sự hợp tác với “người Pháp mới, tự do”. Chánh quyền Decoux đã ra lệnh đánh trả đũa quân du kích Việt Minh từ tháng 11, 1944. Họ đã triệt hạ, đốt phá nhiều làng có tham gia du kích chiến, thiêu hủy các kho lương thực, kết án tử hình nhiều người bị tình nghi. Bộ chỉ huy quân sự Pháp định tổ chức một chiến dịch mới vào ngày 12 tháng 3 năm 1945, nhưng 3 ngày trước đó, ngày 9 tháng 3 năm 1945, toàn bộ chánh quyền thực dân Pháp ở Ðông Dương đã bị quân đội Nhật đảo chánh! Chỉ trong một đêm, tám mươi năm chánh quyền thực dân sụp đổ hoàn toàn. Tướng Tsuchihashi chỉ huy quân đội Nhật thay thế toàn quyền Decoux. Minoda được chỉ định làm thống đốc Nam Kỳ. Ngày 11-3-1945, Bảo Ðại tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ của Pháp và “đất nước lấy lại quyền độc lập” và ủy nhiệm cho học giả Trần Trọng Kim thành lập nội các với các nhà trí thức và chuyên viên ở Nam, Trung, Bắc. Tại Sài Gòn, giáo sư Hồ Văn Ngà thành lập đảng Việt Nam Quốc Gia Ðộc Lập. Ðể vận động quần chúng, đánh dấu ngày lịch sử chánh quyền thực dân Pháp sụp đổ trên dải đất Việt Nam, đảng Phục Quốc của Kỳ ngoại hầu Cường Ðể, các tổ chức Cao Ðài, Hòa Hảo, Liên đoàn Công chức, Tịnh Ðộ Cư Sĩ… tổ chức một cuộc biểu tình công khai đầu tiên gồm trên 50 ngàn người ở sân Vườn Ông Thượng ngày 16 tháng 3-1945. Trong chính sách tập họp thanh niên, thừa kế việc làm trước kia của phong trào “Thanh niên Khỏe” của Ducoroy, Thống đốc Minoda đồng ý cho lãnh sự Iida đứng ra tạo phong trào này, với chủ tâm có thể điều động thanh niên Việt vào phụ trợ cho quân đội Nhật về sau nếu thấy cần. Hồ Văn Ngà được Iida tiếp xúc đề nghị thực hiện tổ chức. Hồ Văn Ngà đã giao lại việc này cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Tổng Thư Ký của đảng Việt Nam Quốc Gia Ðộc Lập cùng với những người trước kia đã từng tổ chức thanh niên thể thao trong thời Decoux để thành lập Thanh Niên Tiền Phong. Phong trào này đã được dân chúng ủng hộ rầm rộ trong sự náo nức của một dân tộc vừa chớm thấy chân trời một quốc gia đã thu hồi phần nào nền độc lập. Các hoạt động náo nhiệt của Thanh Niên Tiền Phong, sự hăng say của giới báo chí nay được tự do hô hào dân chúng đoàn kết giữ vững nền độc lập… đã đem đến một luồng sinh khí mới trong không khí chính trị miền Nam. Trong bầu không khí náo nức đó, cả nhà Phan Văn Hùm đều vội rời bỏ Tân Uyên để về Sài Gòn. Phan Văn Hùm chỉ trở lại Búng có vài ngày thôi, sau đó trở lại Ðô thành để gặp lại các đồng chí cũ: Tạ Thu Thâu tìm cách thoát vòng kiểm soát của Hiến binh Nhật từ Long Xuyên lên; Trần Văn Thạch từ Cần Thơ về. Phan Văn Chánh, Nguyễn Văn Số, Lê Văn Thử… nay cũng trở lại Sài Gòn. Chỉ có Hồ Hữu Tường là chủ trương phải đi ra Bắc, để tìm hiểu tình hình và cũng có thể để tìm cơ hội xuất ngoại. Các nhân vật Ðệ Tứ ở miền Nam đều đồng ý trong việc phải gấp rút tổ chức thành lập đảng “Thợ thuyền Cách mạng” để ứng phó với tình thế mới. Việc tiếp xúc nối lại liên lạc với các nhóm đồng chí hướng ở Bắc và Trung cần phải thực hiện. Trách nhiệm đó đã được Tạ Thu Thâu tuyên bố tự đảm trách và khởi hành ra Bắc với một đồng chí thanh niên là Ðỗ Bá Thế, người về sau đã tường thuật chuyến công tác đó trong quyển tiểu thuyết “Thím Bảy giỏi”. Phan Văn Hùm có trách nhiệm tập họp các anh em trong nhóm Tranh Ðấu để lo việc tái bản báo Tranh Ðấu. Các Ủy ban hành động thời Mặt trận Bình dân cần được khôi phục lại. Lê Văn Vững và thầy giáo Nguyễn Thi Lợi lãnh nhiệm vụ đặc biệt đó cho vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Khi tái bản trở lại vào tháng 8, 1945 báo Tranh Ðấu đã thường được phát hành từ 15.000 đến 20.000 số. Riêng về phần các anh em của Liên minh Cộng sản, Lư Sanh Hạnh đứng ra tái lập lại và cổ động thành lập các Ủy ban Nhân dân. Hồ Hữu Tường, sau những ngày sống ở Côn Ðảo, đã tuyên bố không còn đi theo con đường cách mạng Mác nên không còn liên lạc gì với nhóm Liên Minh Cộng Sản nữa và đang dự định chuẩn bị lên đường đi ra Bắc. Liên minh lúc đó đã được tổ chức mạnh mẽ ở Ðề Pô xe điện Gò Vấp với hơn 400 công nhân. Nhà thơ Nguyễn Hải Âu thuộc nhóm Tia Sáng ở miền Bắc đã vào đây và gia nhập nhóm ở Gò Vấp. Anh đã anh dũng cùng anh em công nhân xe điện Gò Vấp cầm súng chống Pháp khi quân Pháp trở lại tấn chiếm cơ sở này! Ông Huỳnh Phú Sổ sau ngày Nhật đảo chánh Pháp, nay mới có cơ hội trở lại các tỉnh để vừa phổ biến giáo lý Phật giáo Hòa Hảo, vừa đi khuyến nông vì lúc đó nạn đói đã hoành hành ở Bắc và Trung. Cách thức thực hành Phật pháp một cách bình dân, thực tiễn và cách mạng của Ông đã được những người nông dân Nam bộ hưởng ứng nhiệt liệt. Tín đồ càng ngày càng đông. Một phần rất lớn những nông dân đã hưởng ứng phong trào Nam Kỳ Khởi Nghĩa trước kia và đã may mắn thoát qua được sự đàn áp dữ dội của thực dân Pháp, nay theo về Ðức Thầy cũng rất nhiều vì cảm kích lối hành đạo cách mạng và yêu nước của ông Huỳnh Phú Sổ. Phan Văn Hùm, trong thời gian bị an trí ở Tân Uyên, đã có thời gian suy ngẫm, nghiên cứu để viết tác phẩm “Phật Giáo Triết Lý”. Ông đã đặc biệt lưu tâm đến sự phát triển Phật giáo Hòa Hảo và tính cách thời đại của pháp môn hành đạo cách mạng này. Người viết bài chỉ là một học sinh mới lớn lên trong thời gian Phan Văn Hùm trở lại hoạt động ở Sài Gòn nhưng đã được cơ hội gặp gỡ ông vì thường đi theo một bạn học ở Pétrus Ký tên Phan Phục Hổ, con trai của Phan Văn Hùm. Nhờ cơ hội đó, người viết bài thường được nghe những lời bàn luận của các bác, các chú lớn trong nhóm Tranh Ðấu. Những người trong nhóm đã đồng ý với Phan Văn Hùm là nhóm có chân đứng vững vàng trong giới thợ thuyền và trí thức ở các đô thị lớn nhưng chưa có tổ chức rộng và vững ở nông thôn. Trong thời hoạt động cách mạng thời bấy giờ, chỉ có Nguyễn An Ninh và Phan Văn Hùm là những người đã có các nghiên cứu sâu xa về Phật giáo. Hai nhà cách mạng này đã từng len lỏi vào các vùng nông thôn Nam Bộ, dưới hình thức đi bán “dầu cù là Nguyễn An Ninh”, nhưng kỳ thực là để tìm hiểu nguyện vọng dân chúng và tổ chức đảng Thanh Niên Cao Vọng. Nguyễn An Ninh đã bỏ mình ở Côn Ðảo, nay chỉ còn Phan Văn Hùm là người có nhiều lưu tâm đến tổ chức nông dân và các hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo. Phan Văn Hùm vì thế sau khi thoát vùng quản chế Tân Uyên về Sài Gòn, đã có được dịp tiếp xúc, bàn luận, góp ý kiến với ông Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo. Ông Huỳnh Phú Sổ, người chủ trương một nền Phật giáo Thời đại cho giới cư sĩ, nông dân miền Nam, một nền Phật giáo không tăng ni, chùa chiền, chuông mõ… lúc đó đã có được một số tín đồ khoảng hai triệu. So với dân số miền Nam vào thời đó vào khoảng năm triệu thì Phật giáo Hòa Hảo phải được coi là một lực lượng nông dân đáng kể. Người viết bài đã chứng kiến việc Tạ Thu Thâu đã có nói với Phan Văn Hùm: “Cho tôi gặp ông Thầy trước ngày tôi ra Bắc”. Savani, một đại tá Chánh sở Mật thám, phụ trách tình báo ở Nam Kỳ đã có báo cáo, nghi ngờ Phan Văn Hùm đã giúp ý cho ông Huỳnh Phú Sổ viết những văn bản Hòa Hảo chống thực dân Pháp, khuyên dân chúng không nên tòng quân giúp Pháp v.. v… Ngoài ra, Nguyễn Văn Trấn, người của Dương Bạch Mai chỉ định cho làm Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc cũng đã có đoạn viết trong sách “Viết cho Mẹ và Quốc hội”, nghi ngờ về vai trò này của Phan Văn Hùm trong hoạt động của ông Huỳnh Phú Sổ. Nguyễn Văn Trấn viết: “Ðặc biệt là Phan Văn Hùm đã thảo lời hịch và chương trình cho Dân chủ Xã hội đảng, gọi tắt là Dân Xã đảng, cho đức Chí Tôn làm chủ miền Tây và Tây Ðô” (Viết cho Mẹ và Quốc hội, trang 110, Văn Nghệ xuất bản, 1995). Không khí chánh trị thời bấy giờ rất sôi động ở miền Nam. Các đảng phái ái quốc từng hoạt động bí mật trước kia, nay đã ồ ạt công khai sinh hoạt. Ông Trần Văn Ân, trước kia đã được Nhật đưa qua Singapore lánh nạn cùng với ông Trần Trọng Kim và Dương Bá Trạc nay đã trở về Long Xuyên, chỉ kịp thăm gia đình sau bao năm xa cách được một ngày thôi và phải lên ngay Sài Gòn hội họp cùng các nhà hoạt động chính trị khác. Ông Hồ Văn Ngà, người sáng lập đảng Quốc gia Ðộc lập với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch nay thành lập ngay “Mặt trận Quốc gia Thống nhất”. Mặt trận này gồm, ngoài đảng Quốc gia Ðộc lập còn có sáu tổ chức khác: Thanh Niên Tiền Phong, giáo phái Cao Ðài, Hòa Hảo, Liên đoàn Công chức, nhóm Trí thức và phái Tịnh độ Cư sĩ. Nhóm Ðệ Tứ không có tham gia trong Mặt Trận Thống Nhất này, mặc dầu có việc tiếp xúc thường xuyên với Hồ Văn Ngà. Bản Tuyên Ngôn của Mặt Trận (Xem: Phóng ảnh, Trang 326, quyển Việt Nam 1920 – 1945, của Ngô Văn, nhà xuất bản Chuông Rè, tháng 7 năm 2000) đã ghi rõ các thành phần của Mặt Trận gồm có: Việt Nam Quốc gia Ðộc lập đảng, Thanh Niên Tiền Phong, Nhóm Trí Thức, Liên Ðoàn Công Chức, Tịnh Ðộ Cư Sĩ, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Ðài Giáo. Trong các văn bản của Mặt Trận, không bao giờ có ghi tên Nhóm Ðệ Tứ. Sự nhầm lẫn này có lẽ một phần do ký giả Nam Ðình đã ghi trong Hồi ký của ông là nhóm Ðệ Tứ đã có chân tham gia trong Mặt Trận. Những người trong nhóm Ðệ Tam có lẽ đã vin vào Hồi Ký của Nam Ðình để vu cáo là nhóm Ðệ Tứ đã “thân Nhật” vì Ðệ Tứ đã gia nhập Mặt Trận này. Ngày 21 tháng 8 năm 1945, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất tổ chức một cuộc biểu tình rộng lớn gồm trên 200.000 người với các biểu ngữ: Việt Nam Ðộc Lập, Ðả đảo Ðế quốc Pháp, Ðộc Lập hay là Chết… Ðoàn biểu tình đã diễn hành trong trật tự, từ Sở Thú đến Dinh Norodom, qua các trục lộ chính, đến khu bình dân Chợ Cầu Ông Lãnh… Những người xu hướng Ðệ Tứ tuy không trực thuộc Mặt Trận vẫn diễn hành tham gia dưới cờ của Ðệ Tứ Quốc Tế, ánh chớp Cách mạng trên quả Ðịa cầu. Qua ngày 22 tháng 8, Kha Vạn Cân, Thị trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn ra chỉ thị kéo sập các tượng đồng tượng trưng cho sự chiếm đóng của thực dân Pháp. Trong niềm hân hoan chung, dân chúng đã kéo ngã các tượng Giám mục D’Adran trước Nhà thờ Lớn thành phố Sài Gòn, tượng Francis Garnier trước Nhà hát Tây, tượng Rigaud de Genouilly ở bến Thủ Thiêm, tượng Năm hình ở Ngã Sáu, tượng Gambetta ở Vườn Ông Thượng… Trong các ngày thành phố đang sôi sục này bỗng nhiên thấy sự xuất hiện của vài xe phóng thanh chạy trên đường phố, rải truyền đơn và hô hào: “Ủng hộ Việt Minh”. Một tổ chức xa lạ với dân chúng miền Nam đã tự xưng qua truyền đơn là một tổ chức có khả năng giải phóng Việt Nam. Truyền đơn viết: “Việt Minh đã từng sát cánh bên cạnh Ðồng Minh, đánh Tây chống Nhật. Ðối với Nga là bạn. Ðối với Tàu như răng với môi. Ðối với Mỹ, chủ trương thương mại, nên không có ý xâm lăng. Ðối với Anh, nội các Attlee mới lên nắm chính quyền và thiên tả. Vì vậy, bề ăn nói của chúng ta rất dễ dàng…” Việt Minh kêu gọi tổ chức mít tinh ngày 28 tháng 8. Ngày 22 tháng 8, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất triệu tập các đại biểu, nhưng Phạm Ngọc Thạch, lãnh tụ Thanh Niên Tiền Phong không đến dự. Ðến chiều, truyền đơn và áp phích công bố là Thanh Niên Tiền Phong nay gia nhập Mặt Trận Việt Minh!. Việc Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, người phụ trách Thanh Niên Tiền Phong thình lình trở cờ tuyên bố gia nhập Mặt trận Việt Minh vào thời đó đã được một số những nhà cách mạng miền Nam giải thích là vì Thạch bị Trần Văn Giàu chiêu dụ: Thạch đã mang tiếng thân Nhật, đứng ra phụ trách Thanh Niên Tiền Phong. Nay Nhật đã thua trần, đầu hàng Ðồng Minh. Nếu không theo Trần Văn Giàu và sớm trở cờ theo Việt Minh, ngày kia sẽ bị Ðồng Minh xét xử về tội theo Nhật? Ngày 23, Hồ Văn Ngà lãnh tụ Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, tiến hành thương lượng với Việt Minh. Ông tuyên bố sẵn sàng rút lui, lấy cớ là để tìm cách đối phó hữu hiệu với thời cuộc. Ngày 24, tờ Hưng Việt đăng một Thông cáo: “Sau một cuộc thương thuyết giữa Mặt trận Quốc gia Thống nhất cùng đại biểu của Việt Minh, hai bên đã thỏa thuận hợp tác cùng nhau. Ba khẩu hiệu sau này: Việt Nam hoàn toàn độc lập, dưới chính thể Cộng hòa Dân chủ, chính quyền về Việt Minh, được đại biểu Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất tuyên bố sát nhập vào Việt Minh. Những tổ chức của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất sẽ tham gia vào cuộc biểu tình ngày 25 tháng 8”. Trong tinh thần cộng tác vì lợi ích quốc gia, trước viễn ảnh Pháp có thể lăm le trở lại Ðông Dương, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất đã lấy quyết định tăng cường cho Việt Minh. Việc làm này cũng phù hợp với lời kêu gọi của vua Bảo Ðại. Bức điện tín số 1855GT của Bảo Ðại gởi ngày 22 tháng 8 cho các Khâm sai ở Bắc và Nam Việt Nam đã chỉ thị các nơi nói trên nên tìm cách liên lạc với các đại biểu Việt Minh vì Bảo Ðại đã có lời yêu cầu hợp tác lập chính phủ mới thay thế chính phủ Trần Trọng Kim. Bộ phận đảng Cộng Sản ở Nam do Nguyễn Văn Tạo, Bùi Công Trừng phụ trách đã thảo luận gay go về việc có nên thừa cơ hội nắm chính quyền hay không vì e ngại nếu quân Nhật phản ứng, đảng có thể bị thiệt hại lớn vì lực lượng Việt Minh không mạnh như ở Bắc. Phạm Ngọc Thạch là người vẫn tiếp xúc với Nhật trước kia khi phụ trách phong trào Thanh Niên Tiền Phong được đảng giao cho việc thăm dò ý đồ của Thống chế Nhật Terauchi. Trong tình huống chán nản vì nước Nhật đã tuyên bố đầu hàng quân Ðồng Minh, Terauchi hứa sẽ không can thiệp. Vì nay được Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất tăng cường, Việt Minh quyết định sẽ tổ chức cuộc biểu tình sớm hơn, vào ngày 25 tháng 8 thay vì 28 tháng 8. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được chỉ định đi liên lạc với Thống chế Nhật Terauchi để thăm dò phản ứng của quân đội Nhật. Terauchi cầm quyền chỉ huy lực lượng Ðông Nam Á hứa sẽ không can thiệp. Ðể thử trước cho chắc ăn, trong đêm 22 rạng ngày 23, Việt Minh quyết định ra tay ở Tân An là tỉnh lỵ gần Sài Gòn. Sau khi dò hỏi và được toán quân Nhật đóng ở Tân An đồng ý, Việt Minh đã kêu gọi được tỉnh trưởng Tân An giao cho Tòa bố tỉnh một cách an toàn, không một phát súng nổ. Thế là chiều ngày 24 tháng 8, Việt Minh đã cho Thanh Niên Tiền Phong, các đội tự vệ, công chức các sở chiếm đóng dinh Thống đốc Nam Kỳ, Bưu Ðiện Trung Ương, các Kho Bạc, các bót cảnh sát, sở Mật Thám, sở Cứu hỏa, nhà máy điện, nhà máy nước… Với sự đồng ý trước của Nhật, Việt Minh tránh đột nhập treo cờ ở phủ Toàn Quyền, Ðông Dương Ngân Hàng, Kho đạn, bến tàu, sân bay, Hải Quân Công Xưởng… Dân chúng xung quanh Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh như Gò Vấp, Hóc Môn, Bà Ðiểm, Chợ Ðệm, Bình Chánh, Khánh Hội, Thị Nghè… được khuyến khích rần rộ kéo về Sài Gòn để tham dự biểu tình vào sáng 25 tháng 8. Ngay trong đêm đó, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát đã dựng lên một kỳ đài cao 15 thước, bọc vải đỏ ở Bồn Kèn, trước dinh Xã Tây, ở ngã tư đại lộ Charner và Bonard (đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi thời VNCH). Huỳnh Tấn Phát, thuộc đảng Tân Dân Chủ nhưng đã được Trần Văn Giàu kết nạp vào đảng Cộng sản từ ngày 5-3-1945 đã nhường chức Ủy viên cho Huỳnh Văn Tiểng trong chính phủ lâm thời mới. Danh sách 9 người của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, một ủy ban tự thiết lập, được ghi to bằng chữ vàng để ra mắt dân chúng: Chủ tịch kiêm Ủy viên Quân sự: Trần Văn Giàu Ngoại giao: Phạm Ngọc Thạch Nội vụ: Nguyễn Văn Tạo Lao động: Hoàng Ðôn Văn Thanh tra Chính trị miền Tây: Nguyễn Văn Tây Quốc gia Tự vệ cuộc, kiêm Thanh tra Chính trị miền Ðông: Dương Bạch Mai Kinh tế: Ngô Tấn Nhơn Tuyên truyền và Thanh niên: Huỳnh Văn Tiểng Tài chánh: Từ Bá Ðước Trần Văn Giàu sau này có cho biết là khi họp Hội nghị Xứ ủy mở rộng kỳ thứ ba ở Chợ Ðệm ngày 23-8-1945, Huỳnh Tấn Phát đã được đề cử làm Ủy viên trong Lâm ủy Hành chánh Nam Bộ nhưng Huỳnh Tấn Phát đã từ chối và xin nhường cho Huỳnh Văn Tiểng thay thế. Như thế, trong 9 ủy viên của Lâm ủy Hành chánh, 4 người là đảng viên Cộng sản Ðệ Tam, 4 người thân Cộng, chỉ có Ngô Tấn Nhơn là độc lập! Các thành phần quốc gia thuộc Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất vừa mới nhượng bộ thỏa hiệp với Việt Minh đều bị gạt ra ngoài. Họ chưa bao giờ được Việt Minh tham khảo về việc thành lập Lâm ủy, mặc dầu chỉ mới vài ngày trước, để ứng phó hữu hiệu với thời cuộc, họ đã thỏa thuận gia nhập Việt Minh để có sự đoàn kết rộng rãi. Cũng giống như cuộc biểu tình ngày 21-8-1945 trước đó vài ngày, dân chúng đã tham gia cuộc biểu tình ngày 25-8 trong vòng trật tự, hăng hái biểu dương ý chí quyết chấm dứt chế độ thực dân. Nhưng kỳ này, nếu có khác chăng thì chỉ là sự hiện diện của cờ đỏ sao vàng của Việt Minh thay vì cờ quẻ Ly. Nhóm Tranh Ðấu dưới sự hướng dẫn của Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch đã tham dự cuộc biểu tình này giống như đã có mặt trong ngày biểu tình ngày 21-8 do Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất tổ chức. Nhóm tập hợp để khởi hành ở góc Massiges – Norodom (Mạc Ðỉnh Chi – Thống Nhất thời VNCH), dưới biểu hiện Ðệ Tứ, hình trái đất tròn có ánh sáng chớp hình số 4. Những người không biết rõ tình hình trong nhóm Ðệ Tứ ở miền Nam thời bấy giờ không được biết là thật ra trong nhóm vẫn có sự phân chia làm hai bộ phận. Sự phân chia đó là do kết quả của sự liên kết khi thành lập nhóm Tranh Ðấu dưới sự điều động của Nguyễn An Ninh. Trong thời kỳ Mặt trận Bình Dân ở Pháp, một đảng viên đảng Cộng sản Pháp là Gabriel Péri đã được gởi sang Ðông Dương để điều tra tình hình. Nguyễn An Ninh đã thuyết phục được Gabriel Péri về trình lại đảng để xin ủng hộ việc xuất bản một cơ quan báo chí tranh đấu cho công nhân Việt Nam, với sự cộng tác của hai nhóm Ðệ Tam và Ðệ Tứ ở miền Nam. Kết quả cuộc vận động này của Nguyễn An Ninh là việc tái bản báo Tranh Ðấu ngày 4 tháng 10 năm 1934. Ðợt phát hành này bắt đầu với tờ Tranh Ðấu mới mang số 5. Những người cộng tác trong tờ Tranh Ðấu đợt mới này đã đồng thanh chấp thuận đề nghị của Nguyễn An Ninh là dẫu thuộc xu hướng Ðệ Tam hay Ðệ Tứ, các bài báo sẽ không được ký tên tác giả, không quảng cáo cá nhân, không biểu lộ xu hướng đảng phái. Tất cả các bài báo phải nhắm vào cuộc đấu tranh chung chống kẻ thù là chính quyền thực dân Pháp. Cuộc liên minh độc nhất trong lịch sử giữa Ðệ Tam và Ðệ Tứ này chỉ xảy ra ở Việt Nam và đã tồn tại được gần ba năm. Hồ Hữu Tường đã gọi liên minh này là “một quái thai lịch sử”, chỉ được thành hình ở Việt Nam mà thôi. Vì sự giao ước đó nên những người xu hướng Ðệ Tứ hoạt động công khai trong liên minh không thể bình luận về việc Stalin ký hiệp ước hỗ tương với Pháp cũng như khi Ðại hội Quốc tế Cộng sản kỳ thứ 7 và cũng là kỳ họp cuối cùng, ra lệnh hủy bỏ các chỉ thị năm 1928 (Chính sách cấp thời lật đổ chế độ tư bản toàn thế giới). Trước nguy cơ Ðức Quốc Xã Hitler, Stalin ra mặt liên minh với đế quốc Pháp, đưa đến việc ký “hiệp ước hỗ tương” Laval – Stalin ngày 2 tháng 5 năm 1935. Ðảng Cộng sản Pháp trước kia vẫn chủ trương chống các biện pháp quân sự, nay phải theo chỉ thị của Stalin, phải hô hào ủng hộ sự toàn vẹn của Ðế quốc Pháp. Năm 1938 đảng Cộng sản Pháp kêu gọi người Ðông Dương phải “bảo vệ nước Pháp đang bị (Nhật) đe dọa ở Ðông Dương”. Ðảng Cộng sản Ðông Dương phải đổi chủ trương phản đế và cách mạng điền địa cho phù hợp với chủ trương của Ðại hội 7 Quốc tế Cộng sản và noi theo gương đảng Cộng sản Pháp để “phòng thủ Ðông Dương”. Những người có xu hướng Trotsky đang viết báo Tranh Ðấu phải bấm bụng không đả kích hiệp ước Laval – Stalin vì đã có giao ước với phái Ðệ Tam theo Stalin. Lư Sanh Hạnh, xu hướng Trotsky vừa mới ra tù năm 1935 đã cùng với Hồ Hữu Tường, Ngô Văn Xuyết, Trịnh Văn Lầu bí mật thành lập “Chánh đoàn Cộng sản Quốc tế Chủ nghĩa – Phái tán thành Ðệ Tứ Quốc Tế”. Nhóm này đã xuất bản tạp chí Cách Mạng Thường Trực và báo Tiền Ðạo phổ biến nhận định của những người cộng sản đối lập. Chủ trương của Cộng sản đối lập là người cộng sản không thể xử sự như những kẻ phò trợ chính sách đối ngoại của Stalin. Nếu có chiến tranh đế quốc thì các đảng Cộng sản phải biến đổi đế quốc chiến tranh thành nội chiến cách mạng. Ðó là hành động cách mạng để bảo vệ Liên Xô. Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch là hai nhân vật hàng đầu của nhóm Tranh Ðấu phải đương đầu với những biến chuyển thời sự dầu sôi lửa bỏng ở miền Nam. Tạ Thu Thâu trong thời gian này còn đang bận việc công tác ở đất Bắc. Trong chuyến đi Trung, Bắc, Tạ Thu Thâu đã nhờ nhà cách mạng Trịnh Hưng Ngẩu sắp xếp để có được cơ hội xuất ngoại qua ngã Trung Hoa nhưng việc chưa thành tựu nên trong thời gian ở Hà Nội, Tạ Thu Thâu đã có cơ hội gặp những người đồng chí hướng ở đất Bắc để xúc tiến việc thành lập “Ðảng Thợ Thuyền Xã Hội” Bắc Việt. Những người được tiếp xúc như Lương Ðức Thiệp, Khương Hữu An ở vùng Ðan Phượng, Phan Thanh Hòa sinh viên vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả… để phổ biến tờ báo Chiến Ðấu. Những người này, kể cả nhiều dân chúng vùng Ðan Phượng đã bảo vệ nhóm Lương Ðức Thiệp, về sau đã bị Việt Minh tàn sát không gớm tay! Tạ Thu Thâu, khi được tin Nhật đã đầu hàng Ðồng Minh, đã tiên đoán được thời cơ sôi động sắp đến nên đã bỏ ý định xuất ngoại để trở về tiếp tay với các đồng chí miền Nam. Hồ Chí Minh và Cộng Sản Ðệ Tam đã phái Hoàng Quốc Việt theo dõi Thâu từ lúc rời Hà Nội và âm thầm ra lệnh cho tên huyện ủy Từ Ty ở Tư Nghĩa để ám hại Thâu khi đến Quảng Ngãi, chấm dứt cuộc đời 39 tuổi của nhà cách mạng thân mến của nhân dân miền Nam! Trong hai cuộc biểu tình ngày 21 tháng Tám cũng như ngày 25 tháng Tám, nhóm Tranh Ðấu và nhóm Liên Minh tham gia riêng biệt, không hòa lẫn nhau nhưng đã cùng chung biểu dương các khẩu hiệu: “Võ trang nhân dân, Lập chính quyền Công – Nông”. Riêng nhóm Liên Minh thì lại cấp tiến hơn với các biểu ngữ: “Ruộng đất về tay người cày, Quốc hữu hóa sản nghiệp giao lại cho thợ thuyền kiểm soát, Thành lập Ủy ban Nhân dân…”. Những khẩu hiệu đấu tranh này đã làm xốn xang nhóm Ðệ Tam của Trần Văn Giàu vì họ được chỉ thị từ Bắc phải giấu đi các chủ trương cách mạng cộng sản, không được khuấy động nhắc đến các đòi hỏi của nông dân và thợ thuyền như trong thời “Nam Kỳ Khởi Nghĩa”. Chương trình đấu tranh của Trần Văn Giàu lúc ấy thật tình vẫn giống như chủ trương của đảng Quốc Gia Ðộc Lập của Hồ Văn Ngà! Sau buổi ra mắt Ủy ban Hành chánh Nam Bộ của Trần Văn Giàu với thành phần nòng cốt toàn là đảng viên Cộng sản Ðệ Tam, không khí chính trị miền Nam sôi động mãnh liệt. Dân chúng miền Nam trong vài tháng trước vốn đã ủng hộ thành phần yêu nước kêu gọi đoàn kết chống Pháp đang lăm le trở lại, đột nhiên lại thấy những nhân vật quen thuộc này nay đã bị gạt ra khỏi chính quyền mới. Dư luận dân chúng và cả báo chí đều bàn tán xôn xao vì họ đều biết Mặt trận Quốc gia Thống nhất của Hồ Văn Ngà đã có ra thông cáo cho biết họ đã ủng hộ Việt Minh để chứng tỏ sự đoàn kết trước nguy cơ Pháp định trở lại áp đặt chính quyền thực dân lên thuộc địa cũ! Năm ngày sau buổi ra mắt của Lâm Ủy Hành Chánh, Trần Văn Giàu tổ chức họp báo. Vì Trần Văn Giàu đã gạt ra khỏi Lâm Ủy Hành Chánh các thành phần nhân sĩ thuộc những đảng phái trước kia đã đồng ý gia nhập Mặt trận Việt Minh để chứng tỏ tinh thần đoàn kết quốc gia, nên trong giới báo chí cũng như các đảng phái chính trị, nhiều người đã sắp sẵn những câu hỏi để chất vấn Trần Văn Giàu. Khi giáo sư Trần Văn Thạch hỏi Giàu: “Ai cử Lâm ủy Hành chánh Nam bộ?”, Giàu với bộ mặt khiêu khích vừa lấy tay vỗ vào súng lục mang bên hông vừa nói: “Chúng tôi tạm thời đảm đương chính phủ…”. Nhà báo Nam Ðình đã cho biết, vì không khí nặng nề, căng thẳng, đầy đe dọa của buổi họp khiến cuộc họp báo đã kết thúc mà không có ký giả nào lên tiếng chất vấn thêm! Ngày 2 tháng 9 tức 9 ngày sau khi nắm chính quyền, Trần Văn Giàu tổ chức một cuộc biểu tình để biểu dương lực lượng võ trang. Theo chương trình, ngoài các đoàn thể dân chúng sẽ còn có các đoàn dân quân diễn hành sau khi đón nghe tuyên ngôn của Hồ Chí Minh. Trong 4 “sư đoàn” dân quân, chỉ có Ðệ nhất sư đoàn là lực lượng của Việt Minh. Ðệ nhị sư đoàn gồm các lực lượng bán vũ trang của Cao Ðài. Ðệ tam sư đoàn do Nguyễn Hòa Hiệp chỉ huy và gồm nhiều quân nhân trong Nghĩa Dũng quân do Nhật tuyển mộ nay đã giải ngũ. Ðệ tứ sư đoàn gồm các nông dân trong lực lượng Bảo An của giáo phái Hòa Hảo. Khán đài danh dự được dựng lên trên đường Nodorom, sau lưng nhà thờ Ðức Bà. Theo chương trình, cuộc tập họp đã được tổ chức để đón nghe bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc từ Hà Nội. Các đơn vị đã bắt đầu tập hợp đông đủ trên đường Nodorom từ 9:00 giờ sáng nhưng dân chúng đứng đợi mãi mà không nghe được lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lý do sự chậm trễ cuối cùng đã được thông báo: vì có sự trục trặc kỹ thuật nên việc phát thanh không thể thực hiện được. Vào khoảng 2:00 giờ trưa, Trần Văn Giàu đăng đàn diễn thuyết để chính thức khai mạc cuộc tập hợp. Ngoài việc hô hào dân chúng hân hoan nghe các lời tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh đọc từ Hà Nội, Trần Văn Giàu còn kêu gọi toàn dân đoàn kết, cải thiện đời sống trong một chế độ Cộng hòa Dân chủ, giống y như những gì mà Hồ Văn Ngà đã phác họa trước kia trong chương trình của đảng Quốc gia Ðộc lập. Trần Văn Giàu còn nhân cơ hội này để đưa ra những lời đe dọa lạc điệu, làm quần chúng phải ngẩn ngơ khi anh ta nói: “Một số người phản quốc đương kiên cố hàng ngũ, làm hậu thuẫn cho kẻ nghịch. Chúng nó sẽ bị nhân dân trừng trị thẳng tay, những bọn gây rối hầu tìm cho phe nghịch một cơ hội xâm lăng” (Hồi ký Nguyễn Kỳ Nam, trang 219-220). Dân chúng không hiểu Trần Văn Giàu muốn ám chỉ đến đoàn thể nào vì trong cuộc diễn hành hôm đó có đủ mặt các nhóm Ðệ Tứ, các đoàn thể Việt Nam Quốc Dân Ðảng, các giáo phái Cao Ðài, Hòa Hảo… kể cả một toán người bộ hạ của Dương Bạch Mai mang tấm bảng kỳ quái: “Ban Ám sát Xung phong”! Vào khoảng 4 giờ chiều, trong khi các đoàn biểu tình tuần tự diễn hành ở phía sau nhà thờ Ðức Bà, bỗng có tiếng súng phát nổ từ trụ sở Hội Truyền Giáo. Các toán vũ trang đã lập tức xông vào trụ sở và một giáo sĩ tên Tricore, tuyên úy của các nhà tù đã bị bắn chết trong giáo đường. Nhiều tiếng súng cũng được nghe rải rác trong thành phố. Kết quả là có 5 người Pháp chết và một số hàng chục người bị thương. Tiếng súng chỉ chấm dứt vào chiều tối, sau một cơn mưa tầm tã. Ủy ban Kiểm soát của Ðồng Minh do tướng Gracey cầm đầu chỉ đến Sài Gòn ngày 6 tháng 9. Trần Văn Giàu với ý đồ phô trương, cho lực lượng dân quân có võ trang diễn hành đã để cho thực dân Pháp có cơ hội khiêu khích gây ra cuộc đổ máu rối loạn. Gracey nhân cơ hội đó đã ra lệnh bắt buộc quân đội Nhật phải giải tán dân quân, cấm đoán các cuộc biểu tình, cấm mang vũ khí v.. v… Sự thật rõ ràng là như thế nhưng Trần Văn Giàu cũng ráng ra một thông cáo đổ tội cho nhóm Liên Minh Cộng Sản Ðệ Tứ của Lư Sanh Hạnh vì nhóm này đã hô hào trước chợ Bến Thành vào ngày 3 tháng 9 là phải võ trang quần chúng để chống lại thực dân Pháp. https://nghiencuulichsu.com/wp-content/uploads/2019/03/ii_1945-sept_vietnamese-nationalists-rounded-up-by-french-soldier_1945.jpg Lính Pháp bắt giam những nhà hoạt động yêu nước, tháng 9 năm 1945. Nguồn ảnh Trong những ngày tình thế bắt đầu rối ren từng giờ, từng ngày, Phan Văn Hùm cùng các đồng chí thân cận như Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, ngoài việc lo phát hành báo Tranh Ðấu lại phải đương đầu với một tình thế khẩn trương khi được tin Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quảng Ngãi! Như đã có nói ở các đoạn trên, Tạ Thu Thâu lúc trước đã đi về phía Bắc Việt Nam để tìm cách xuất ngoại nhưng khi biết được việc Nhật đã đầu hàng Ðồng Minh nên đã vội vã quay về Nam để đáp ứng với thời thế mới. Tạ Thu Thâu cũng đã biết trước các việc theo dõi của phe phái Cộng sản Ðệ Tam nên cũng đã nhiều lần tìm cách đánh lạc hướng dò la của đối phương. Trong tác phẩm Thím Bảy Giỏi, tường thuật lại sau này về chuyến đi cùng Tạ Thu Thâu, nhà văn Ðỗ Bá Thế đã đề cập đến việc Tạ Thu Thâu nằm đò ở sông Hương và để cho Thế lên bờ di chuyển đó đây không ngừng khi ở Huế để đối phương không biết rõ được tin tức của Thâu. Về sau, có người đã than trách Thâu sao lại không tìm cách tránh né, đừng đi ngang qua sào huyệt Cộng sản Ðệ Tam ở Quảng Ngãi khiển để bị bắt. Việc trên đường về trở lại vào Nam lại ghé qua Quảng Ngãi, có thể suy đoán là do việc Tạ Thu Thâu, khi trên đường ra Bắc, đã ngừng lại ở đây để thực thi một lời hứa với nhà cách mạng Nguyễn An Ninh. Ở Côn Ðảo, trước khi chết, Nguyễn An Ninh đã có nhờ Tạ Thu Thâu lo tiếp xúc và giúp đỡ, chăm lo giáo dục một người con riêng của Nguyễn An Ninh tên Tạ Mỹ. Khi Nguyễn An Ninh bị bắt, đày Côn Ðảo thì mẹ của Tạ Mỹ lúc ấy đã mang thai 7 tháng. Sau đó bà này lấy chồng là người một tài xế có nhà bên cạnh ông đốc học Nguyễn Kỹ (thân sinh giáo sư Nguyễn Biên, cựu dân biểu đã chết trong nhà tù cộng sản sau 1975). Tạ Thu Thâu đã đến gặp Tạ Mỹ và có hứa là khi nào trở về, ông sẽ ghé đón Tạ Mỹ để cùng về Sài Gòn. Tạ Thu Thâu đến Quảng Ngãi trưa ngày 18-8-1945 và bị bắt trong đêm, khi quân du kích Ba Tơ do Nguyễn Thu tức Tạ Huỳnh chỉ huy, tràn về chiếm tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Thâu bị đưa về giam ở đình Xuân Phổ, nơi trú đóng của ủy ban khởi nghĩa Việt Minh phủ Tư Nghĩa. Nhóm Tranh Ðấu ở Sài Gòn chỉ biết được tin này vào ngày 7 tháng 9. Tin đó liền được Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch thông báo cho dân chúng Sài Gòn biết bằng một biểu ngữ treo trước trụ sở tại góc đường Lagrandiere và Aviateur Garros. Ðây là một tin đã gây xúc động lớn ở Sài Gòn và rất nhiều yếu nhân, báo chí đã lên tiếng chất vấn Trần Văn Giàu về việc đó. Vào thời khoảng này thì hai phái viên đặc biệt của Hồ Chí Minh là Hoàng Quốc Việt, ủy viên trung ương đảng cộng sản và Cao Hồng Lãnh, đại biểu Tổng bộ Việt Minh đã vào đến Sài Gòn. Hai phái viên này là đại diện chính thức của Hà Nội được gửi vào để “chỉnh lại” việc đoạt chính quyền của Trần Văn Giàu. Trung ương trách cứ là Trần Văn Giàu đã hành động sai đường lối đảng. Trung ương đã nhận thấy là Trần Văn Giàu đã dựa vào lực lượng Nhật (Thanh niên Tiền phong đã được Nhật chủ trương khởi xướng) để nắm lấy chính quyền trong khi Việt Minh lại chủ trương đuổi Nhật đánh Pháp. Giàu được chỉ thị phải giải tán Thanh niên Tiền phong để thành lập ngay thanh niên Cứu quốc. Trung ương cũng trách cứ là Giàu đã không tuân theo chỉ thị của Ðảng, thành lập một Lâm ủy Hành chánh chỉ gồm toàn người của Ðảng. Ủy ban Hành chánh Lâm Thời Nam Bộ vì thế phải được mở rộng thành phần và gồm thêm nhiều đại diện đoàn thể để trở thành Ủy ban Nhân dân Nam Bộ. Năm 1989, khi có được dịp trở qua Pháp, Trần Văn Giàu đã thổ lộ việc bất mãn của mình về vấn đề này trong một buổi nói chuyện có thâu băng, với vài nhân vật cách mạng ở Paris. Giàu đã than: “Tôi bị lên án là kẻ thân Nhật!”. Sự thật, như chúng ta từng được biết sau này, đảng Cộng sản Ðệ Tam rất sợ những kẻ có thành tích nhưng không tuân qua sự điều động của họ. Trần Văn Giàu và đám bộ hạ, khi chủ trương đoạt chính quyền ở miền Nam, hầu như đã đơn phương thi hành việc này, không biết Hồ Chí Minh là ai. Nguyễn Văn Trấn, tay sai đắc lực của Trần Văn Giàu trong các ngày chuẩn bị thi hành việc cướp tranh quyền đã có nói một câu làm bật ngửa những người tham dự Ðại hội II của Ðảng ở Bắc: trong diễn văn kết thúc Ðại hội, sau khi được Nguyễn Văn Tạo đồng ý cho được phát biểu với tư cách đại diện Nam Bộ, Nguyễn Văn Trấn đã nói “Mấy má miền Nam… hỏi Hồ Chí Minh là “ừng cha” nào (“ừng cha” tức “thằng cha” khi nói nhanh theo lối Nam Bộ. Xin xem Viết cho Mẹ và Quốc Hội, Nguyễn Văn Trấn, trang 162). Ngày 8 tháng 9, Ủy ban Nhân dân Nam Bộ được thành lập theo ý kiến của Hoàng Quốc Việt: Phạm Văn Bạch, không đảng phái, được cử làm chủ tịch thay thế Trần Văn Giàu. Danh sách mở rộng gồm có ủy viên Huỳnh Phú Sổ (Hòa Hảo), Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch (nhóm Tranh Ðấu), Hồ Văn Ngà và Dương Văn Giáo. Phan Văn Hùm qua hôm sau đã tuyên bố không tham gia ủy ban. Ngày 9 tháng 9 hôm sau, trước sự chất vấn càng ngày càng đông của các nhân sĩ và sự đòi hỏi của nhóm Tranh Ðấu, Trần Văn Giàu ra thông báo trên báo chí: “Việc Tạ Thu Thâu bị bắt ở Quảng Ngãi không liên quan đến Lâm ủy Hành chánh ở Nam Bộ. Ủy ban Nhân dân ở Nam Bộ được và có quyền xử Tạ Thu Thâu”. Ðồng thời, tuy giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đã được bầu làm ủy viên Ủy ban Nhân dân Nam Bộ trong buổi hội ngày 8 tháng 9 có Hoàng Quốc Việt chứng kiến, Trần Văn Giàu vẫn ra lệnh cho thuộc hạ là Lý Huê Vinh bao vây lục xét trụ sở Hòa Hảo ở đường Miche. Ông Huỳnh Phú Sổ lẻn qua một nhà bên cạnh nên không bị bắt. Ở Cần Thơ, cuộc dự tính biểu tình của tín đồ Hòa Hảo đả đảo Việt Minh độc quyền, đã bị Việt Minh thẳng tay đàn áp. Sau đó họ đã xử bắn ở sân vận động Cần Thơ 3 nhân vật Hòa Hảo: nhà thơ Việt Châu, Nguyễn Xuân Thiếp mà họ vu cáo là thuộc Ðệ Tứ mặc dù anh không hề có dính dáng gì với nhóm này, Huỳnh Phú Mậu em của Huỳnh Phú Sổ và Trần Ngọc Hoành con trai của Năm Lửa. Trần Văn Giàu căm thù giáo chủ Huỳnh Phú Sổ vì ngay trong buổi hội ngày 8 tháng 9 ông Huỳnh Phú Sổ đã khẳng định trước đám đông và trước Hoàng Quốc Việt là: “Tôi nắm những tài liệu chứng tỏ Giàu thông đồng với Pháp”! Về việc này, tưởng cũng nên nhắc đến việc đã xảy ra trong một buổi hội của các nhân sĩ ở biệt thự của vợ chồng luật sư Hồ Vĩnh Ký. Trong buổi hội này, việc Trần Văn Giàu tự ý thành lập Ủy ban Hành chánh Nam Bộ gồm toàn những ủy viên của đảng Cộng sản Ðệ Tam hay của những người xu hướng Ðệ Tam, gạt ra ngoài tất cả các thành phần yêu nước hay cách mạng ở miền Nam đã được đặt ra. Luật sư Dương Văn Giáo, lúc ấy mới vừa từ Thái Lan về, đã móc từ cặp da ra một tài liệu về việc Trần Văn Giàu đã có những liên lạc với các trùm mật thám Pháp là Arnoux và Duchéne. Tài liệu “mật” này do Huỳnh Văn Phương và Nhật đã thu được sau khi bót mật thám Catinat của Pháp bị Nhật chiếm sau ngày đảo chánh 9-3-1945. Ðể tránh việc làm giảm uy tín một cơ quan chính phủ vừa mới ra mắt, nhưng những người trong buổi hội đã đồng ý chỉ nên dùng tài liệu để ép buộc Trần Văn Giàu nới rộng thành phần chính phủ, tiêu biểu cho một chính phủ đoàn kết nhiều đảng phái. Dương Văn Giáo đã được giao trách nhiệm đi gặp Giàu về việc này. Ký giả Nam Ðình, Nguyễn Kỳ Nam trong tập “Hồi ký 1945 – 1954” còn nêu thêm một dữ kiện là Phan Văn Hùm cũng đã có trong tay một tài liệu về việc Trần Văn Giàu đã liên hệ với mật thám Pháp: “Trong một phiên nhóm của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, Phan Văn Hùm đưa ra một bức thơ có chữ ký của Trần Văn Giàu chứng minh sự phản bội của Giàu, nhưng Hùm đã tỏ thái độ anh hùng của mình bằng cách lấy bức thư đó lại, đọc cho mọi người nghe, rồi đốt liền để cho Giàu thấy rằng: một bằng cớ như vậy mà Hùm sẵn sàng thủ tiêu, để sau này không còn trong lịch sử” (tập thứ nhì “Hồi ký Nguyễn Kỳ Nam, 1945 – 1954”, nhật báo Dân Chủ Mới xuất bản, 1964, trang 30). Ngày 10 tháng 9, Ủy ban Nhân dân của Trần Văn Giàu phải dời về dinh Xã Tây tức tòa Ðô chính sau này, vì tướng Tracey và Bộ Tham Mưu dành quyền chiếm ngự dinh thống đốc. Ðể thương lượng với Ðồng Minh, Trần Văn Giàu thiết lập một bang Liên Lạc gồm 4 nhân vật trí thức của nhóm Ðệ Tứ: Trần Văn Thạch, Huỳnh Văn Phương, Phan Văn Chánh và bà bác sĩ Nguyễn Thị Sương, thủ lãnh Phụ nữ Tiền phong và là vợ của luật sư Hồ Vĩnh Ký. Bốn nhân sĩ này mà Trần Văn Giàu đã nhờ giúp đỡ giao thiệp giùm với Ðồng Minh vì Giàu không có đủ khả năng ăn nói, đã được Giàu sai thủ hạ ám sát tất cả bốn: Huỳnh Văn Phương ở chợ Ông Văn (Tân An) và ba người còn lại khoảng một tháng sau đó ở bến Sút (Thủ Dầu Một)! Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch tìm cách huy động quần chúng để làm áp lực cho Việt Minh phải thả Tạ Thu Thâu nhưng tình hình sôi động vào thuở đó đã làm dân chúng hoang mang tuyệt độ: sự đổ bộ càng ngày càng đông của lực lượng Anh – Ấn, sự trà trộn của các đơn vị bộ binh của trung đoàn thuộc địa thứ năm của Pháp (Cinqième Régiment d’Infanterie Coloniale tức 5è RIC) xen lẫn vào các toán quân Anh – Ấn đến bằng đường bay Tân Sơn Nhất, quân Anh – Ấn chiếm đóng các bót cảnh sát, các cơ sở điện nước, Ðông Dương Ngân Hàng, các Kho bạc và các sân bay… Quân Nhật còn giao lại cho binh lính Pháp quản lý Bến tàu, Hải quân công xưởng Ba Son… Trong khi nhóm Tranh Ðấu ngổn ngang trăm việc, nhóm Liên Minh Cộng sản gồm có hai nhóm Tháng Mười và Tia Sáng do Lư Sanh Hạnh phối hợp để thành lập các Ủy ban Dân chúng lại bị Dương Bạch Mai bao vây ngày 14 tháng 9 để bắt và tịch thu vũ khí cùng máy móc in ấn ở trụ sở Tân Ðịnh. Lư Sanh Hạnh và hơn 30 chiến hữu bị Dương Bạch Mai giam ở Khám Lớn Sài Gòn và đã may mắn thoát chết dưới bàn tay đẫm máu của Công An Việt Minh nhờ Việt Minh bỏ chạy khi quân Anh – Ấn chiếm Khám Lớn vào ngày 22 tháng 9. Lư Sanh Hạnh sau này đã lên tiếng tố cáo Dương Bạch Mai đã can tội toan “thanh toán đội tiền phong giai cấp cách mạng”. Sau ngày 16 tháng 9, Trần Văn Giàu có thêm được sự trợ giúp của các đồng chí được đưa từ Côn Ðảo trở về như Tôn Ðức Thắng, Phạm Văn Thiên tức Phạm Hùng, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh… nhưng bắt đầu từ ngày 17 tháng 9 tình hình Sài Gòn trở nên ngột ngạt hơn khi tướng Tracey cấm báo chí Việt ngữ, cấm mang vũ khí, ra lệnh thiết quân lực ngày 21 tháng 9 và cho phép đại tá Riviere của Pháp tái vũ trang 1.500 lính của trung đoàn thuộc địa thứ 5 (5è RIC) đã bị Nhật bắt làm tù binh khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945. Trước tình thế chiến tranh sắp xảy ra, nhóm Tranh Ðấu kêu gọi dân chúng phải tản cư ra khỏi thành phố. Ủy ban Nhân dân Nam Bộ ra lệnh tản cư về thôn quê và kêu gọi nhân dân “giữ bình tĩnh vì chính phủ hi vọng sẽ thương lượng được”. Trong đêm chủ nhật 23 tháng 9, vào lúc 4 giờ sáng, lính Pháp được tái võ trang và lính Gurka của quân đội Anh đã nổ súng tái chiếm các kho bạc, sở Mật thám, nhà bưu điện, dinh Xã Tây (trụ sở của Ủy ban nhân dân Nam Bộ)… https://nghiencuulichsu.com/wp-content/uploads/2019/03/l_french-return.jpg Lính Lê dương Pháp tái chiếm Nam bộ Cuộc kháng chiến Nam Bộ đã khởi sự từ ngày này và đã đưa đất nước Việt Nam vào một cuộc chiến kéo dài trên 30 năm với bao nhiêu chết chóc, điêu tàn, đổ vỡ. https://tuoitre.vn/nguyen-an-ninh---tieng-chuong-thuc-tinh-muon-nguoi-563157.htm Nguyễn An Ninh - tiếng chuông thức tỉnh muôn người NGUYỄN SƠN TT - Nguyễn An Ninh sinh năm 1900, sinh ra và lớn lên trên đất Gia Định Sài Gòn xưa, cả đời ông gắn với mảnh đất Nam kỳ. Tuổi thơ của Nguyễn An Ninh được hun đúc bằng những hình ảnh đẹp của người cha. Phóng to Nguyễn An Ninh (bìa trái) và Nguyễn Thế Truyền (bìa phải) năm 1927 tại Pháp - Ảnh tư liệu gia đình Phóng to Nguyễn An Ninh thời trẻ - Ảnh tư liệu Trốn sang Pháp, vào Sorbonne Thân phụ ông là cụ Nguyễn An Khương, một nhà nho yêu nước, là một nhà giáo tự mở trường, tự soạn sách về những gương hiếu nghĩa để dạy học trò, là một lương y cứu giúp người không lấy tiền. Cụ thành lập khách sạn Chiêu Nam Lầu để chiêu hiền đãi sĩ cho các phong trào yêu nước. Cụ là một trong ba người lãnh đạo phong trào Đông Du ở phía Nam. Năm 1908 khi phong trào bị thực dân Pháp phát giác, ba người lãnh đạo là Trần Chánh Chiếu, Nguyễn An Khương, Nguyễn Thần Hiến đều có trát đòi. Trần Chánh Chiếu và Nguyễn An Khương bị tống giam, Nguyễn Thần Hiến trốn thoát sang Xiêm, rồi sang Quảng Châu để gặp cụ Phan Bội Châu. Quyết noi gương cha, Nguyễn An Ninh đã cố gắng học thật giỏi với ước mong có kiến thức để trở thành người ích nước lợi dân. Năm 16 tuổi, với thành tích học tập xuất sắc ông được tuyển thẳng vào Trường cao đẳng Hà Nội, nhưng ông đã thất vọng khi nhận ra nền giáo dục của thực dân chỉ nhằm đào tạo những người làm tay sai cho bộ máy cai trị. Thế rồi con đường dấn thân của Nguyễn An Ninh bắt đầu bằng việc rời bỏ ngôi trường ấy, là thoát khỏi bóng đen hắc ám của mạng lưới mật thám, khi thân phụ liên can trong vụ án “Gilbert Chiếu cùng đồng bọn âm mưu chống Pháp” (hồ sơ vụ án số 159). Con đường dấn thân đó là tìm đến nơi có cuộc cách mạng dân chủ nổi tiếng, nơi đã ươm mầm cho những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái mà Nguyễn An Ninh rất ngưỡng mộ. Nguyễn An Ninh đang cần một người đưa đường chỉ lối, ông viết: “Đất nước chúng ta cần biết bao những con người hiểu biết tâm hồn nòi giống mình, hiểu biết những nhu cầu tinh thần và những gì phù hợp với tâm hồn nòi giống chúng ta, chúng ta đang cần những con người có khả năng hướng dẫn từng bước đi cho dân tộc, soi sáng con đường đi của dân tộc”. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) chưa kết thúc, Nguyễn An Ninh thoát khỏi tầm kiểm soát của bộ máy cai trị, trốn sang Pháp lúc ông đủ 18 tuổi. Đến Paris, sau khi ổn định cuộc sống, ông đã vùi đầu vào học để ôn thi, chỉ ba tháng ông đậu vào Trường đại học Sorbonne. Một năm sau ông đậu bằng cử nhân luật hạng xuất sắc. Gặp Nguyễn Ái Quốc, vào nhóm “Ngũ Long” Là một thanh niên còn rất trẻ lại thông minh hoạt bát, thân thiện và rất giỏi tiếng Pháp, Nguyễn An Ninh được sự cảm mến giúp đỡ của mọi người. Ông kết thân với các nhà cách mạng, giao du với bạn bè là nhà văn, nhà báo. Trong số bạn bè có hai người đã có nhiều ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của Nguyễn An Ninh. Đó là giáo sư Marcel Cachin, thầy đỡ đầu suốt những năm học ở Trường đại học Sorbonne mà ông quý mến như cha. Đó là Nguyễn Ái Quốc, người quen biết của khách sạn Chiêu Nam Lầu, người bạn mà Nguyễn An Ninh đã chia sẻ khó khăn trong học tập, trong cuộc sống. Năm 1921 khi Nguyễn An Ninh đã viết xong luận án tiến sĩ luật, cũng là lúc Nguyễn Ái Quốc gặp nhiều khó khăn trong nhóm các nhà yêu nước VN qua nhiều đêm tranh luận gay gắt. Nguyễn An Ninh suy nghĩ nhiều và ông không thể nào học tiếp. Ông rời bỏ trường đại học để có thời gian nhiều hơn sát cánh cùng Nguyễn Ái Quốc san sẻ khó khăn trong công việc. Cũng từ đây tập hồ sơ của sở mật thám mang ký hiệu SPCE/384, lưu giữ tại trung tâm lưu trữ hải ngoại Pháp ngày càng dày thêm. Cũng trong năm 1921 có một thanh niên vừa tốt nghiệp kỹ sư hóa ở Toulouse, lên Paris học tiếp để lấy bằng tiến sĩ tại Trường đại học Sorbonne, đó là Nguyễn Thế Truyền. Nguyễn Thế Truyền cũng bị sức hấp dẫn của Nguyễn Ái Quốc, rồi Truyền cũng bỏ học, bỏ thi tiến sĩ, cùng chung chí hướng, họ trở thành bộ ba cùng nhau sát cánh hoạt động. Họ trở thành những nhà yêu nước nổi tiếng trên đất Pháp trong nhóm “Ngũ Long” (gồm: Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền). Tại Paris họ tham gia diễn thuyết, viết báo tố cáo tội ác của thực dân, vận động kiều bào đoàn kết đấu tranh hướng về Tổ quốc. Phóng to Nguyễn An Ninh năm 20 tuổi, vừa đỗ cử nhân luật tại Paris - Ảnh tư liệu gia đình Xác định bổn phận của mình Nhưng đó chưa phải là mục tiêu đấu tranh của họ, điều mong ước lớn lao mà họ thề nguyện cùng nhau sẽ phấn đấu suốt cuộc đời là Tổ quốc độc lập, dân tộc thoát kiếp nô lệ. Điều mong ước của họ là tâm huyết mà Nguyễn An Ninh đã viết khi về nước: “Chúng ta sinh ra vào một thời đại mà nhiệm vụ đòi hỏi ở ta quá nặng nề vượt quá sức của ta. Chúng ta có bổn phận phải hi sinh để xây dựng một tương lai mà chúng ta không kịp nhìn thấy... Chúng ta sinh ra trong một nòi giống đã luôn luôn phải trả giá rất đắt cho quyền được sống của mình” (sđd trang 145). Họ muốn kết hợp mọi sức mạnh cần thiết trên con đường vô vàn khó khăn mà họ bắt đầu. Tháng 10-1922 Nguyễn An Ninh trở về nước thăm dò tinh thần của quần chúng và sự phản ứng của nhà cầm quyền bằng bài diễn thuyết đầu tiên vào đêm 25-1-1923 tại Hội Khuyến học Nam kỳ. Thính phòng chật ních người nghe. Điều quan trọng là quần chúng không quan tâm người nói là ai, nói hay hay nói dở ra sao mà quan trọng là nội dung bài nói đã khơi dậy tinh thần dân tộc. Nội dung bài diễn thuyết đã giữ chân mọi người, không ai bỏ về, còn vỗ tay nhiệt liệt nhiều lần. Nguyễn An Ninh mừng quá, điều đó chứng tỏ dân Việt tràn đầy nhiệt huyết, chỉ cần có người khơi dậy, dù người đó chỉ là một thanh niên mới 23 tuổi chưa có tiếng tăm. Nguyễn An Ninh thu xếp trở sang Pháp vào tháng 2-1923 để bàn bạc thực hiện kế hoạch lâu dài mà bộ ba từng mong ước. Tháng 6-1923 Nguyễn Ái Quốc bí mật sang Nga. Tháng 8-1923 Nguyễn An Ninh trở về nước. Kế hoạch này hoàn toàn bí mật, khi nhà cầm quyền Pháp phát hiện Nguyễn Ái Quốc mất tích thì Đảng Cộng sản Pháp đã đưa Nguyễn Ái Quốc ra khỏi biên giới. https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3098/12359/nguyen-an-ninh-va-nguoi-vo-cung-anh-dji-suot-cuoc-djoi.html Nguyễn An Ninh và người vợ "Cùng anh đi suốt cuộc đời" Nguyễn Anh Ninh là một trong những chí sĩ, những nhà cách mạng lớn đầu thế kỷ XX. Ông đã dành trọn cuộc đời của mình để tìm lấy con đường giải phóng đất nước. Đồng hành bên ông chính là người vợ đã quyết định hi sinh cuộc sống giàu sang của mình để gắn cuộc đời mình trong hành trinh đầy gian nan, khổ cực ấy… Nhà cách mạng 5 lần tù đày Nguyễn An Ninh sinh ngày 15/9/1900 ở xã Long Thượng, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn, nay là tỉnh Long An. Cha ông là Nguyễn An Khương, người ở Quán Tre, huyện Hóc Môn. Nguyễn An Khương là một nhà văn có tinh thần yêu nước, tinh thông Hán học cũng như chữ Quốc ngữ. Chú ruột của Nguyễn An Ninh là ông Nguyễn An Cư, cũng là một nhà văn, một Đông y sĩ nổi tiếng. Cả cha và chú của Nguyễn An Ninh đều được nhiều người trong nước quý trọng. Nguyễn An Ninh theo học ở trường Taberd, Collège Mỹ Tho rồi Trường Chasseloup Laubat, nay là trường THPT Lê Quý Đôn ở Sài Gòn. Năm 1915, khi mới 15 tuổi, Nguyễn An Ninh đã được nhận làm biên tập cho tờ Courrier Saigonnais. Năm sau, nhờ tốt nghiệp trung học với bằng ưu nên ông ra Hà Nội học Cao đẳng Y Dược và được miễn chuẩn bằng tú tài. Tuy nhiên, học được nửa năm, Nguyễn An Ninh quyết định chuyển sang học luật. Năm 1918, Nguyễn An Ninh sang Paris, Pháp để tiếp tục học luật tại Đại học Sorbonne. Hai năm sau, ông đã hoàn thành chương trình học tập và được cấp bằng cử nhân Luật hạng xuất sắc. Trong thời gian ở Paris, Nguyễn An Ninh liên hệ với những chí sĩ đương thời như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nguyễn Ái Quốc. Hoạt động của năm người đã tạo được uy tín với kiều bào tại Pháp nên còn được gọi là nhóm “Ngũ Long”. Ngày 5/10/1922, Nguyễn An Ninh về nước. Lần đầu tiên, Nguyễn An Ninh ra mắt công chúng Nam Kỳ tại Hội khuyến học Nam Kỳ số 34 đường Aviateur Garros, nay là đường Thủ Khoa Huân vào lúc 20 giờ ngày 25/1/1923 với một bài diễn thuyết có tên là “Chung đúc học thức cho dân An Nam” để kêu gọi người dân Việt hãy mau “noi theo cái học thức Pháp, đặng mở mang trí dân, rộng tư tưởng của dân, làm cho giòng giống tráng kiện, mau thoát cái ách nô lệ. Bằng cứ theo nẻo hoạn đồ, lấy việc làm quan là mục đích của việc học thì hỡi ơi! Sau này giòng giống sẽ yếu ớt, ắt có ngày kia rút vô rừng mà ở!”. Đến ngày 22/2/1923, Nguyễn An Ninh sang Pháp lần thứ hai với ý định hoàn thành bằng Tiến sĩ Luật nhưng ông chỉ lưu lại hơn nửa năm rồi trở về nước. Vợ chồng ông Nguyễn An Ninh và bà Trương Thị Sáu. Trong nước, ông dịch 5 chương đầu cuốn “Khế ước xã hội” của nhằm truyền bá tư tưởng “Người ta sinh ra tự do. Nhà nước là một tổ chức cai trị theo khế ước xã hội. Vì thế nó phải phục tùng ý chí của toàn dân”. Vào đêm 15 tháng 10 năm 1923, Nguyễn An Ninh lại xuất hiện trên diễn đàn với đề tài “Cao vọng của thanh niên An Nam”. Ông cho rằng “cứ suy tôn Khổng Tử, khó cho ta tiến bước được,… tự do không phải là một vật gì mà ta có thể chuyền tay, có thể cho hay bán. Ai cũng có thể tự do được. Thanh niên ngày nay, không ai cấm chúng ta phác họa ước mơ và cao vọng”. Và sau đó ông còn đả kích thực dân Pháp “khai thác bóc lột đến tận xương tủy cả Đông Dương”. Thống đốc Cognacq mấy lần gọi ông đến đe dọa và tuyên bố cấm ông diễn thuyết tại các nơi công cộng. Tuy nhiên, những việc đe dọa của thực dân Pháp không hề làm giảm đi ý chí muốn giải phóng đất nước và dân tộc của Nguyễn An Ninh. Sau khi tổ chức các buổi diễn thuyết, Nguyễn An Ninh đã tổ chức tờ báo “Tiếng chuông rè” để công kích chính sách thực dân Pháp, đề cao các nhà cách mạng, làm cho người đọc tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc và truyền bá những tư tưởng tự do. Số đầu tiên của tờ báo ra ngày 10/12/1923. Không chỉ những ông làm chủ bút, viết bài, xếp chữ, tự tay chăm sóc tờ báo về mọi mặt, Nguyễn An Ninh còn tự tay ôm báo đi rao bán. Để đàn áp tờ báo, chính quyền thực dân đã cấm các nhà in và bưu điện không được in ấn, phát hành hay vận chuyển tờ báo. Ai dám đi bán báo, đọc báo đều bị theo dõi, thậm chí nếu là công chức sẽ bị sa thải. Do chính sách quá khắc nghiệt của chính quyền thực dân nên tờ “Tiếng chuông rè” chỉ ra được 19 số báo thì bị đình bản vào ngày 14/7/1924. Vào ngày 10/1/1925, Nguyễn An Ninh sang Pháp lần thứ ba. Trong thời gian ở Pháp, ông đã viết tác phẩm “Nước Pháp ở Đông Dương” để thể hiện tinh thần chống thực dân, yêu cầu các quyền tự do cơ dân chủ cơ bản, sơ đẳng của một con người. Ngoài ra, ông còn diễn thuyết tại Khách sạn Hội Bác học, Paris với nội dung “Tinh thần dân chủ của nước Việt Nam". Một thời gian sau đó, Nguyễn An Ninh và Phan Chu Trinh cùng về nước. Cuối năm 1925, sau khi tờ “Tiếng chuông rè” được xuất bản lại, Nguyễn Anh Ninh lại tiếp tục viết bài cho tờ báo. Cũng từ thời điểm này, quan điểm chủ nghĩa Max Lenin của “Tiếng chuông rè” cũng rõ nét hơn. Vào ngày 21/3/1926, Nguyễn An Ninh diễn thuyết trước ba ngàn người nghe, kêu gọi chống chủ nghĩa thực dân. Ba hôm sau, ông bị nhà cầm quyền Pháp bắt kết án 18 tháng tù, nhưng chỉ bị giam 10 tháng thì được “ân xá”. Sau khi ra tù, ông đã sáng lập ra Thanh niên Cao vọng Đảng, một tổ chức yêu nước hoạt động theo nguyên tắc hội kín ở Nam Kỳ. Ông còn phối hợp với các cán bộ của Hội Việt Nam Cách Mệnh Thanh Niên trong vận động quần chúng và phát triển tổ chức của hội. Tiếp đó, Nguyễn An Ninh lại qua Pháp. Ở Pháp lần này, Nguyễn An Ninh giao lưu với nhiều nhà yêu nước khác. Ngày 6/1/1928, Nguyễn An Ninh về nước và được đồng bào đón tiếp nồng nhiệt. Ông sáng tác vở tuồng hát Hai Bà Trưng để cổ xúy tinh thần yêu nước. Vở tuồng được in thành bốn ngàn quyển và chỉ để dành tặng. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là khi vở tuồng chưa kịp diễn thì đã bị cấm. Cuối năm 1928, Nguyễn An Ninh bị bắt lần thứ hai. Lần này, chính quyền thực dân Pháp dựng lên vụ “Hội kín Nguyễn An Ninh” để bắt mấy trăm người ủng hộ ông. Ông bị kết án và giam giữ 3 năm. Thế nhưng, việc thực dân Pháp cầm tù không thể khiến cho tinh thần yêu nước của Nguyễn An Ninh suy giảm. Nên sau khi ra tù, Nguyễn An Ninh lại tiếp tục viết cho tờ “Trung Lập” và “Tranh Đấu”. Do hoạt động quá tích cực nên đến tháng 4 năm 1936, Nguyễn An Ninh lại bị bắt về tội “phá rối trị an”. Ông tuyệt thực phản đối và nhờ quần chúng đấu tranh dữ dội đòi thả ông nên Pháp buộc lòng phải trả tự do cho ông vào tháng 11 cùng năm. Song, tiếp đó, đến tháng 7/1937, Pháp lại bắt giam ông và giam cho đến tháng 1 năm 1939. Ra khỏi tù, Nguyễn An Ninh hoạt động với những người đồng chí trong nhóm Dân Chúng. Ông tổ chức và tham gia nhiều cuộc biểu tình đòi các quyền tự do dân chủ. Sau đó, Nguyễn An Ninh còn ra ứng cử vào Hội đồng Quản hạt. Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra ở Châu Âu. Ở Đông Dương, chính quyền Pháp liền tuyên bố thiết quân luật, ráo riết truy lùng, bắt bớ, sát hại các nhà yêu nước và chiến sĩ cách mạng. Ngày 5/10/1939, Nguyễn An Ninh lại bị bắt lần thứ năm. Đây cũng là lần cuối cùng Nguyễn An Ninh bị bắt. Bởi sau đó, ông nhận án 5 năm tù lưu đày ở Côn Đảo. Trên đảo, do bị hành hạ, bị đói khát triền miên nên ông kiệt sức dần. Nguyễn An Ninh mất trong tù vào ngày 14/8/1943. Trước khi mất, ông đã viết bài thơ của mình với những câu thơ thể hiện đậm nét khí chất khẳng khái của mình: “Sống mà vô dụng, sống làm chi Sống chẳng lương tâm, sống ích gì? Sống trái đạo người, người thêm tủi Sống quên ơn nước, nước càng khi. … Chết đó, rõ ràng danh sống mãi Chết đây, chỉ chết cái hình hài Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi Chết cho hậu thế, đẹp tương lai” Nhận xét về Nguyễn An Ninh, rất nhiều học giả đã dành cho ông những lời tốt đẹp nhất. Giáo sư Nguyễn Văn Giàu đã viết: “Người anh Ninh, tóc chấm vai, mắt sáng như sao, tiếng trong như chuông. Ở đất Sài Gòn mà mặc bà ba, đi guốc, bán báo Chuông rè của mình viết. Hình ảnh đó tự nó đủ gây cảm tình sâu sắc với đồng bào... Một thuở, Nguyễn An Ninh là thần tượng của đồng bào lục tỉnh, của học sinh chúng tôi... Con người sôi nổi, đại chúng đó, hùng hồn ở diễn đàn, bén nhọn trên cột báo, không chút sợ Tây, tà, vào tù như về quê, con người ấy đồng thời là một người trầm tư, mặc tưởng...”. Trong khi đó, tiến sĩ sử học Pháp Daniel Héméry lại viết: “Nguyễn An Ninh là người có ảnh hưởng lớn đến trí thức miền Nam Việt Nam trong những năm 1920 - 1940, người đã thức tỉnh cả một thế hệ”. Những nhà cách mạng lớn của nước ta sau này cũng đã viết về Nguyễn An Ninh: “Nguyễn An Ninh là nhà yêu nước vĩ đại, là một trí thức tầm cỡ” ( Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh); “Nguyễn An Ninh là một nhà yêu nước, một chiến sĩ cách mạng kiên cường, kiên quyết đấu tranh vì Tổ quốc và dân tộc, cho đến hơi thở cuối cùng. Nguyễn An Ninh có tầm vóc một nhà lãnh đạo một cuộc cách mạng, cho nên chúng ta phải ghi nhớ những cống hiến quan trọng của một nhân vật có tầm vóc lịch sử” (Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Để tưởng nhớ đến những công lao mà Nguyễn An Ninh đã cống hiến cho dân tộc, ngày 18/11/2000, nhà tưởng niệm Nguyễn An Ninh đã được khởi công xây dựng. Nhà tưởng niệm được khánh thành vào ngày 15/9/2002. Nhà tưởng niệm nằm ở phía Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc phường Trung Mỹ Tây, quận 12 với diện tích khoảng 3000m². Ngày 1/8/1980, Nguyễn An Ninh đã được nhà nước Việt Nam truy nhận là Liệt sĩ. Ngoài ra, để ghi nhớ công lao của Nguyễn An Ninh với sự nghiệp giải phóng dân tộc, ở các thành phố lớn như Hà Nội, t phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu...đều có những trường học và đường phố mang tên ông. Người vợ “Cùng anh đi suốt cuộc đời” Trong cuộc đời của mình, Nguyễn An Ninh có hai người vợ. Tuy nhiên, người thường được nhắc đến với những đóng góp và hi sinh lớn lao cho cuộc đời cách mạng của ông thì chính là người vợ thứ hai, bà Trương Thị Sáu – người còn được gọi là “Cô Sáu Cầu Ông Lãnh”. Bà là người phụ nữ đảm đang, bản lĩnh, có chí tự lập để thoát khỏi cảnh nghèo, làm chủ một tiệm may nổi tiếng ở Sài Gòn thời ấy. Trước khi gặp bà Trương Thị Sáu, Nguyễn An Ninh đã một lần kết hôn. Giữa năm 1920, Nguyễn An Ninh đã hoàn tất chương trình cử nhân luật. Ông định báo tin cho gia đình sẽ ở lại để làm luận án tiến sĩ thì cha ông đánh dây thép sang bảo về gấp để lấy vợ. Việc cưới vợ cho Nguyễn An Ninh là do cô của ông, bà Nguyễn Thị Xuyên sắp đặt. Bố Nguyễn An Ninh, ông Khương không muốn Nguyễn An Ninh lập gia đình sớm nhưng nghe lời người chị thuyết phục, ông cũng xiêu lòng bởi lý do: “Sợ thằng Ninh lấy vợ đầm rồi ở bển luôn”. Cô của ba tôi đã lớn tuổi nhưng nhất định không lấy chồng. Cô vốn rất thương Nguyễn An Ninh nên mai mối ông với cô gái con điền chủ ở Sóc Trăng, tên Emilie. Cô này đi học ở Sài Gòn, nói tiếng Tây, quý phái. Chiều theo ý của cô mình nên Nguyễn An Ninh lấy Emilie. Đám hỏi xong, Nguyễn An Ninh và Emilie mới có dịp chuyện trò nhiều. Lúc này ba tôi nhận ra giữa hai người có cách biệt quá lớn về quan điểm sống, về lý tưởng. Emilie luôn kỳ vọng vào Ninh rằng khi trở thành tiến sĩ luật sẽ ngồi ở ghế cao nhất của tòa án. Tuy nhiên, khi thống đốc Nam Kỳ gửi thư mời Nguyễn An Ninh làm quan tòa thì ông không nhận. Emilie không hài lòng về quyết định của Nguyễn An Ninh. Cô không vui bởi lẽ cô đã từ bỏ cuộc sống nhung lụa ở đô thị để về vùng Hóc Môn nhưng chồng đã bỏ không học tiếp tiến sĩ lại còn từ chối làm quan tòa. Emilie bỏ về Sóc Trăng. Hai người ly dị nhau đúng ba tháng sau ngày cưới. Khoảng thời gian sau đó, Nguyễn An Ninh thường ra ruộng chơi với đám trẻ chăn trâu, hướng dẫn bọn trẻ thổi sáo, làm diều rồi mắc võng nằm ngoài đồng cả ngày. Vì thế không ít người bảo Ninh học nhiều quá hóa điên, có vợ đẹp thế mà... Đã học luật bên Tây mà từ chối làm quan, lại trở về nhà quấn quýt với đám mục đồng. Một năm sau ly hôn, ông Huỳnh Tấn Kiệt, chồng bà Nguyễn Thị Phòng, em bạn dì ruột với Nguyễn An Ninh giới thiệu cho anh Ninh một người phụ nữ. Bà là thợ may nổi tiếng ở khu vực Cầu Ông Lãnh, tên Trương Thị Sáu. Chừng một năm quen với “cô Sáu Cầu Ông Lãnh” thì ông Ninh đề cập chuyện hỏi cưới với hai điều kiện. Thứ nhất là cô Sáu không nghĩ đến chuyện buôn bán làm giàu. Thứ hai là phải về Trung Chánh, Mỹ Hòa ở. Ngưỡng mộ Nguyễn An Ninh, bà Trương Thị Sáu đã từ chối lời cầu hôn của những người quyền thế và giàu có để ông. Không nhưng thế, sau khi lấy Nguyễn An Ninh, bà Trương Thị Sáu còn chấp nhận bỏ dở con đường kinh doanh để về vùng quê Trung Chánh, xã Mỹ Hòa, Hóc Môn sinh sống với gia đình Nguyễn An Ninh. Trước khi cô Sáu về nhà chồng ở Trung Chánh, cô đã bán cửa tiệm may, vải vóc và máy móc với số tiền khoảng 10 ngàn đồng, vàng và hột xoàn. Cũng từ số tiền này mà cô có điều kiện giúp chồng và các anh em thân hữu hoạt động. Ngày mới về làm dâu, cô Sáu vẫn thường mặc áo dài nhung đen, cổ và tay đeo nhiều dây chuyền và hột xoàn, chân lúc nào cũng mang đôi hài thêu. Không ít người tỏ ra khó chịu về cách ăn mặc của cô Sáu, thậm chí còn hỏi thẳng Nguyễn An Nình rằng có phải cô Sáu có phải người của Pháp cài vào để theo dõi không. Ông Ninh chỉ cười nhẹ không đáp. Tuy nhiên, sau này, bố của Nguyễn An Ninh nói chuyện với cô Sáu. Cô Sáu hiểu nên đã cất hết tư trang và thay đổi cách ăn mặc cho giống người trong làng. Tuy quen buôn bán nhưng bà Sáu sớm thích nghi với việc nhà nông. Thời gian Nguyễn An Ninh đi Pháp để đón Phan Chu Trinh về nước, cô Sáu ở nhà làm đất trồng đủ loại cây ăn trái. Nào là xoài, trầu, cau, ổi, riêng xoài lên đến 250 gốc cho trái sum sê. Ngoài trồng cây, cô Sáu còn nuôi gà, ngựa đua, bò. Chỉ sau một thời gian ngắn, hai bàn tay của cô Sáu đã chai cứng, đen cháy. Ngày lo trồng trọt, chăn nuôi, đêm đến người bầu bạn duy nhất của cô Sáu là vợ của ông Nguyễn An Hải - con trai của mẹ kế ông Nguyễn An Ninh. Vợ ông Hai kém hơn cô Sáu ít tuổi. Đêm đến, ai ngủ buồng đó. Trước khi ngủ, hai người hùn hộp que diêm nối sợi chỉ dài để chơi trò nói chuyện điện thoại cho khuây khỏa. Khi Nguyễn An Ninh trở về nước, cô Sáu cũng trà trộn vào dòng người đi đón chồng. Tay bắt mặt mừng với anh em nhưng mắt ông Ninh cứ dõi theo đám đông tụ họp để tìm vợ. Từ xa, cô Sáu chạy đến, nói: “Tôi đây nè”. Ông Ninh nắm chặt tay vợ rồi đưa lên hôn tới tấp những chỗ chai sần. Trước đám đông, cô Sáu phải nhắc khéo để chồng kiềm chế cảm xúc. Sau sáu tháng xa cách, đêm ấy vợ chồng tâm sự với nhau đến gần sáng. Ông Ninh bàn với cha cất một căn nhà nhỏ trên mảnh đất của gia đình ở phía bên kia đường cho vợ thoải mái hơn. Được ra riêng nhưng hàng ngày cô Sáu phải sang chăm sóc vườn và phụng dưỡng cha chồng. Cô Sáu là một mẫu người dâu thảo ngoan hiền được ông Khương ưng bụng lắm. Một đêm nọ, ông Khương bị tai biến, cấm khẩu. Bà Nữ gọi con dâu chạy sang. Thấy cô Sáu, ông Khương ra dấu bảo mang giấy viết lại cho ông. Ông gắng gượng viết toa thuốc và sai đích thân con dâu đi mua về sắc cho ông uống. Hôm sau, ông Khương nói được bình thường. Về làm vợ Nguyễn An Ninh, bà Trương Thị Sáu đã cùng chồng dấn thân vào con đường hiểm nguy của những người hoạt động yêu nước vì lý tưởng độc lập, tự do và dân chủ. Không những tự nguyện bán một phần tài sản để giúp chồng có điều kiện hoạt động, không những phải lăn lộn với nhiều nghề khác nhau như trồng cây, may áo, buôn vải, làm đại lý thuốc đông y, nấu dầu cù là, lập gánh hát... để vừa nuôi năm đứa con ăn học, vừa đóng góp cho phong trào. Nhà bà là nơi đón tiếp và chăm sóc Phan Châu Trinh, Nguyễn Thế Truyền vừa từ Pháp trở về, cũng là chỗ hội họp, tá túc, nghỉ chân trên bước đường hoạt động của các nhà cách mạng khác. Ngoài ra, bà Trương Thị Sáu đã phải chịu rất nhiều nỗi đau khi gắn cuộc đời mình với cuộc đời của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh với quyết tâm hi sinh mọi thứ cho con đường giải phóng dân tộc đầy chông gai của người mình yêu thương. Bà Trương Thị Sáu đã từng chứng kiến cảnh chồng bị bắt giải lên xe cây, cảnh ông tuyệt thực đến thập tử nhất sinh, bà còn phải đối phó với những thủ đoạn mua chuộc hèn hạ của kẻ thù. Tuy nhiên, tất cả những điều đó đã không làm thay đổi được tấm lòng kiên trinh của bà Trương Thị Sáu dành cho Nguyễn An Ninh. Cuốn hồi ký “Cùng anh đi suốt cuộc đời” của bà Trương Thị Sáu chính là minh chứng rõ nhất cho tâm sự của người phụ nữ đã hi sinh cuộc đời mình cho sự nghiệp của chồng.Hùng Hoàng http://www.namkyluctinh.com/tac-gia-tac-pham/nhieu-tac-gia/nha-cach-mang-tran-van-thach.html Nhà cách mạng Trần Văn Thạch 1905–1945 Trần Văn Thạch sinh ngày 15-10-1905 tại Thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn. Học sinh giỏi trường Chasseloup-Laubat, ông thi đậu bằng Tú tài Pháp hạng ưu năm 1925. Cuối năm, ông kết hôn với Nguyễn Thị Ba, truởng nữ trong một gia đình điền chủ ở Mỏ Cày, Bến Tre. Đầu năm 1926, ông cùng với vợ, anh và em vợ sang Pháp. Tới Toulouse tháng 5-1926, ông ghi tên học khoa Triết Đại học Toulouse. Mùa thu 1927, ông lên Paris tiếp tục học; tháng 11-1929 tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Văn chương, Đại học Sorbonne (Paris). Về nước đầu năm 1930, không tham gia chính quyền Pháp, ông sinh sống bằng nghề dạy Pháp văn các trường tư thục ở Sài Gòn (Lê Bá Cang, Huỳnh Khương Ninh). Ông sống giản dị, thân tình chia sẻ với bạn, quan tâm đến giai cấp bình dân. Vợ mất năm 1935, năm đứa con nhỏ bơ vơ, hai năm sau ông tục huyền với Nguyễn Kim Ngọc. Ông bà sinh được một người con gái đặt tên Mỹ Châu. Một năm sau khi tới Pháp, ông cho ra tờ Journal des Étudiants annamites (“Báo Sinh viên An Nam”) trên đó ông kêu gọi sinh viên đoàn kết chống áp bức, bất công của chế độ thuộc địa và thể chế quân chủ quan lại tham nhũng, bằng cách tham gia hoạt động chính trị, tranh đấu hòa bình, tránh bạo lực. Để ngăn chận hoạt động chống chính sách thuộc địa của ông, quyền Toàn quyền Đông Dương Monguillot đề nghị với chính phủ Pháp trục xuất ông về nước năm 1928, nhưng nhờ Hội Bảo vệ Nhân quyền và Dân quyền Pháp can thiệp, ông được ở lại Pháp tiếp tục việc học. Trong bài “Một giấc mơ độc đáo” đăng trên báo JEA (ngày 15-12-1927) ở tuổi 22, ông mơ ước một nước Việt Nam độc lập không lệ thuộc Nga hay Tàu, với một chính thể đa đảng – hai khối tư sản và vô sản hợp tác với nhau – và một chính sách an sinh xã hội dựa theo mô hình các nước Âu châu tân tiến. Năm 1934 theo lời kêu gọi của Nguyễn An Ninh, ông cùng với một nhóm trí thức Tây học khuynh hướng chính trị khác nhau thành lập nhóm La Lutte (Tranh Đấu). Cộng sản Đệ Tam có Nguyễn Văn Tạo, về sau có thêm Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Nguyễn; xu hướng trốtkít (còn được gọi là Đệ Tứ) có Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Chánh; Quốc gia tả khuynh có Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thạch. Cần chú ý là các đảng Cộng sản trên thế giới lúc đó nằm trong hệ thống Đệ Tam Quốc tế Cộng sản do Liên Xô lãnh đạo, hoạt động theo lệnh đảng. Đệ tứ Quốc tế chỉ là một phong trào chính trị, cấp tiến, thiên tả và theo tư tưởng Trotski, không thuộc đảng phái nào. (Trần Gia Phụng, “Giới thiệu sách Trần Văn Thạch, 2014). Nhóm trí thức trẻ nói trên đồng thuận không chỉ trích lẫn nhau về vấn đề lập trường. Mọi khác biệt được bỏ qua để tạo một chiến tuyến chung: chống chế độ thực dân quan lại hà hiếp dân nghèo; chống bóc lột, tham nhũng; đòi quyền dân chủ cơ bản (quyền bầu cử, hội họp, lập công đoàn; tự do ngôn luận, báo chí, v.v.); củng cố phong trào công nhân; khơi dậy ý thức chính trị nơi quần chúng. Vũ khí chính của họ là tờ báo Pháp ngữ La Lutte (1933-1939) mà Trần Văn Thạch được xem như là chủ bút. Nhóm Tranh Đấu cũng chủ trương tham chánh bằng cách ứng cử vào Hội đồng Thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn và Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Các ông Thâu, Thạch, Tạo nhiều lần đắc cử Hội đồng Thành phố. Với chức vụ nghị viên “Lao động” HĐTP (liên tục từ 1935 đến 1939) và nhà báo (ông thường có mặt ở báo quán La Lutte để tiếp xúc với người dân) ông có cơ hội chứng kiến, theo dõi những bất công xã hội, can thiệp giúp đỡ dân nghèo và lên tiếng trên nghị trường và báo chí. Năm 1937, sau khi những người Cộng sản Đệ Tam ly khai nhóm Tranh Đấu, theo lệnh Quốc tế Cộng sản, nhóm trốtkít công khai chỉ trích mạnh mẽ chính sách và chiến lược của Staline, Liên Xô, QTCS, và đảng Cộng sản Pháp. Uy tín những người trốtkít trong nhóm Tranh Đấu càng ngày càng tăng cao. Trong cuộc bầu cử HĐQH Nam Kỳ tháng Tư năm 1939, “Sổ Tranh Đấu” của các ông Thâu, Hùm, Thạch đại thắng “Sổ Dân chúng” xu hướng Cộng sản Đệ Tam của các ông Ninh, Tạo, Mai, và luôn cả “Sổ Lập hiến” của nhóm tư sản. Đệ nhị Thế chiến đã bộc phát ở Âu châu. Để phòng bị chiến tranh thực dân thi hành chính sách đàn áp các phong trào quần chúng ở Đông Dương, bắt tống giam cả trăm nhân sĩ thuộc mọi khuynh hướng chính trị. Trần Văn Thạch bị bắt ngày 1-10-1939 giam Khám lớn Sài Gòn, ra tòa ngày 18-6-1940, lãnh án 4 năm tù 10 năm biệt xứ, đày ra Côn Đảo ngày 10-12-1940. Ở tuổi 23, đơn chiếc, túng thiếu, người vợ trẻ của ông phải đưa các con ông về Phú Lâm và Mõ Cày nhờ bác, cậu mợ chăm sóc. Đứa con đầu lòng Mỹ Châu 2 tuổi, về Vĩnh Long ở với bà ngoại để bà có thể buôn bán tảo tần, nuôi mẹ nuôi con. Mãn tù ngày 1-10-1943, bị quản chế ở Cần Thơ, ông trở về nghề giáo, nuôi gia đình, dạy Pháp văn ở trường Bassac. Sau khi Nhựt đảo chánh (ngày 9-3-1944), ông và các bạn trở về Sài Gòn tái lập nhóm Tranh Đấu khoảng tháng 5-1945, có ảnh hưởng mạnh với các chánh đảng, giáo phái xu hướng quốc gia. Ngày 15-8-1945, Nhựt đầu hàng Đồng Minh. Ngày 25-8-1945, Việt Minh lên nắm chánh quyền ở Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của Trần Văn Giàu. Ngày 23-9, Pháp tái chiếm Sài Gòn với sự yểm trợ của phái bộ Anh do tướng Gracey chỉ huy, tới Sài Gòn với trách nhiệm giải giới quân Nhựt. Trần Văn Giàu ra lịnh di tản Sài Gòn, kháng chiến chống Pháp. Khi Pháp tái chiếm Sài Gòn, công nhân nhóm Tranh Đấu đã tổ chức các toán võ trang. Họ bị tổn thất nặng nề trong trận giao chiến với Pháp ở khu vực Thị Nghè. Chẳng những không cho tiếp tế vũ khí và đạn dược, Trần Văn Giàu còn cho rải truyền đơn ra lịnh tước vũ khí toàn bộ lực lượng kháng chiến của nhóm Tranh Đấu. Ban lãnh đạo nhóm (lúc đó chỉ còn các ông Thạch, Hùm, Chánh, Lợi, Số; Tạ Thu Thâu, lãnh tụ nhóm Tranh Đấu đã bị Việt Minh giết ở Quảng Ngãi) và khoảng 30 công nhân chiến đấu còn sống sót tụ họp ở Xuân Trường gần Thủ Đức, lấy một ngôi đình làm doanh trại, chuẩn bị chống Pháp, nhưng họ bị Việt Minh bao vây. Các ông Hùm, Chánh, Lợi, Số lãnh nhiệm vụ đi công tác đều mất tích. Trần Văn Thạch là người cuối cùng còn ở lại bản doanh với các anh “lính” trẻ, súng ống ít oi. Sáng sớm ngày 11-10-1945, công an Việt Minh đến áp đảo doanh trại bắt ông dẫn đi biệt tích. Một tối cuối năm 1946, có người khách lạ tìm đến tận nhà để trao lại cho vợ ông một quyển sổ nhỏ cầm tay, cặp mắt kiếng và chiếc đồng hồ quả quít của ông và cho biết ông đã bị Việt Minh giết. Trong quyển sổ nhỏ ông viết vội vàng vài lời nhắn nhủ vợ con. Di bút đề ngày 22-10-45. (Do đó gia đình chọn ngày này làm ngày giỗ.) Ông không bao giờ được bồng đứa con gái út trong tay: Mỹ Chung, em của Mỹ Châu, ra đời ngày 26-12-1945 giữa cơn loạn lạc. Tai họa dồn dập đến với gia đình ông. Năm 1949, người con trai thứ hai, 16 tuổi, học sinh xuất sắc trường Chasseloup-Laubat, chết vì một viên đạn Việt Minh trên cù lao An Thành (Vĩnh Long). Vài tháng trước đó, vợ ông bị mật thám bắt tra khảo, bà bị mất trí đến cuối đời (Bà mất ngày 12-2-2014). Trên giường bịnh, bà hỏi con gái: Sao ba Thạch chưa về thăm má? Một sáng sớm bà nói nhỏ với con: Ba Thạch dặn Má Ngọc chờ rồi về rước đi… Gần 70 năm, trong cái thế giới riêng tư, huyền ảo, người vợ trẻ vẫn ngồi đợi chồng về. Ông chết trẻ ở tuổi 40 nhưng để lại cho hậu thế một di sản tinh thần quý giá – các bài báo khích lệ lòng yêu nước thương dân, ý chí đấu tranh gỡ ách đô hộ ngoại bang, chống cường quyền áp bức của thực dân và quan lại bản xứ. Ông cũng để lại một tấm gương trong sáng: một cuộc đời thanh bạch, không màng lợi danh, hy sinh bản thân và hạnh phúc gia đình để đấu tranh cho một xã hội công bằng, cho quyền tự do dân chủ. Trần Mỹ Châu (Ngày 8 tháng 3 năm 2017) https://usvietnam.uoregon.edu/en/2369-2/