Sunday, March 8, 2026

NHỚ VỀ IRAN: MỘT THỜI TỪ BI, THƠ MỘNG

https://thuvienhoasen.org/a43611/nho-ve-iran-mot-thoi-tu-bi-tho-mong-nguyen-giac-phan-tan-hai NHỚ VỀ IRAN: MỘT THỜI TỪ BI, THƠ MỘNG Nguyên Giác Phan Tấn Hải https://thuvienhoasen.org/images/file/ZKGOUcR83ggBACQO/w600/photo-1-truyen-ngan-le-mot-dem.jpg
Ngàn Lẻ Một Đêm, tranh của họa sĩ Sani‛ Ol-Molk (1814-66). Photo: Boston University Libraries. Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu... Một thời xa xưa, thời trước khi Hồi giáo tới Iran, Phật giáo đã truyền sang Iran và nhiều quốc gia lân bang, làm người dân sống rất mực từ bi và thơ mộng, nơi họ kể cho nhau nghe các truyện Bản Sanh trong Tiểu Bộ Kinh của nhà Phật, nơi những người đạo đức có thể nghe được các con voi, nai, chim và các thú rừng nói chuyện với nhau. Nhiều thế kỷ sau, một số truyện này ghi dấu trong kho truyện cổ tích Ba Tư, rải rác trong Ngàn Lẻ Một Đêm, bộ sưu tập các truyện dân gian Trung Đông và Nam Á được biên soạn bằng tiếng Ả Rập trong thời đại hoàng kim Hồi giáo. Điểm chung của các lần xuất bản bộ truyện là truyện nền ban đầu kể về vị vua Shahryār và vợ của vua là nàng Scheherazade. Truyện nền đã giúp kết hợp chặt chẽ xuyên suốt cho chính các truyện kể khác. Nếu bạn đã từng đọc truyện Bản Sanh của Phật giáo trong Tiểu Bộ Kinh, bạn sẽ kinh ngạc thấy nhiều yếu tố rất gần nhau, khi đối chiếu vài truyện với nhau. Kho tàng truyện cổ Ngàn Lẻ Một Đêm được kết nối xoay quanh một sợi chỉ xuyên suốt, theo Wikipedia: Xưa kia ở miền Đông Ả-rập, thời Sassanid có một vị vua Ba Tư tên là Shahriyar. Vị vua ngự trị trên một hòn đảo không rõ tên ở giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Ban đầu, ông vốn là một vị hoàng đế anh minh, hiền hậu nhưng do hoàng hậu và phi tần ngoại tình nên vua đâm ra chán ghét tất cả đàn bà, tính nết trở nên hung bạo. Để thỏa cơn thịnh nộ, cứ mỗi ngày vua cưới một cô gái và sau một đêm mặn nồng lại sai lính đem giết. Nhằm thoát khỏi thảm kịch, các gia đình có con gái lần lượt bỏ xứ di cư. Thấy đất nước lâm nguy, cô Sheherazade xin cha cho mình được một đêm hưởng ân sủng của hoàng thượng. Viên tể tướng rất đau lòng khi thấy con mình nói như vậy vì ông biết sau đêm đó nàng sẽ chết. Nhưng trước sự quyết tâm của con, ông đành phải đem con dâng cho vua Shahriyar. Là cô gái thông minh, nàng đã tìm được cách để thoát khỏi cái chết. Nàng cùng với sự giúp đỡ của em gái nàng là Dinarzade, nàng nhờ em đánh thức mình dậy khi trời sắp sáng và yêu cầu nàng kể chuyện. Những câu chuyện được sắp xếp khéo léo để đúng khi mặt trời mọc là lúc hấp dẫn nhất, nàng kín đáo dừng lại khi chuyện chưa chấm dứt khiến vua còn nóng lòng muốn nghe tiếp “hồi sau thì sẽ rõ”, không thể ra lệnh xử tử nàng. Trong suốt một nghìn lẻ một đêm, nàng Sheherazade đã liên tục kể những chuyện về tình yêu, chiến tranh và pháp thuật, về những vị vua cũng như dân thường, người thương buôn, kẻ ăn mày, về những xứ sở mà kim cương nhiều hơn đá sỏi, về những cô gái đẹp, về cả những mưu toan diễn ra trong các ngõ hẻm hay các khu chợ tại các thành phố phương Đông. Hai nàng cũng kể về những thị trấn, sa mạc, hải đảo xa xôi, nơi các vị phù thủy sử dụng pháp thuật, về các loài ngựa biết bay, chó biết nói, người hóa cá, cá lớn hơn cá voi, chim khổng lồ. Nàng kể về những cặp tình nhân trong các túp lều tồi tàn, họ có thể là người gan dạ hoặc hèn nhát, nhưng tất cả đều đa tình và biết hy sinh vì người yêu. Bối cảnh của các chuyện của nàng ở phương Đông, phần lớn xoay quanh các thành phố huyền thoại Bagdad, Cairo và Damascus. Hàng ngàn đêm trôi qua, cuối cùng nhà vua từ bi trở lại, tình yêu cuộc sống và con người trỗi dậy khiến vua đã quên tâm sát nhân. Cảm phục từ các truyện kể rất nhân đạo và và rồi chân thực yêu thương nàng Sheherazade, vua đã bỏ lệnh bắt thiếu nữ làm sủng phi một đêm để giết một cách tàn nhẫn và lập nàng làm hoàng hậu bằng một đám cưới linh đình, sau đó cùng nhau sống hạnh phúc đến bạc đầu, rồi họ có với nhau ba người con trai. Bạn thấy gì? Tất cả các hình ảnh đó đều có trong Truyện Bản Sanh. Khi vua độc ác, nghe lời khuyên từ các ẩn sĩ, từ các tể tướng, từ các chàng trai và thiếu nữ thông tuệ, rồi trở thành từ bi... Kinh Bản Sanh (Jataka) của Phật Giáo thường bắt đầu bằng “Ngày xửa ngày xưa, tại Benares...” Trong khi đó, truyện Ngàn Lẻ Một Đêm thường bắt đầu bằng “Người ta kể rằng, ở một vùng núi xa xôi...” Về xây dựng nhân vật cũng có yếu tố tương tự. Truyện Bản Sanh thường có các con vật là tiền thân Đức Phật hay các bậc thánh tăng, và nói ra ngôn ngữ rất đạo đức. Ngàn Lẻ Một Đêm cũng có nhiều thú vật biết nói, thường trích dẫn triết lý và thơ ca. Các đoạn kết thì y hệt nhau, nhưng dị biệt là: Truyện Bản Sanh rút ra bài học về luân hồi hoặc đức hạnh. Còn Ngàn Lẻ Một Đêm đưa ra bài học về sự khôn ngoan và sự quan phòng của Thượng đế (đã được Hồi giáo hóa). Nếu chúng ta thay chữ Thượng Đế bằng chữ Nguyên Lý Tối Cao, Luật Nhân Quả, Pháp Duyên Khởi... thì dị biệt không nhiều. Nếu chuyển hóa từ ngôn ngữ "Đức Phật trong tiền kiếp" thành "Vị ẩn sĩ Hồi giáo" thì sẽ là những tương tự tuyệt vời. Như truyện The Tale of King Jali'ad of Hind and his Vizier Shimas (Truyện về vua Jali'ad của xứ Hind [Ấn Độ] và tể tướng Shimas) trong Ngàn Lẻ Một Đêm, kể về Vua Jali’ad, người cai trị Ấn Độ (Hind), và vị tể tướng thông thái Shimas. Truyện cấu trúc như một chuỗi truyện ngụ ngôn được các nhân vật sử dụng để đưa ra lời khuyên về đạo đức và chính trị. Thường bắt đầu với việc Vua Jali’ad có một giấc mơ kinh hoàng (chẳng hạn như đổ nước lên cây và thấy chúng bốc cháy), và vua yêu cầu tể tướng Shimas giải thích giấc mơ đó. Vua Jali'ad là một vị vua nhân từ nhưng ban đầu chưa có con nối dõi. Sau khi cầu nguyện và có được hoàng tử Wird Khan, vua đã nhờ tể tướng Shimas dạy dỗ con mình. Phần lớn truyện là các bài giảng của Shimas dành cho nhà vua và hoàng tử thông qua các câu chuyện ngụ ngôn về loài vật và thiên nhiên để dạy về cách kiềm chế dục vọng, lòng từ bi, và sự nguy hiểm của tâm tham và sân. Khi Hoàng tử Wird Khan lên ngôi vua, Shimas tiếp tục sử dụng truyện ngụ ngôn để hướng dẫn tân vương trở thành một người cai trị công bằng. Các lời răn dạy của Shimas về việc một vị vua phải nhiếp phục bản thân trước khi nhiếp phục thiên hạ rất gần gũi với Phật giáo. Trong truyện trên, một phần y hệt như đời Đức Phật, khi so sánh các tình tiết chính giữa nhân vật Hoàng tử Wird Khan (trong truyện Ngàn Lẻ Một Đêm) và Thái tử Tất Đạt Đa (Đức Phật). Sử Phật giáo ghi rằng Vua Tịnh Phạn hiếm muộn, cầu nguyện và nằm mơ mới có con là ngài Tất Đạt Đa. Trong khi đó, truyện Iran kể rằng Vua Jali'ad già yếu, không có con, sau khi cầu nguyện khẩn thiết mới sinh được Wird Khan. Đối chiếu về lời các tiên tri nhìn về tương lai cũng tương tự. Phật sử kể rằng các đạo sĩ tiên tri Thái tử Tất Đạt Đa sẽ là bậc Chuyển luân Thánh vương hoặc sẽ là Pháp Vương nếu xuất gia. Trong truyện cổ Iran, các chiêm tinh gia tiên đoán hoàng tử Khan sẽ có trí tuệ siêu phàm và thay đổi vận mệnh vương quốc. Phật sử kể rằng Thái tử Tất Đạt Đa học thông thạo các môn nghệ thuật và võ thuật từ nhỏ. Truyện cổ Iran này kể tương tự: Hoàng tử Wird Khan được tể tướng Shimas dạy dỗ về triết học và đạo đức từ năm 5 tuổi, bộc lộ trí tuệ vượt bậc. Ý thức về khổ và vô thường: Phật sử kể rằng Thái tử Tất Đạt Đa đi dạo 4 cửa thành, thấy hình ảnh Sinh-Lão-Bệnh-Tử và quyết định từ bỏ ngai vàng. Trong truyện cổ Iran, sau cái chết của vua cha, Wird Khan đối mặt với sự vô thường của quyền lực và những bài học về khổ đau. Dĩ nhiên là có dị biệt: được kể lại trong môi trường Hồi giáo, kết thúc của Wird Khan là thiên về việc trở thành một "Vị vua hiền triết". Tuy nhiên, các bài học ngụ ngôn về con báo, con cá, và con chim trong truyện chính là những bản sao của các truyện Jataka (Bản Sanh) mà Đức Phật dùng để dạy về Nghiệp và Giải thoát. Sự tương đồng không phải ngẫu nhiên. Một số nhà nghiên cứu (như chuyên gia văn học dân gian Joseph Campbell) khẳng định rằng: Tiền thân của Ngàn Lẻ Một Đêm là tập truyện Ba Tư Hezar Afsan, vốn được dịch và phóng tác từ các nguồn văn học Ấn Độ (từ ngôn ngữ Sanskrit). Khi Phật giáo lan tỏa sang Trung Á, các truyện Bản Sanh, thường dùng thế giới loài vật để dạy đạo, đã hòa nhập vào dòng chảy văn học dân gian của người Ba Tư và Arab, sau đó được "Hồi giáo hóa" nhưng vẫn giữ cốt lõi triết lý. Trong bộ Ngàn Lẻ Một Đêm, có truyện "Vị Ẩn sĩ và Những Con Thú" (The Hermit and the Animals). Một vị ẩn sĩ sống trong núi, thực hành khổ hạnh và từ bi. Vị này cứu một con chim bị thương, chia sẻ thức ăn cho những con thú hoang. Khi một thợ săn đến, các con vật đã hợp sức để bảo vệ vị ẩn sĩ và lừa người thợ săn rời đi (trong truyện Bản Sanh, người thợ săn thường là tiền thân của Đề Bà Đạt Đa, tượng trưng cho ác tâm). Truyện này nêu lên Tâm Từ là dấu ấn Phật giáo: Nhân vật chính không chỉ là một ẩn sĩ từ bi, đạo đức mà còn là người bảo hộ muôn loài, phản chiếu hình ảnh Bồ Tát trong tiền kiếp. Truyện cũng nêu lên nghiệp báo (Karma): Kẻ ác (người thợ săn) bị trừng phạt bởi chính lòng tham của mình, trong khi lòng tốt của vị ẩn sĩ tạo ra một "mạng lưới bảo vệ" từ những sinh linh nhỏ bé nhất. Truyện vị ẩn sĩ bị người thợ săn khởi tâm hại tương tự trong Kinh Tiểu Bộ Phật Giáo, truyện Bản Sanh 206 Kurunga-Miga Jātaka, nơi các con vật trong rừng yêu thương nhau, cứu nhau tránh bị tiền thân Đề Bà Đạt Đa làm hại. Bây giờ nói về sử: một nhân vật trong Hồi Giáo Sufi của thời Iran cổ đại cho chúng ta thấy một ảnh hưởng rất kinh ngạc từ Phật giáo sơ kỳ. Đó là Ibrahim ibn Adham (mất khoảng năm 777-782 Tây lịch), người được coi là một vị thánh vĩ đại của dòng Hồi giáo Sufi, và cuộc đời của ông thường được gọi là "Bản sao của Đức Phật trong thế giới Hồi giáo." Ibrahim ibn Adham sinh ra tại Balkh (thuộc vùng Khorasan, nay là Afghanistan). Vào thế kỷ thứ 8, Balkh là một trung tâm văn hóa lớn của Iran cổ đại. Quan trọng hơn, trước khi Hồi giáo đến, Balkh chính là "trái tim" của Phật giáo tại Trung Á với tu viện nổi tiếng Nava Vihara (Nowbahar). Lịch sử Iran kể rằng ngài là vua của vương quốc Balkh, sống trong nhung lụa, cung vàng điện ngọc. Một ngày nọ, khi đang đi săn hoặc đang ngủ trong cung điện, ngài nghe thấy những lời cảnh tỉnh tâm linh về sự vô nghĩa của quyền lực thế gian. Vua nghe thấy tiếng động trên mái cung điện và gặp một người đàn ông đang tìm lạc đà. Khi vua hỏi "Sao lại tìm lạc đà trên mái nhà?", người đó đáp: "Vậy thì, làm sao nhà vua tìm được Thượng đế trên ngai vàng?". Vua ngay lập tức từ bỏ ngai vàng, rời bỏ gia đình, sống cuộc đời của một tu sĩ nghèo khổ, đi bộ đến Mecca (thánh địa Hồi giáo) và dành phần đời còn lại để tu hành, lao động chân tay và thuyết pháp. Các nhà nghiên cứu phương Tây như Ignác Goldziher và R.A. Nicholson đã chỉ ra rằng tiểu sử của Ibrahim ibn Adham gần như là một sự "phóng tác" trực tiếp từ cuộc đời Đức Phật. Ibrahim trở thành một người khổ hạnh, thực hành sự nghèo khó tự nguyện, diệt trừ ham muốn (Ái dục), từ bỏ cái tôi và của cải để đạt đến sự hợp nhất với Thượng đế [theo Hồi giáo Sufi]. Điểm khác nổi bật: Đức Phật không công nhận có Thượng Đế, ngài tự tìm ra Trung đạo và đạt Giác ngộ. Tại sao lại có sự giống nhau này? Vùng đất Balkh là nơi giao thoa của con đường Tơ Lụa. Khi người Iran cổ đại ở vùng này chuyển sang Hồi giáo, họ không xóa bỏ hoàn toàn ký ức văn hóa cũ. Các truyện về "Vị hoàng tử từ bỏ ngai vàng" (Đức Phật) đã ăn sâu vào tâm thức dân gian vùng Khorasan. Khi họ viết về các thánh nhân Hồi giáo, họ đã vô tình (hoặc hữu ý) sử dụng "khuôn mẫu" của Đức Phật để mô tả sự thánh thiện của Ibrahim ibn Adham. Điều này giúp người dân địa phương dễ dàng tiếp nhận đức tin mới thông qua những hình ảnh quen thuộc. Trường hợp nhà thơ Rumi cũng là một đối chiếu văn học đầy kinh ngạc. Một nhà thơ Hồi giáo Sufi của Iran cổ đại, nhưng hiện thân như một cư sĩ Phật tử tuyệt vời. Rumi (1207–1273) không chỉ là một nhà thơ; ông là biểu tượng của sự hợp nhất tâm linh giữa Đông và Tây. Trong bối cảnh lịch sử Iran và Trung Á, Rumi là đứa con của một vùng đất mà Phật giáo và Hồi giáo từng chung sống và thẩm thấu lẫn nhau suốt nhiều thế kỷ. Tên đầy đủ là Mawlānā Jalāl-ad-Dīn Muhammad Rūmī, nhưng văn học gọi tắt ngài là Rumi. Rumi sinh ra tại Balkh (thuộc Afghanistan/Iran cổ đại). Balkh từng là trung tâm Phật giáo rực rỡ với tu viện Nava Vihara. Do cuộc xâm lược của quân Mông cổ, gia đình nhà thơ di cư sang Konya (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), khi đó thuộc đế quốc Seljuk của người Ba Tư. Rumi viết chủ yếu bằng tiếng Ba Tư (Persian/Farsi). Di sản của nhà thơ là đỉnh cao của văn học Iran cổ đại, cho dù ông sống phần lớn đời mình ở vùng đất của người Thổ Nhĩ Kỳ. Dù Rumi là một giáo sĩ Hồi giáo hệ phái Sufism, các học giả nhận thấy những dấu ấn sâu sắc của tư tưởng Phật Giáo trong thơ ông. Từ bỏ "cái tôi" trong thơ Rumi là khái niệm Hồi giáo Sufism, diệt trừ tự ngã (Fana): tan biến cái tôi cá nhân vào Nguyên lý Tối cao, sự dập tắt ngọn lửa tham ái và bản ngã. Thơ Rumi thường trực nói về cách sống Chánh niệm và ý thức về cái Hiện tiền. Rumi luôn nhắc nhở về việc thoát khỏi quá khứ và tương lai để sống trong "Cái bây giờ", lời dạy của Đức Phật và thường được nhắc tới trong tư tưởng Thiền Tông Việt Nam. Thơ Rumi cũng đề cao tình yêu vô điều kiện, một hiển lộ của Tâm Từ Bi. Dưới đây là hai bài thơ nổi tiếng nhất của Rumi thể hiện sự buông bỏ tự ngã và sống trong nhận thức về Tánh không. Bài thơ Rumi đầu tiên dẫn dưới đây có tựa đề "The Guest House" (Ngôi nhà khách) nghe y hệt lời dạy thiền. Bài thơ nói về Chánh niệm (Mindfulness), đón nhận mọi cảm thọ (vui, buồn, thiện, ác, đau, khổ) như những vị khách đi ngang qua tâm mình. Nơi đây, chúng ta trích dịch theo bản Anh văn của Coleman Barks. Ngôi nhà khách Thân tâm này như một nhà trọ. Mỗi buổi sáng lại có một vị khách mới. Một niệm vui, một niệm lo, một niệm dữ một tỉnh thức thoáng qua đến như vị khách không mời mà đến. Hãy chào đón và tiếp nhận tất cả! Ngay cả khi đó là một đám đông niệm buồn, những niệm hung bạo quét sạch nhà của bạn dọn trống trơn các đồ đạc trong nhà vẫn hãy trân trọng đối xử với mỗi vị khách Có thể niệm đó đang dọn [thân tâm] bạn cho trống chỗ cho một niềm vui mới. Những niệm đen tối, xấu hổ, độc ác, hãy đón các niệm ở cửa với nụ cười, và mời chúng vào. Hãy biết ơn bất cứ ai đến, vì mỗi người đều được gửi đến như một người dẫn đường từ bờ bên kia. Tương tự, bài thơ tựa đề "Only Breath" (Chỉ là hơi thở), thể hiện tư tưởng Vô ngã (Anatta). Rumi rũ bỏ mọi nhãn hiệu về tôn giáo, quốc gia và bản sắc để trở về với cái cốt lõi trống rỗng nhưng là toàn thể. Nghe y hệt như thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Bản Việt dịch như sau. Chỉ là hơi thở Không phải Ki tô giáo, Do Thái giáo hay Hồi giáo, không phải Ấn Độ giáo Phật giáo, Sufi hay Thiền Tông. Không thuộc bất kỳ tôn giáo nào hay hệ thống văn hóa nào. Tôi không đến từ phương Đông hay phương Tây, không từ đại dương hay từ mặt đất không phải tự nhiên hay siêu nhiên, không được cấu tạo từ các yếu tố nào cả. Tôi không hiện hữu, không phải là một thực thể trong thế giới này hay thế giới sắp tới, không phải hậu duệ của Adam và Eva hay bất kỳ câu chuyện cội nguồn nào. Nơi của tôi là không dấu vết, một dấu vết của không dấu vết. Không thân xác cũng không linh hồn. Tôi thuộc về cái được yêu thương, đã nhìn thấy hai thế giới là một và lời kêu gọi duy nhất đó hướng đến và thấu hiểu, đầu tiên, cuối cùng, bên ngoài, bên trong, chỉ hơi thở đó của người đang thở. Bạn có thể nói thơ Rumi là ngôn ngữ của Tánh Không, vô tướng, vô ngã, vô thường, bờ bên kia, hay là bất cứ gì của từ bi và thơ mộng. Vì sao kho tàng từ bi, yêu thương và vô ngã của nhà thơ cực kỳ tuyệt vời này bỗng nhiên biến mất ở Iran bây giờ, để thay vào đó là lãi những nhãn hiệu đầy tranh chấp và những tự ngã lớn như núi? Hỡi Iran cổ đại, một thời của từ bi và thơ mộng, bây giờ đang ở đâu? Trong các trang cổ thư bị quên lãng? Hay dưới các gạch vụn cổ mộ của lịch sử? THAM KHẢO: - Buddhism ii. In Islamic Times: https://www.iranicaonline.org/articles/buddhism-ii/ - The Indian Origin of the Thousand and One Nights https://www.sacred-texts.com/neu/lang1k1/index.htm - The Jataka (Truyện Bản Sanh): https://sacred-texts.com/bud/j1/index.htm - Thơ Rumi, bản dịch Anh văn của Coleman Barks: . The Guest House: https://grateful.org/resource/guest-house-rumi/ . Only Breath: https://allpoetry.com/Only-Breath
https://thuvienhoasen.org/images/file/qh0JUcR83ggBAOND/w600/photo-2-sach-ngan-le-mot-dem.jpg Nhà thơ Rumi (1207–1273) trong tranh cổ Sufism. Photo: Wikipedia.

Saturday, March 7, 2026

AI and Jobs Hunters

https://www.businessinsider.com/hiring-managers-arent-reading-resumes-slop-2026-3 RIP résumés Slop is killing the résumé. Job hunters are scrambling for new ways to stand out By Amanda Hoover Mar 3, 2026, 3:17 AM CT A decade ago, I walked into an office to interview for my first newsroom internship. Wearing a millennial-core business casual H&M pencil skirt and Steve Madden flats, I handed my résumé — neatly spaced Arial font, carefully considered, and kept crisp in its designated folder — to the editor. Without looking up from her computer, she said, "I don't read résumés," and flicked the paper to the floor. If you've ever assumed an automated applicant tracking system has thrown out your résumé, I can tell you it feels just as demoralizing to watch it happen IRL. Today, more hiring managers and recruiters are following that approach. Now that anyone can spin up a buzzword-filled résumé and cover letter in seconds with ChatGPT, doctor a flawless headshot, or cheat a coding test, faked or embellished applications have become indiscernible from quality candidates. The résumé has been relegated. "Resume not your thing? That's great, we don't really read them anyway!" reads a job post for an engineer at Expensify. "While we know you're awesome, it's actually really hard and time consuming to find you in the midst of literally hundreds of other applications we get from everyone else." The post goes on to list five questions applications should answer to be considered. "We don't require a résumé, and we don't expect one," notes a software engineering job at Automattic, which owns WordPress.com and Tumblr. Some employers are focusing more on a person's enthusiasm and skills than shiny credentials. E-commerce platform Gumroad asks prospective software engineers to send an email detailing why they want to work there, what they've built, and, if selected, to participate in a paid four-to-six-week work trial. Research has long shown that résumés alone with impressive companies and years of experience aren't great predictors of success in a new job. Now, in the age of Gen AI slop, "the résumé is almost worthless because they all read the same," says Michelle Volberg, founder and CEO of Twill, a recruiting software company. She compares AI-edited résumés to going to a restaurant where "the menu looked really beautiful and had all these amazing ingredients and dishes, but there was no one there actually making the food." Volberg tells me she's seen a shift just in the past three months: some companies she works with are opting to extend paid work trials for as long as a month to evaluate a candidate. Some are focused more on workers' real-time abilities than if they've worked at a Big Tech company or went to an Ivy League school. A new survey from the National Association of Colleges and Employers found that 70% of employers say they're using skills-based hiring, which prioritizes practical abilities and aptitudes over credentials like degrees and years of experience. A résumé might still be used to identify and track a candidate, Volberg says,….. Mar 3, 2026, 3:17 AM CT https://arxiv.org/pdf/2602.18550 Measuring Validity in LLM-based Resume Screening Jane Castleman, Zeyu Shen, Blossom Metevier, Max Springer, Aleksandra Korolova Princeton University. Princeton, NJ Abstract Resume screening is perceived as a particularly suitable task for LLMs given their ability to analyze natural language; thus many entities rely on general purpose LLMs without further adapting them to the task. While researchers have shown that some LLMs are biased in their selection rates of different demographics, studies measuring the validity of LLM decisions are limited. One of the difficulties in externally measuring validity stems from lack of access to a large corpus of resumes for whom the ground truth in their ranking is known and that has not already been used for LLM training. In this work, we overcome this challenge by systematically constructing a large dataset of resumes tailored to particular jobs that are directly comparable, with a known ground truth of superiority. We then use the constructed dataset to measure the validity of ranking decisions made by various LLMs, finding that many models are unable to consistently select the resumes describing more qualified candidates. Furthermore, when measuring the validity of decisions, we find that models do not reliably abstain when ranking equally- qualified candidates, and select candidates from different demographic groups at different rates, occasionally prioritizing historically-marginalized candidates. Our proposed framework provides a principled approach to audit LLM resume screeners in the absence of ground truth, offering a crucial tool to independent auditors and developers to ensure the validity of these systems as they are deployed. ….. Discussion & Conclusion A central insight of this work is that validity and fairness are analytically separable: a model can be valid yet unfair, or consistent yet invalid. Many prior studies collapse these into a single moral question, whereas our framework treats them as distinct, measurable properties. This shifts the conversation from ethical aspiration to empirical reliability, which is precisely what high-stakes hiring systems require. Our findings show that validity in LLM-based resume screening should not be assumed, even for frontier models. While performance improves with model scale and with clearer qualification differences, both criterion and discriminant validity vary across settings, illustrating the necessity for more controlled testing. Our work contributes a principled framework for evaluating validity under controlled conditions and varying levels of task difficulty. These template-based methods provide a crucial tool for on-demand, scalable assessment across downstream use cases. In the rest of this section, we examine implications of our findings, discuss how to extend our framework for top-k rankings and longitudinal evaluations, and end with limitations and future directions. Validity and Over-Alignment. Our results reveal a complex tension between model validity and alignment. While we observe that validity generally scales with model size, our evaluations of discriminant validity uncover evidence of unequal selection rates that persists despite high criterion validity (Figure 3). In contrast with previous work [4], unequal selection rates favor Black and women candidates when candidates are equally qualified, suggesting that current post-training techniques designed to mitigate bias may be inducing a new form of invalidity where demographic signals override relevant qualifications [ 54]. Future evaluations must therefore treat validity and fairness not as orthogonal metrics, but as coupled objectives, ensuring that bias mitigation efforts do not compromise the fundamental reasoning capabilities required for accurate decision-making. Pairwise to Global Rankings. While our framework evaluates pairwise comparisons, practical deployment often requires ranking larger pools to identify the top-k candidates. Pairwise validity is sufficient for this, as it ensures the model’s preferences form a transitive structure (specifically a DAG), guaranteeing a coherent total ordering via topological sorting. Without pairwise validity, preference cycles make a top candidate mathematically undefined. Once pairwise validity is established, the LLM becomes a reliable comparator for efficient sorting algorithms or can be integrated into continuous scoring systems like Elo ratings [55] or tournament structures [56]. Longitudinal Evaluations. Our framework supports longitudinal evaluations by enabling repeated testing under evolving job descriptions and model versions. Because static benchmarks are vulnerableto rapid train-test contamination [57], they provide limited insight into how model behavior changes over time. By sourcing live job descriptions and constructing controlled counterfactual resume pairs, our approach mirrors metamorphic [26] and mutation testing [ 27] to generate novel, contamination-free evaluation sets. Furthermore, our framework explicitly controls task difficulty (via the number of qualification edits, k), incorporating principles from software and standardized testing [58, 27, 59]. Limitations. Our approach provides necessary but not sufficient conditions for validity; models that perform well under our metrics may still fail on subtler, real-world distinctions. Moreover, our study is limited to four demographic groups varying in race and binary gender. Studying broader demographics or attributes such as religion could reveal more nuanced effects on validity. Our ground truth captures discrete qualification differences under controlled conditions, which may not reflect the full complexity of real resumes or demographics. To maintain scalability and adaptability, we rely on LLMs to parse and generate resumes, which could introduce errors that propagate downstream. While this enables consistent comparisons across job descriptions and time, synthetic resumes may differ subtly from human-written ones, and results can vary across generation models. Consequently, synthetic evaluations should not be interpreted as lower bounds on real-world performance. Future work should apply our evaluation to broader model setups, including those with confidence threshold re-weighting, fine-tuning, or abstention enforcement under uncertainty, and measure their effects on validity and fairness. By doing so, our framework serves as a rigorous foundation for the automated compliance testing of real-world decision-making systems. p.10

Friday, March 6, 2026

GS Ngô Bảo Châu quy tụ nhân tài đào tạo tiến sĩ toán trong nước

https://thanhnien.vn/gs-ngo-bao-chau-quy-tu-nhan-tai-dao-tao-tien-si-toan-trong-nuoc-185260305174149372.htm GS Ngô Bảo Châu quy tụ nhân tài đào tạo tiến sĩ toán trong nước 05/03/2026 18:03 GMT+7 Viện Nghiên cứu cao cấp về toán do GS Ngô Bảo Châu làm Giám đốc khoa học, vừa ký kết hợp tác đào tạo tiến sĩ toán học với những đặc quyền lớn. Người học được miễn học phí, nhận sinh hoạt phí tới 16,7 triệu đồng/tháng và được mạng lưới chuyên gia quốc tế đồng hướng dẫn. Hôm nay 5.3, tại Hà Nội, GS Ngô Bảo Châu, Giám đốc Khoa học Viện Nghiên cứu cao cấp về toán (VIASM), và GS Lê Thanh Sơn, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học tự nhiên - ĐH Quốc gia Hà Nội (VNU - HUS), cùng ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực các khoa học về toán. Trong buổi lễ, hai đơn vị đã công bố chương trình đào tạo tiến sĩ toán với những chính sách thu hút người học đầy hấp dẫn. GS Ngô Bảo Châu và GS Lê Thanh Sơn ký kết thỏa thuận hợp tác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực các khoa học về toán ẢNH: HOÀNG HƯƠNG Thỏa thuận hợp tác của hai đơn vị tập trung vào việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh đạt trình độ quốc tế và thúc đẩy hội nhập quốc tế thông qua hợp tác học thuật. Hai bên còn cam kết phối hợp triển khai Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học giai đoạn 2021 - 2030. Hai bên cũng đã công bố chương trình phối hợp tổ chức đào tạo tiến sĩ nhóm ngành toán học, với mục tiêu đào tạo trình độ tiến sĩ nhóm ngành toán học có có trình độ quốc tế, có khả năng nghiên cứu độc lập, hội nhập sâu rộng với cộng đồng khoa học quốc tế, đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển toán học của Việt Nam trong giai đoạn mới. Các nghiên cứu sinh khi tham gia chương trình này sẽ học tập và nghiên cứu toàn thời gian tại Trường ĐH Khoa học tự nhiên - ĐH Quốc gia Hà Nội và Viện Nghiên cứu cao cấp về toán. Người học được miễn học phí và nhận học bổng, hỗ trợ sinh hoạt phí 12 hoặc 16,7 triệu đồng/tháng, tùy trình độ đầu. Ngoài ra, nghiên cứu sinh được hỗ trợ chi phí tham gia các hoạt động chuyên môn trong và ngoài nước, được tạo điều kiện cử đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài. Đặc biệt, VIASM sẽ giới thiệu chuyên gia là những nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, giảng dạy các chuyên đề chuyên môn. Một số nhà khoa học người Việt đang làm việc ở các nước có nền toán học phát triển đã nhận lời tham gia đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh do VIASM mời từ khóa tuyển sinh năm 2026. Ở Mỹ có GS Đào Hải Long (ĐH Kansas), GS Nguyễn Xuân Long (ĐH Michigan), GS Hà Huy Tài (ĐH Tulane), GS Nguyễn Trọng Toán (ĐH Pennsylvania). Ở Đức có GS Phan Thành Nam (ĐH Ludwig Maximilian München). Ở Pháp có GS Ngô Đắc Tuấn (Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp). Hai đơn vị cũng sẽ hợp tác trong chương trình đào tạo cử nhân khoa học tài năng. Toàn bộ sinh viên trúng tuyển chương trình này (dự kiến tối đa 30 người) sẽ được hỗ trợ toàn bộ học phí (15 triệu đồng hoặc 7,5 triệu đồng/tháng). Những sinh viên được hỗ trợ mức sinh hoạt phí 15 triệu đồng/tháng sẽ do GS Ngô Bảo Châu và VIASM trực tiếp phỏng vấn tuyển chọn. Các sinh viên còn lại sẽ tham gia một bài thi đánh giá để được nhận mức sinh hoạt phí 7,5 triệu đồng/tháng (dự kiến áp dụng cho khóa tuyển sinh từ năm 2026). Toàn bộ các nội dung hỗ trợ nói trên thuộc Chương trình phát triển toán học của Viện Nghiên cứu cao cấp về toán, với tài trợ của Quỹ Hỗ trợ đổi mới giáo dục Việt Nam (VIEF). GS Vũ Hoàng Linh ẢNH: HOÀNG HƯƠNG Theo GS Vũ Hoàng Linh, Bí thư Đảng ủy Trường ĐH Khoa học tự nhiên - ĐH Quốc gia Hà Nội, việc VNU - HUS và VIASM cùng cam kết triển khai Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học giai đoạn 2021 - 2030 sẽ góp phần hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học cơ bản. GS Vũ Hoàng Linh nói: "Đây là một mô hình hợp tác hiệu quả giữa trường đại học và viện nghiên cứu với sự tài trợ kinh phí từ các nguồn lực xã hội hóa, cụ thể là Quỹ Hỗ trợ đổi mới giáo dục Việt Nam, góp phần đào tạo đội ngũ nghiên cứu trình độ cao, có năng lực hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ của đất nước trong giai đoạn mới. Bên cạnh đó, việc phát triển chương trình cử nhân khoa học tài năng toán học với sự tham gia trực tiếp của các nhà khoa học hàng đầu cũng thể hiện sự quan tâm đặc biệt trong việc phát hiện, bồi dưỡng và phát triển nhân tài ngay từ sớm".

NHÀ THƠ

NHÀ THƠ Nguyễn Duy Thương nhớ nhà thơ Việt Phương Giữa cung cấm anh vẫn ngồi ghế xép ghế đầu sai giúp việc triều đình không có ghế cho thơ Đại sự quốc gia tuôn qua tay anh viết thư thảo hịch ho ra bạc khạc ra tiền thét ra lửa em là bài thơ mà anh là tác giả* vô danh Chỉ làm thơ anh mới được là mình giữa trang thơ anh thành chính chủ ghế phụ hoá ngai vàng vua quan làm con chữ vỡ ra rằng thơ là một đấng quyền năng Vỡ ra rằng khi anh nằm xuống hơn với thiệt hoá vàng chức với sắc hoả táng mọi thứ đều danh hư mộ chí giữa đời một tước hiệu Nhà Thơ. SG, 07.5.2017 * Một ý thơ của Việt Phương.

Tuesday, March 3, 2026

7 key points in U.S.-Iran relations since 1953

https://www.npr.org/2026/03/02/nx-s1-5731590/us-iran-relations-history-coup-revolution-nuclear 7 key points in U.S.-Iran relations since 1953 March 2, 20265:00 AM ET By Joe Hernandez https://npr.brightspotcdn.com/dims3/default/strip/false/crop/2941x2227+0+0/resize/1200/quality/85/format/webp/?url=http%3A%2F%2Fnpr-brightspot.s3.amazonaws.com%2F78%2Fe1%2F167f0ea8455ab2c01def1d697346%2Fgettyimages-160316679.jpg A demonstration in July 1953 in Tehran, in support of Prime Minister Mohammad Mosaddegh. The elected prime minister was overthrown in a coup orchestrated by the CIA and British intelligence. AFP Files Intercontinentale/AFP via Getty Images The U.S. attacks on Iran over the weekend, in conjunction with the Israeli military, marked a stunning new phase in relations between the two countries. But it is hardly the first time Washington and Tehran have clashed politically and militarily. Here are some key historical moments between the U.S. and Iran. 1953: U.S. helps orchestrate coup that overthrows Mohammad Mosaddegh Great Britain had controlled Iran's oil industry for decades, but in 1953 Iran's elected prime minister, Mohammad Mosaddegh, nationalizes the country's oil sector. That move prompts Great Britain to appeal to the U.S. for help, and what results is a CIA-led campaign to topple Mosaddegh's government. The coup allows Mohammad Reza Pahlavi, the last shah (or king) of Iran, to consolidate power around himself. (The CIA, long suspected of having a hand in the revolt, officially acknowledged its role in 2013.) Mosaddegh is imprisoned and later placed under house arrest until his death in 1967. Pahlavi goes on to lead Iran for the next two and a half decades, becoming a strong U.S. ally. 1979: Iranian Revolution and U.S. hostage crisis https://npr.brightspotcdn.com/dims3/default/strip/false/crop/5371x3543+0+0/resize/1200/quality/85/format/webp/?url=http%3A%2F%2Fnpr-brightspot.s3.amazonaws.com%2F2b%2Ff0%2Ff23a9f86443483ca1db2a3d6d20d%2Fgettyimages-101686746.jpg Iranian opposition leader in exile Ayatollah Ruhollah Khomeini gives a speech as journalists surround him at Roissy airport near Paris on Jan. 31, 1979, before boarding a plane bound for Tehran. Khomeini establishes an Islamic republic in Iran. AFP via Getty Images But in early 1979, following months of protests by secularists, Islamists and leftists against his autocratic rule, Pahlavi flees Iran and enters the U.S. The revolution had been led by Ayatollah Ruhollah Khomeini, a Shia cleric who was living in exile near Paris after being expelled by Pahlavi in 1964. Khomeini returns to Iran and oversees the country's transition to an Islamic republic, becoming Iran's supreme leader. Khomeini establishes a hard-line theocracy and labels America the "Great Satan." In November of that year, a group of Iranian students storms the U.S. embassy in Tehran and captures 66 Americans. A U.S. rescue attempt in the spring of 1980 codenamed Operation Eagle Claw, which is approved by President Jimmy Carter, is hampered by mechanical problems, a severe dust storm and a crash that kills eight service members. It fails to secure the release of the hostages. After 444 days in captivity, the remaining 52 hostages are released on Jan. 20, 1981 — the day President Ronald Reagan is inaugurated. Early 1980s: The Iran-Contra affair But Reagan's tenure is also marked by a now-infamous transaction with Iran. Officials in his administration are discovered to have sold weapons to the country in the hope that it would help secure the release of American hostages held in Lebanon by Hezbollah, a militant group allied with Iran. The Reagan administration used the proceeds of the arms sales to fund the paramilitary Contra rebel group fighting against the socialist Sandinista government in Nicaragua. Reagan confirms the story in a 1986 White House press conference and takes public responsibility for what's become known as the Iran-Contra affair. Late 1980s: Tensions in the Persian Gulf A U.S. rescue attempt in the spring of 1980 codenamed Operation Eagle Claw, which is approved by President Jimmy Carter, is hampered by mechanical problems, a severe dust storm and a crash that kills eight service members. It fails to secure the release of the hostages. After 444 days in captivity, the remaining 52 hostages are released on Jan. 20, 1981 — the day President Ronald Reagan is inaugurated. Early 1980s: The Iran-Contra affair But Reagan's tenure is also marked by a now-infamous transaction with Iran. Sponsor Message Officials in his administration are discovered to have sold weapons to the country in the hope that it would help secure the release of American hostages held in Lebanon by Hezbollah, a militant group allied with Iran. The Reagan administration used the proceeds of the arms sales to fund the paramilitary Contra rebel group fighting against the socialist Sandinista government in Nicaragua. Reagan confirms the story in a 1986 White House press conference and takes public responsibility for what's become known as the Iran-Contra affair. Late 1980s: Tensions in the Persian Gulf https://npr.brightspotcdn.com/dims3/default/strip/false/crop/3009x1948+0+0/resize/1200/quality/85/format/webp/?url=http%3A%2F%2Fnpr-brightspot.s3.amazonaws.com%2F9f%2F6f%2F9aa337a54eab9fe55433e441a585%2Fgettyimages-152396517.jpg Thousands of people mourn in July 1988 in Tehran, during the funeral service for those who died when an Iranian passenger jet was shot down over the Gulf by the U.S. military. AFP via Getty Images Iran and Iraq have been engaged in a war since 1980, and toward the end of that decade, Iran begins attacking oil tankers belonging to Kuwait and Saudi Arabia, Iraq's financial supporters. In 1987 the U.S. begins a military campaign known as Operation Earnest Will to protect Kuwaiti tankers. During that operation in 1988, the U.S. frigate USS Samuel B. Roberts struck an Iranian mine, which punched a 15-foot hole in the hull but did not kill any American sailors. Still, that incident touched off another military operation called Operation Praying Mantis, in which U.S. forces retaliated for the explosion by attacking several Iranian oil platforms. Also in 1988, the U.S. Navy shot down the civilian Iran Air Flight 655, killing all 290 people on board. U.S. forces mistook the plane for an Iranian fighter jet. 2015: Obama inks the Iranian nuclear deal The U.S. reaches a deal with Iran and five other world powers to curb Iran's nuclear capabilities in exchange for the removal of some punishing United Nations sanctions. The deal allows Iran to continue enriching uranium for civilian energy purposes, but President Barack Obama argues that it will curb the country's ability to create a nuclear bomb. Iran also agrees to increased inspections of its nuclear facilities. In 2018, President Trump during his first term pulls the U.S. out of the Iran nuclear deal and reimposes sanctions on Iran. The Biden administration holds indirect talks with Iran, and when Trump returns to office in 2025 he signs an executive order with the goal of exerting "maximum" pressure on Iran to end its nuclear weapons ambitions. 2020: U.S. drone strike kills Maj. Gen. Qassem Soleimani A major recent development in U.S.-Iran relations occurs not in Iran itself but in neighboring Iraq. Just a few days into 2020, U.S. forces launch a drone strike near the Baghdad International Airport and kill Maj. Gen. Qassem Soleimani, among others. Soleimani, who led an elite branch of Iran's Islamic Revolutionary Guard Corps known as the Quds Force, was seen as one of the country's most influential officials. Khamenei responds at the time that "harsh retaliation is waiting" for the U.S. Several days later, Iran fires at least a dozen ballistic missiles at two military bases in Iraq that house U.S. troops. The Pentagon says the following month that 109 U.S. troops suffered brain injuries in the strikes. 2025: U.S. and Israel strike Iranian nuclear sites In June, the U.S. and Israeli militaries launch a dramatic assault on several Iranian nuclear sites. For the U.S., the military escalation follows what had largely been a diplomatic effort to deter Tehran from pursuing a nuclear weapon. President Trump says in a speech from the White House that the goal of the operation was to scuttle Iran's nuclear enrichment capabilities. "Tonight, I can report to the world that the strikes were a spectacular military success. Iran's key nuclear enrichment facilities have been completely and totally obliterated," Trump says, though there are questions about exactly how much damage was dealt. The attacks come roughly two months after the U.S. and Iran begin a new round of talks to renegotiate a deal concerning Iran's nuclear program. In March, Director of National Intelligence Tulsi Gabbard had said that U.S. intelligence believes Iran "is not building a nuclear weapon and Supreme Leader [Ayatollah Ali] Khamenei has not authorized the nuclear weapons program that he suspended in 2003."

Monday, March 2, 2026

Hồn tử sĩ (1943) Của Nhạc Sĩ Lưu Hữu Phước

https://www.youtube.com/watch?v=VD0axWAf0Kw Jul 16, 2023 Hồn tử sĩ (1943) Sáng tác: NS Lưu Hữu Phước Trình bày: Trần Khánh & Hợp xướng Đài TNVN “Mi mi mi mi rê mi đô si đô la Mi mi rê mi đô si đô la sol la mi…” Đây là những nốt nhạc mà dàn kèn thường hòa tấu trong các buổi tang lễ cấp nhà nước, cấp tỉnh và các quân khu. Bản nhạc ấy ta quen gọi là “Hồn tử sĩ”. Vậy “Hồn tử sĩ” có từ bao giờ và ai sáng tác? Mở lại cuốn nhật ký ghi năm 1968, tôi dừng ở ngày 20/7, hôm đó anh chị em văn nghệ chúng tôi may mắn được gặp đủ mặt các nhân vật trong bộ ba “xe pháo mã” – “ Hoàng Mai Lưu” (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước) tại Đài Tiếng nói Việt nam (TNVN). Qua buổi gặp gỡ, chúng tôi đã hiểu thêm về phong trào văn hóa văn nghệ yêu nước trong giới sinh viên học sinh trước, trong và sau cách mạng tháng 8/1945. Vì sắp đến ngày “Thương binh, liệt sĩ” nên cuối buổi gặp gỡ chúng tôi hỏi nhạc sĩ Lưu Hữu Phước về bản nhạc “Hồn tử sĩ”. Ông cho biết: Cuối năm 1942 và đầu năm 1943 Tổng hội Sinh viên Đông Dương tổ chức đợt cắm trại (31/12 và 1/1) tại Mê Linh. Tấm gương hai bà Trưng (Trưng Trắc, Trưng Nhị) gắn liền với Mê Linh, sông Hát nên trong dịp đó tôi đã hoàn thành cơ bản bài hát “Hát giang trường hận” (lời thơ của Phan Mai) để tưởng nhớ các tướng sĩ của Hai Bà Trưng. Ba tháng sau đó tôi mới sửa lại và tập cho anh chị em sinh viên cùng hát: “Đêm khuya âm u ai khóc than trong gió đàn Xác quân Trưng nữ vương rơi ngổn ngang trên nước tràn Hồn ai đang thổn thức trên sông Hồn quân Nam đang khóc trên sông…” Tháng 5/1946 theo gợi ý của các anh lãnh đạo chính quyền: Trần Văn Giàu,Tô Ký, anh Hồng Lực và tôi bàn nhau sửa chữa và đổi tên bài “Hát giang trường hận” thành “Chiêu hồn tử sĩ” để tưởng nhớ và chiêu hồn các anh hùng liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Anh Trần Văn Giàu rất hoan nghênh và để nghị chỉ để 3 chữ là “Hồn tử sĩ”. Tôi thấy cũng hợp lý và hồi ấy anh Đỗ Nhuận cũng đã có ca khúc cùng tên như thế (Chiêu hồn tử sĩ – sau này anh đổi lại là Mặc niệm đồng chí). Sang năm 1947 Chính phủ quyết định lấy ngày 27/7 làm ngày nhớ ơn các thương binh và liệt sĩ. Từ đó “Hồn tử sĩ” được hát lên bằng tốp ca hoặc đồng ca trong các buổi tang lễ tiễn đưa các liệt sĩ về nơi an nghỉ cuối cùng. Cuối năm đó bản nhạc kèn được tấu lên thay cho lời hát như chúng ta từng nghe. Từ sau năm 1954, chính quyền và quân đội Sài Gòn cũng sử dụng bản nhạc này trong các lễ truy điệu. Một bài hát đặc biệt khi cả hai chế độ đối kháng nhau lại cùng sử dụng trong cùng giai đoạn. Về khúc thức của giai điệu, lúc đầu viết theo nhịp 4/4, nhưng sau tôi chuyển sang nhịp 2/4 có pha thêm một đọan nhịp 3/4, một đoạn nhịp 6/8 và cuối bài trở về nhịp 2/4 cho chậm rãi, thể hiện được sự nhớ thương và tỏ lòng tôn kính ngưỡng mộ những chiến tích mà các liệt sĩ đã lập nên. Khi đổi tên là “Hồn tử sĩ”, chúng tôi thống nhất chỉ lấy đoạn cuối của bài hát để hòa tấu bằng nhạc kèn. Cái đoạn này cũng đã có những gợi ý của anh Huỳnh Văn Tiểng và anh Mai Văn Bộ, trước đó các anh còn nhắc đến hai câu thơ trong “Chinh phụ ngâm”: “Hồn tử sĩ gió ù ù thổi/ Mặt chinh phu trăng rọi rọi soi”. Và “Hồn tử sĩ” dài 117 ô nhịp, mở đầu bằng những câu: “Đêm khuya âm u ai khóc than trong sương mù? Gió rít qua lũy tre như nghiến răng vương mối thù Hồn ai kia đau xót chơi vơi? Hồn quân Nam căm uất chưa nguôi…” Khi chuyển cho dàn nhạc kèn để hòa tấu, chúng tôi trích đoạn cuối của bài chỉ có 35 ô nhịp để sử dụng cho ngắn gọn và có thể lặp đi lặp lại dễ dàng. Đoạn ấy có lời như sau: “ Nhân dân đau thương ghi nhớ ơn của bao người Chiến đấu dâng tấm thân cho nước nhà, cho giống nòi Nhìn gương xưa liệt sĩ nêu cao Lòng sôi lên cương quyết noi theo Nước mắt rớt xuống bao xót thương bên nấm mồ Khói bốc nghi ngút bay quyện lá cờ chưa khô máu những người con yêu quý thác vì nược non Ngàn muôn năm Tổ Quốc ghi ơn”. Nếu tính từ năm 1946 thì ca khúc “Hồn tử sĩ” đã tròn 73 năm. Mỗi lần dàn nhạc tấu lên, tôi lại nhớ đến hình ảnh của Lưu Hữu Phước – người nhạc sĩ cách mạng tài ba, có nhiều đóng góp cho đất nước, trong bộ ba “Hoàng - Mai - Lưu” mà lịch sử luôn nhắc đến./. Theo Nhạc sĩ Dân Huyền - https://www.youtube.com/watch?v=8gmXr1a_DHk&list=RD8gmXr1a_DHk&start_radio=1 Hồn Tử Sĩ - Khánh Ly 1993

Saturday, February 28, 2026

Ca Sĩ Đức Tuấn và Nhạc Phạm Duy

Album Tình Khúc Phạm Duy Ca sĩ: Đức Tuấn Đức Tuấn Channel - Kênh Youtube chính thức của ca sĩ Đức Tuấn. Đức Tuấn (sinh 1980) là một ca sĩ Việt Nam đoạt giải nhất Tiếng hát Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 và Thí sinh biểu diễn xuất sắc nhất và Thí sinh được yêu thích nhất của Liên hoan giọng ca truyền hình ASEAN 2012. https://www.youtube.com/watch?v=arCztKW1Uao&list=RDWewp0ptdNWw&index=5 ĐỨC TUẤN - THUYỀN VIỄN XỨ (PHẠM DUY) https://www.youtube.com/watch?v=QjUMWAiTwxA&list=RDWewp0ptdNWw&index=3 ĐỨC TUẤN - XANH BẠC MÁI ĐẦU (ÁO LỤA HÀ ĐÔNG OST) https://www.youtube.com/watch?v=7sKXjfI4FGs&list=RD7sKXjfI4FGs&start_radio=1 TÌNH CA (PHẠM DUY) - ĐỨC TUẤN https://www.youtube.com/watch?v=Ql3wvbhUlUs&list=RD7sKXjfI4FGs&index=3 NƯƠNG CHIỀU (PHẠM DUY) - ĐỨC TUẤN https://www.youtube.com/watch?v=uAe7R3wlux0&list=RD7sKXjfI4FGs&index=4 Thiên Thai - Đức Tuấn https://www.youtube.com/watch?v=Wlx9zFIDQNg&list=RD7sKXjfI4FGs&index=5 BÀ MẸ GIO LINH (PHẠM DUY) - DUY QUANG https://www.youtube.com/watch?v=Wewp0ptdNWw&list=RDWewp0ptdNWw&start_radio=1 Album Tình Khúc Phạm Duy Ca sĩ: Đức Tuấn Đức Tuấn Channel - Kênh Youtube chính thức của ca sĩ Đức Tuấn. Đức Tuấn (sinh 1980) là một ca sĩ Việt Nam đoạt giải nhất Tiếng hát Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 và Thí sinh biểu diễn xuất sắc nhất và Thí sinh được yêu thích nhất của Liên hoan giọng ca truyền hình ASEAN 2012.