Thursday, April 2, 2026

How America Got Into This Mess and How We Recover: Reflections from a Columnist’s Life

https://www.youtube.com/watch?v=mBHUVEUvNeU How America Got Into This Mess and How We Recover: Reflections from a Columnist’s Life

Saturday, March 28, 2026

Lịch Sử Công Giáo Ở Việt Nam

https://gxdaminh.net/z/tusach/lichsugiaohoi/lsgh2-08.htm Thế kỷ XVI-XVII các linh mục truyền giáo Bồ đào nha, Tây ban nha, Pháp vào nước Việt, và cả vùng chung quanh (Đông Nam Á và Đông dương). Thế kỷ XVIII Truyền bá KTG rộng rãi vùng Bắc, Trung, Nam, nhất là vùng Trung và Nam từ Thanh hóa trở xuống. Các linh mục ngoại quốc được cho phép truyền đạo và còn giúp đỡ nhiều mặt (Chúa Trịnh Đàng ngoài, Chúa Nguyễn Đàng trong, một số vua, quan, công chúa...). Thế kỷ XIX Nguyễn Ánh dựa vàp thế lực ngoại bang như Xiêm la, Pháp, dùng ảnh hưởng các ông cố đạo để giúp diệt dòng họ ba anh em Tây Sơn, giành ngai vàng và thống nhất đất nước. Nhưng sau đó lại bắt đầu thấy mối nguy mất nước nên cấm đạo. Bế quan tỏa cảng và các phong trào khởi nghĩa bắt đầu. Thế kỷ XX Thực dân đế quốc hợp tác nhau gây ảnh hưởng, cùng quan lại phong kiến và những người tay sai theo Pháp theo đạo Ki tô bóc lột dân VN, chia rẽ. Quân phiệt Nhật cũng tìm cách áp bức dân VN nhưng sau khi thua trận phải nhường lại chỗ đứng cho phe Đồng Minh Anh-Pháp-Mỹ. Mỹ nhảy vào Đông dương thế Pháp sau Thế chiến thứ hai. Alexandre de Rhodes https://www.ignatianspirituality.com/ignatian-voices/16th-and-17th-century-ignatian-voices/alexandre-de-rhodes-sj/ Alexandre de Rhodes, SJ (1591-1660) Alexandre de Rhodes, SJ, was a missionary in Vietnam. Alexandre de Rhodes was born in France in 1591. Entering the Jesuits, de Rhodes soon decided to dedicate his life to missionary work. A Jesuit mission had been established in Hanoi, Vietnam, in 1615, and de Rhodes arrived there soon after. He spent 10 years in and around the Court at Hanoi, where he wrote the first Vietnamese Catechism. He wrote many books about Vietnam, but de Rhodes’s most significant work was the first Portuguese-Latin-Vietnamese dictionary. The dictionary was later used by scholars to create a new Vietnamese writing system, based on the Roman alphabet, which is still used today. Suspicion of Christians led to a 10-year exile in the Portuguese colony of Macau, off the Chinese coast. De Rhodes was able to return to Vietnam for six years before being sentenced to death for his missionary work. The sentence was commuted to exile, and de Rhodes spent time in Rome before beginning a new mission in Persia. He died in Persia in 1660. Pierre Pigneau de Béhaine BÁ ĐA LỘC, NGƯỜI PHÁP THAY ĐỔI MÃI MÃI LỊCH SỬ VIỆT NAM https://www.youtube.com/watch?v=IhMKs8AQ7o8#:~:text=B%C3%81%20%C4%90A%20L%E1%BB%98C%2C%20NG%C6%AF%E1%BB%9CI%20PH%C3%81P%20THAY%20%C4%90%E1%BB%94I,NAM%20%2D%20YouTube.%20This%20content%20isn't%20available. Related Link: https://thanhnien.vn/nhung-nha-tho-doc-dao-lang-song-noi-chu-quoc-ngu-in-dau-hon-mot-the-ky-18526032620174419.htm Tiểu chủng viện Làng Sông (xã Tuy Phước, Gia Lai; trước đây thuộc tỉnh Bình Định) không chỉ mang vẻ đẹp kiến trúc Gothic hiếm có giữa làng quê miền Trung, mà còn ghi dấu hành trình hình thành và lan tỏa chữ Quốc ngữ hơn một thế kỷ. Tiểu chủng viện Làng Sông hôm nay không còn là không gian khép kín của riêng giáo hội. Nơi đây đã trở thành điểm hành hương quen thuộc của giáo dân, đồng thời là điểm dừng chân của du khách và các nhà nghiên cứu trong, ngoài nước. Người ta tìm đến Làng Sông để ngắm một công trình Gothic phương Tây nổi bật giữa đồng lúa mênh mang ở hạ lưu sông Hà Thanh, để nghe kể về những trang sách chữ Quốc ngữ đầu tiên và chạm vào lớp trầm tích văn hóa vẫn còn nguyên hơi thở lịch sử....Theo tài liệu của Giáo phận Quy Nhơn, Tiểu chủng viện Làng Sông được hình thành trong khoảng thời gian từ sau năm 1841 đến trước năm 1850. Thuở ban đầu, nơi đây chỉ là những ngôi nhà mái tranh, vách phên tre, tọa lạc trên một gò cao, xung quanh là hào nước và đồng lúa bát ngát. Năm 1885, một biến cố lịch sử đã khiến toàn bộ chủng viện và tòa giám mục bị thiêu hủy. Hai năm sau, công cuộc tái thiết bắt đầu. Đến năm 1892, khi nhà nguyện hoàn thành, 14 cây sao được trồng dọc lối đi từ sân nhà nguyện ra cổng, cùng 4 cây khác trước các dãy nhà phía đông và tây. Qua hơn một thế kỷ, những hàng sao ấy đã trở thành biểu tượng xanh mát, in sâu trong ký ức nhiều thế hệ. Năm 1925, cha Damien Grangeon Mẫn (1857 - 1933) cho xây dựng lại Chủng viện Làng Sông theo thiết kế của cha Charles Dorgeville (1881 - 1956). Công trình được khánh thành ngày 21.9.1927 và tồn tại đến hôm nay như một dấu mốc bền bỉ của lịch sử truyền giáo tại miền Trung. NHÀ IN LÀNG SÔNG - LINH HỒN CỦA DI SẢN Nếu kiến trúc tạo nên hình hài Làng Sông, thì Nhà in Làng Sông chính là linh hồn của di sản này. Đây được xem là giá trị nổi bật nhất của Tiểu chủng viện, đồng thời là một trong ba nhà in chữ Quốc ngữ sớm nhất Việt Nam, bên cạnh Tân Định (Sài Gòn) và Ninh Phú (Hà Nội). Nhà in Làng Sông được cha Eugène Charbonnier Trí thành lập năm 1868 trong khuôn viên chủng viện. Sau khi bị phá hủy năm 1885, đến năm 1904, cha Damien Grangeon Mẫn cho tái thiết và giao cho linh mục Paul Maheu, người được đào tạo bài bản về kỹ thuật in ấn tại Hồng Kông, làm giám đốc. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Quang (Hội Khoa học lịch sử tỉnh Gia Lai) và linh mục Gioan Võ Đình Đệ (Giáo phận Quy Nhơn), giai đoạn 1904 - 1930, khi linh mục Paul Maheu làm giám đốc, là thời kỳ hưng thịnh nhất của Nhà in Làng Sông. Hệ thống máy in hiện đại, khổ lớn nhất thời bấy giờ cho phép nơi đây xuất bản một khối lượng sách, báo đồ sộ. Không chỉ in sách Latin và tiếng Pháp, Nhà in Làng Sông còn xuất bản một kho tàng sách Quốc ngữ phong phú: giáo lý, kinh thánh, giáo dục ấu học - trung học, truyện, tiểu thuyết, kịch, tạp chí, tuồng hát bội, lịch, sách dịch… Nhiều sách giáo khoa như Phép đánh vần, Con nít học nói, Ấu học, Trung học, Địa dư sơ lược... được tái bản nhiều lần. Đặc biệt, Hai chị em lưu lạc (1927) được ghi nhận là tiểu thuyết thiếu nhi đầu tiên của văn chương Nam Trung bộ. Tháng 11.1933, một cơn bão lớn làm sập Nhà in Làng Sông. Năm 1934, giáo phận khởi công xây dựng Nhà in Quy Nhơn. Đến năm 1935, hai nhà in hoạt động song song trước khi Làng Sông sáp nhập vào Quy Nhơn. Ấn phẩm cuối cùng được in tại Làng Sông vào tháng 12.1953, khép lại gần một thế kỷ tồn tại, để lại một di sản chữ Quốc ngữ đồ sộ hiện còn lưu giữ tại Thư viện quốc gia.

Thursday, March 26, 2026

CỘI RỄ CỦA CHIẾN TRANH ĐƯƠNG ĐẠI: CÁI NHÌN TỪ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

https://thuvienhoasen.org/a43650/coi-re-cua-chien-tranh-duong-dai-cai-nhin-tu-triet-hoc-phat-giao CỘI RỄ CỦA CHIẾN TRANH ĐƯƠNG ĐẠI: CÁI NHÌN TỪ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO https://thuvienhoasen.org/images/file/YgjvQtWI3ggBAJQZ/trung-dong-khoi-lua.jpg Chiến tranh Trung Đông, Thủ đô Iran (ảnh AP) Mở đầu Chiến tranh đương đại, dù được khoác lên mình những lý do như an ninh, chủ quyền hay bảo vệ lợi ích quốc gia, vẫn luôn là một trong những biểu hiện khốc liệt nhất của khổ đau nhân loại. Các cách tiếp cận truyền thống thường lý giải chiến tranh từ góc độ chính trị, kinh tế hoặc địa chiến lược. Tuy nhiên, triết học Phật giáo lại đề xuất một hướng tiếp cận sâu hơn: truy nguyên chiến tranh từ chính nội tâm con người. Theo đó, mọi xung đột bên ngoài đều phản ánh những bất ổn bên trong, và cội rễ thực sự của chiến tranh không nằm ở vũ khí hay biên giới, mà nằm ở tâm thức chưa được chuyển hóa. 1. Tam độc: Nguồn gốc nội tại của xung đột Trong triết học Phật giáo, “tam độc” – tham, sân, si – được xem là căn nguyên của mọi khổ đau. Ba yếu tố này không chỉ chi phối đời sống cá nhân mà còn mở rộng thành các động lực gây xung đột ở cấp độ tập thể. Tham (lobha) biểu hiện qua khát vọng chiếm hữu vô hạn: tài nguyên, lãnh thổ, quyền lực và ảnh hưởng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, lòng tham không còn giới hạn ở cá nhân mà trở thành động lực của các quốc gia và tập đoàn. Sân (dosa) là trạng thái thù hận và đối kháng. Khi được nuôi dưỡng bởi lịch sử, ký ức tập thể hoặc tuyên truyền, sân hận dễ dàng biến thành bạo lực có tổ chức, hợp thức hóa chiến tranh. Si (moha) là vô minh – không nhận ra bản chất tương liên của thế giới. Chính sự thiếu hiểu biết này khiến con người tin vào những ranh giới tuyệt đối, những chân lý độc tôn và những kẻ thù “cần bị tiêu diệt”. Như vậy, chiến tranh không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, mà là hệ quả tất yếu khi tam độc vận hành ở quy mô lớn. 2. Ảo tưởng về cái tôi và sự hình thành xung đột tập thể Một trong những giáo lý trung tâm của Phật giáo là “vô ngã” (anatta) – phủ nhận sự tồn tại của một cái tôi cố định, độc lập. Tuy nhiên, trong thực tế xã hội, con người lại không ngừng tạo dựng và bảo vệ các dạng “cái tôi mở rộng” như dân tộc, tôn giáo hay ý thức hệ. Chính sự đồng nhất này tạo nên ranh giới giữa “chúng ta” và “họ”. Khi cái tôi tập thể bị đe dọa, con người dễ dàng chấp nhận hoặc ủng hộ bạo lực như một hành động tự vệ chính đáng. Từ đó, chiến tranh được hợp lý hóa không chỉ về mặt chính trị mà còn về mặt tâm lý và đạo đức. Phật giáo cho rằng đây là biểu hiện của “ngã chấp” – sự bám víu vào một bản sắc tưởng tượng. Khi ngã chấp càng mạnh, xung đột càng trở nên gay gắt. 3. Duyên khởi và bản chất liên đới của chiến tranh Học thuyết “duyên khởi” (pratītyasamutpāda) của Phật giáo khẳng định rằng mọi hiện tượng đều phát sinh từ sự tương tác của nhiều điều kiện. Chiến tranh, do đó, không thể được hiểu như hành động đơn lẻ của một cá nhân hay quốc gia, mà là kết quả của một mạng lưới nhân duyên phức tạp. Những yếu tố như bất bình đẳng kinh tế, di sản lịch sử, xung đột văn hóa và sai lầm trong chính sách đều góp phần tạo nên điều kiện cho chiến tranh nổ ra. Cách nhìn này giúp vượt qua lối tư duy nhị nguyên “đúng – sai”, thay vào đó là nhận thức toàn diện về trách nhiệm chung. Nhìn từ duyên khởi, không có “kẻ ác tuyệt đối”, mà chỉ có những điều kiện dẫn đến hành vi gây hại. Điều này mở ra khả năng đối thoại và hòa giải thay vì chỉ trừng phạt và đối đầu. 4. Chiến tranh như biểu hiện tập thể của khổ đau Trong Phật giáo, “khổ” (dukkha) là một đặc tính phổ quát của tồn tại. Chiến tranh có thể được xem là biểu hiện tập thể của khổ đau này, khi nỗi sợ hãi, bất an và tổn thương lan rộng từ cá nhân đến cộng đồng. Một vòng lặp thường thấy là: sợ hãi dẫn đến phòng vệ, phòng vệ dẫn đến tấn công, và tấn công lại tạo ra thêm sợ hãi. Chu trình này tự củng cố và leo thang, khiến xung đột ngày càng khó kiểm soát. Nếu không có sự can thiệp từ nhận thức và đạo đức, vòng lặp này có thể kéo dài vô hạn, giống như một dạng “luân hồi” của bạo lực trong đời sống xã hội. 5. Vô minh trong thời đại hiện đại Một nghịch lý đáng chú ý là: dù khoa học và công nghệ phát triển vượt bậc, con người vẫn chưa vượt qua được vô minh ở cấp độ nhận thức. Thông tin bị thao túng, truyền thông bị chính trị hóa, và các hệ tư tưởng cực đoan tiếp tục định hình cách con người nhìn thế giới. Sự thiếu vắng chánh niệm khiến các quyết định quan trọng – đặc biệt trong chính trị và quân sự – dễ bị chi phối bởi cảm xúc, định kiến và áp lực ngắn hạn. Điều này làm gia tăng nguy cơ xung đột và giảm khả năng giải quyết hòa bình. 6. Hướng tiếp cận giải quyết xung đột từ Phật giáo Từ góc nhìn Phật giáo, việc chấm dứt chiến tranh không thể chỉ dựa vào các hiệp định hay cân bằng quyền lực, mà cần một sự chuyển hóa sâu sắc ở cả cá nhân lẫn tập thể. Trước hết là sự tu dưỡng nội tâm: giảm tham bằng cách thực hành tri túc, giảm sân thông qua lòng từ bi, và giảm si bằng trí tuệ. Khi con người hiểu rõ bản chất liên đới của tồn tại, họ sẽ ít có xu hướng gây hại cho người khác. Thứ hai là việc nuôi dưỡng từ bi và bất bạo động trong quan hệ quốc tế. Điều này không có nghĩa là thụ động, mà là hành động dựa trên hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Cuối cùng là áp dụng chánh niệm vào quá trình ra quyết định. Một xã hội có ý thức rõ ràng về hậu quả của hành động sẽ có khả năng ngăn chặn xung đột từ sớm, thay vì chỉ phản ứng khi chiến tranh đã bùng nổ. Kết luận Từ góc nhìn triết học Phật giáo, chiến tranh đương đại không chỉ là sản phẩm của những xung đột bên ngoài, mà là biểu hiện của những bất ổn sâu xa trong tâm thức con người. Khi tham, sân, si vẫn còn chi phối, chiến tranh sẽ tiếp tục tái diễn dưới những hình thức khác nhau. Do đó, con đường hướng tới hòa bình bền vững không chỉ nằm ở việc thay đổi cấu trúc chính trị hay kinh tế, mà còn ở việc chuyển hóa nhận thức và đạo đức của con người. Chỉ khi con người hiểu rõ chính mình và mối liên hệ với thế giới, chiến tranh mới thực sự có thể được vượt qua. Hòa Nguyễn THAM: https://baotiengdan.com/2026/03/26/nghi-van-dang-sau-nhung-tuyen-bo-cua-trump-ve-cuoc-chien-voi-iran/ ...“TÔI VUI MỪNG THÔNG BÁO RẰNG HOA KỲ VÀ IRAN ĐÃ CÓ NHỮNG CUỘC TRAO ĐỔI RẤT TỐT VÀ HIỆU QUẢ TRONG HAI NGÀY QUA VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT HOÀN TOÀN VÀ TRIỆT ĐỂ MỌI THÙ ĐỊCH Ở TRUNG ĐÔNG. DỰA TRÊN THÁI ĐỘ VÀ TINH THẦN TRONG NHỮNG CUỘC THẢO LUẬN SÂU SẮC, CHI TIẾT VÀ MANG TÍNH XÂY DỰNG NÀY — SẼ TIẾP DIỄN TRONG TUẦN — TÔI ĐÃ CHỈ THỊ BỘ CHIẾN TRANH HOÃN MỌI CUỘC TẤN CÔNG QUÂN SỰ NHẰM VÀO CÁC NHÀ MÁY ĐIỆN VÀ CƠ SỞ NĂNG LƯỢNG CỦA IRAN TRONG 5 NGÀY, PHỤ THUỘC VÀO KẾT QUẢ CỦA CÁC CUỘC GẶP VÀ THẢO LUẬN ĐANG DIỄN RA. XIN CẢM ƠN QUÝ VỊ! — TỔNG THỐNG DONALD J. TRUMP”. Khoảng thời gian 5 ngày mà Trump cam kết tạm dừng lời đe dọa này — bản thân cuộc chiến vẫn tiếp diễn — trùng đúng các ngày thị trường chứng khoán mở cửa. Theo The Kobeissi Letter, một bản tin phân tích thị trường chứng khoán, chỉ số S&P 500 đã tăng vọt 240 điểm. Giá dầu Brent giảm xuống còn 96 USD/ thùng. Rồi Iran bác bỏ các tuyên bố của Trump và nói các lãnh đạo của họ không hề có “bất kỳ liên lạc trực tiếp hay gián tiếp” nào với phía Trump. Bộ Ngoại giao Iran nói Trump đang cố “kéo giá năng lượng xuống và câu giờ để triển khai kế hoạch quân sự của mình”. Iran khẳng định, các nước trong khu vực đã tiếp cận họ để đàm phán, và “phản hồi của chúng tôi với tất cả các nước là rõ ràng: Chúng tôi không phải bên khởi đầu cuộc chiến này, và mọi yêu cầu như vậy phải được chuyển cho Washington”. Chỉ số S&P lại giảm 120 điểm và giá dầu Brent tăng lên khoảng 100 USD/thùng. “Chuyện gì đang diễn ra ở đây?” Adam Kobeissi viết trong bản tin của ông về thị trường. Câu trả lời mà mạng xã hội lập tức nhảy vào là: Thao túng thị trường. Nhà kinh tế Paul Krugman cũng gợi ý điều tương tự hôm nay, lưu ý rằng người có thông tin nội bộ “hoàn toàn có thể bán khống một loạt hợp đồng tương lai dầu thô ở mức giá rất cao — Brent cuối tuần qua hơn 112 USD — rồi mua lại ngay sau khi Trump tuyên bố tiến triển lớn, nhưng trước khi Iran phủ nhận. Và như vậy họ có thể thu một khoản lợi nhuận cực kỳ lớn”. Thực tế, cuối ngày, các phóng viên như Yun Li của CNBC cho biết, khoảng 15 phút trước tuyên bố của Trump, đã có một đợt nhảy vọt đột ngột trong hợp đồng tương lai S&P 500 và dầu. Krugman còn có những nhận định khác. Trump đã đe dọa “phạm một tội ác chiến tranh ở quy mô lớn” bằng cách đánh vào các cơ sở năng lượng dân sự và “hẳn đang tìm đường thoát”. Krugman lưu ý, không có lý do rõ ràng nào để Iran muốn đạt được thỏa thuận lúc này: Có vẻ họ đang thắng theo tiêu chí làm Mỹ mất mặt bằng cách kéo dài cuộc chiến. Krugman nêu một điểm lớn: “Hãy nghĩ xem vị thế của Mỹ trên thế giới đã bị suy yếu đến mức nào, không chỉ bởi việc thất bại rõ ràng trong việc khuất phục một cường quốc hạng tư, mà còn bởi thực tế là mọi người giờ đều biết rằng bạn không thể tin bất cứ điều gì, không thể tin bất kỳ cam kết nào mà Mỹ đưa ra. Bạn không thể trông đợi Mỹ thực hiện lời hứa, và cả lời đe dọa. Và mặc định bây giờ phải là bất kỳ điều gì chính quyền này nói đều là lời nói dối”.

Two Dominant Models for Making Decisions - Pros and Cons

The quality of our lives is determined by the quality of the decisions we make about how to move into the future. There are two dominant models for how to make those decisions. The first is the heroic-visionary model. In this model, a leader sees further into the future than everybody else. He goes with his instincts. He takes big risks and makes bold choices. This model seems inspiring and romantic until the heroic leader leads you off a cliff. Napoleon seemed all-knowing until he pursued his invasion of Russia into the wintertime. The failures of the heroic model induced people to come up with an opposite approach, which we’ll call [the second model]the technocratic model. The technocrat is taught not to go with his gut but instead to use reason, amass data, and weigh evidence using a formal and impersonal decision-making methodology, like a decision tree, matrix, or spreadsheet. This is the kind of decision-making process that often gets taught in business schools. It seems so sober and scientific. The problem is that the world is complicated, and most of it cannot be quantified and put into a spreadsheet. You wind up with Robert McNamara leading a disastrous war in Vietnam. You wind up with all those finely trained executives at Kodak who didn’t foresee that the future of photography was going to be digital. In their own bland way, the technocrats can be even more arrogant than the heroic visionaries because they don’t have any humanistic insight into how people behave.... David Brooks https://www.theatlantic.com/ideas/2026/03/make-better-decisions-trimmer/686522/ America Needs a Trimmer

Cô Hồng

Người ta thường gọi chị là "cô Hồng," dù đó thực sự không phải là tên thật trong giấy khai sanh của chị. Chẳng qua vì chị không thích cái tên dành cho con trai do người cha đặt, do ông quá mong cầu con trai nối dõi sau khi bà mẹ sanh liên tiếp mấy đứa con gái. Người nhà biết ý chị không thích mang tên ngược đời đó, nên phải im lặng chấp nhận khi chị tự xưng là "Hồng" với người ngoài. Không ai nói ra vào; cũng chẳng ai đính chính làm gì. Nhưng trong gia đình, với các em, chị vẫn là "chị Tư," và cha mẹ cứ tiếp tục dùng tên khai sanh khi nói với chị. Chị cũng không bực dọc hay phản đối. Chị học không cao. Chị suy nghĩ đơn giản, thấy sao nói vậy. Khi hết lớp mười hay có lẽ sau khi rớt tú tài một, chị may mắn được người bà con giúp giới thiệu vào làm thư ký cho nhà máy điện ở Thủ đức. Ngày ngày chị dậy sớm, tự pha cà phê uống vội rồi ra góc đường gần nhà chờ xe buýt công ty đến rước đi làm. Công ty có căng-tin nên chị ăn sáng và trưa tại đó. Đến chiều chị lại đi về bằng xe buýt công ty. Khoảng 5 hay 6 giờ chị đã có mặt ở nhà. Chị thường kể về các tai nạn xe cộ khủng khiếp ở Ngã Ba Hàng Xanh mà chị thường thấy trên đường đi làm từ Sài gòn ra Thủ Đức. Trước 1975, nhờ đồng lương và việc làm ổn định, chị cảm thấy tự tin, vững vàng, hài lòng với đời sống tự lập của mình. Chị sống thoải mái. So ra, thu nhập của chị có vẻ khá nhất so với các người chị kia trong gia đình. Đi làm về và ngày nghỉ cuối tuần, chị đọc thêm báo chí để học hỏi, dẫn vài em nhỏ đi xe lam ra Sài gòn chơi, ăn mì hay hủ tiếu nơi Hải ký mì gia trên đường Lê Thánh Tôn, rồi ghé hiệu sách Khai Trí mua thêm sách về nữ công, gia chánh, đan móc, thêu thùa.... Đôi khi chị dẫn vài đứa em đi xem xi nê ở rạp Rex hay rạp Đại Nam, vì chị không có bạn trai, đi một mình thời đó không tiện. Thời gian còn lại, nhất là dịp gần Noel hay Tết, chị dốc hết sức chăm chỉ thêu may áo quần trẻ em, kiếm thêm tiền phụ giúp cha mẹ nuôi đàn em tám đứa -đứa nhỏ nhất chưa vào tiểu học. Vì bận bịu như vậy, tuổi đời chồng chất mà chị vẫn còn độc thân, và chẳng mong cầu gì hơn. Chị khéo léo tự mua máy sấy tóc, và các dụng cụ làm tóc hay trang điểm, rồi cuối tuần tự gội đầu, uốn tóc, hay chăm sóc nhan sắc của mình. Không bao giờ chị đi đến tiệm như các người phụ nữ đi làm có tiền khác cả trong nhà lẫn ngoài xóm. Chị cần kiệm lắm: mỗi dịp đi chợ Tết cuối năm, chị thích đến xem và chọn mua giầy dép hay túi sách các nơi bán "sôn." Các món hàng kha khá, dù hết hợp thời trang, tồn đọng từ năm cũ, hoặc hàng bị chê hay đã dùng của các bà vợ lính Mỹ muốn tống đi, thường được đổ đống trên tấm bạt lớn trên lề đường, với tấm bảng "Đại hạ giá." Khách qua lại ghé xem, dù giá khá hời, vẫn có người mặc cả. Chị ra đời đi làm sớm, nên biết đồng tiển khó kiếm, nên chị chi tiêu dè sẻn. Ngay cả đi xe lam chị cũng để ý giá cả, và thường không để ai tính sai. Vả lại chị đã nuôi một ý định trong đầu. Chị dành dụm, mong có ngày đủ tiền sẽ mua một cuộc đất nhỏ ở ngoại thành, xây nhà riêng để về hưu được vui thú điền viên theo ý mình. Nhưng ý ấy chị luôn giữ kín trong lòng, ít nói với người nào trong gia đình. Chi yếu tim, thường bị đổ mồ hôi tay, và gặp khó khăn khi may vá, thêu thùa. Hồi còn nhỏ, chị hay hốt hoảng và sợ ma, cũng như dễ bị giật mình, lo âu thái quá. Nhưng như phần lớn các cô gái khác, khi là học sinh đệ nhị cấp, chị vương vấn một mối tình vô vọng, vì người chị yêu thầm "đã tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa." Nhưng mối tình đầu ấy lại để lại dấu ấn sâu sắc, theo chị mãi cho đến cuối đời. Cũng vì thế mà chị là người đầu tiên trong các anh chị em chọn theo Ki tô giáo. Có lẽ sau một thời gian nguôi ngoai, khi đã quá tuổi ba mươi, chị có nghĩ đến chuyện lập gia đình. Hồi theo học tiếng Anh ở Hội Việt Mỹ, hình như chị cũng phải lòng một người nữa, nhưng người ấy đã có vợ con, nên khi thấy biết cảnh nhà họ đầm ấm, chị tự nguyện âm thầm rút lui. Cha mẹ và vài thân quyến cố gắng tìm cách mai mối, giới thiệu cho chị vài nơi. Mỗi lần có người khác phái đến nhà thăm để tìm hiểu, chị cảm thấy rộn ràng, hồi hộp ra mặt. Nhưng rồi không hiểu sao, chị vẫn còn độc thân quá tuổi tam thập hơn. Rồi biến cố 1975, và chính phủ Sài gòn sụp đổ. Như bao người miền Nam lúc đó, cuộc đổi đời của chị bắt đầu. Khi đất nước Việt Nam thống nhất, thoạt đầu chị thấy hoang mang, lo sợ, nhưng cùng các người dân miền Nam khác chị hòa vào không khí chung "hồ hởi, phấn khởi" Theo chỉ thị tập trung của công ty điện nơi chị làm trên hai chục năm, chị tham dự các buổi mít tinh, tuần hành, biểu dương lực lượng chào mừng vào dịp lễ như một tháng năm, hai tháng chín....Chị cố gắng hết sức trong vai trò thư ký của mình như dạo trước 1975 chị đã từng làm. Nhưng rồi chẳng mấy chốc, người ta vẫn không cho chị một chỗ đứng nào nữa trong công ty. Họ bày chuyến sinh sự, "tố khổ" chị để gạt chị ra. Không ai cứu nổi một người thư ký quèn thấp cổ bé miệng, cô thế. Chị chẳng hề có một tiếng nói bênh vực nào của công đoàn, hay cấp trên. Người ta không cần chị nữa, và đã đưa người bà con của họ ngang nhiên ngồi vào chỗ của chị trước đây. Chị bất mãn tột cùng, nhưng biết làm sao? Từ đó chị dần dần rơi vào trầm cảm nặng. Như giọt nước tràn ly, trong nạn túng thiếu nghèo đói chung, chị chẳng những bị ngược đãi, mất công ăn việc làm một cách bất công, mà còn mất luôn cả sở đất nhỏ mà chị dày công tích lũy mua được sau bao nhiêu năm làm lụng vất vả. Người ta đã cướp đất của chị giữa thanh thiên bạch nhật. Không có một quan tòa nào nữa ở đất Sài gòn lúc ấy để giúp chị. Công lao đi làm, ky cõm, mua rồi vun quén, dọn dẹp mảnh vườn bé nhỏ bao năm của chị tan thành mây khói trong cơn chính biến chung! Dù chị có kêu thấu trời cũng không thể nào đòi lại được. Giấc mơ vui thú điền viên ngày nào giờ còn gì ngoài nỗi cô đơn và tuyệt vọng, khi tuổi đời của chị dần dần bước qua tứ tuần, rồi ngũ tuần. Sức khoẻ của chị bắt đầu mòn mõi theo cơn trầm cảm nặng và khẩu phần dân quèn thời bao cấp. Hy vọng tài chánh duy nhất của chị chỉ còn là chiếc máy may, là tài may, thêu, đan móc của chị ngày nào gia công mày mò, học hỏi. Chị đau đớn, thấm thía khẩu hiệu tuyên truyền "Lao động là vinh quang" tô vẽ nhan nhản khắp phố phường. Tinh thần suy sụp, chị chỉ biết quay về tìm về nguồn an ủi duy nhất nơi tôn giáo với một vài bạn đạo. Qua nhà thờ, chị cố gắng tìm cách lấy tin tức, rồi liên lạc lại với người xưa của mối tình đầu thời trung học của chị. Nhờ niềm tin yêu đó, chị tìm thấy chút an ủi. Chị nuôi chút hy vọng giữa lúc đời chị đen tối không lối thoát. Mái ấm gia đình ư? Ngôi nhà của cha mẹ chị chỉ còn là chốn chị tạm nương thân, là nơi chị mượn bàn máy may để dạy may đắp đổi qua ngày. Cha mẹ chị không còn cách nào hơn để giúp. Vả lại trong cảnh nghèo đói túng thiếu, lại còn vài đứa em nhỏ còn ăn học...họ cũng đã già, tiền hưu mất hết, và kiệt lực vì quá sức chịu đưng rồi. Chị lặng lẽ dạy may, dù không bao nhiêu. Cuộc sống của chị mỏi mòn, cứ thế mà trôi theo ngày tháng. Nhưng kẻ cắp cũng không tha. Một hôm cái guồng chỉ máy may bị kẻ gian đột nhập gỡ mất. May mà chiếc máy còn đó....Nhưng rồi cái máy may cùng các thứ đồ đạc khác trong nhà cũng dần dà không cánh mà bay, để người thân đổi lấy miếng cơm từng ngày hay, hay lại lọt vào tay kẻ gian hùng nào đó, như cái guồng chỉ nhỏ? Cả thế giới như sụp đổ dưới mắt chị. Trong lúc túng quẫn, chị đâm tức giận, phẫn nộ, ngay cả với cha mẹ, người thương yêu đùm bọc chị lâu nay....Chị bỏ nhà ra đi, đến ở cùng bạn đạo nào đó, cách nhà cha mẹ không xa lắm, nhưng đó cũng là cách chị tránh chứng kiến cảnh nhà mà lúc ấy chị bị xem là người có phần phải đóng góp giúp đỡ chăng? Không ai hiểu. Chưa bao giờ chị cô đơn như thế. Ngày ngày chị đẩy chiếc xe tạp hóa nho nhỏ ra ngồi nơi mái hiên chật hẹp nhà người, móc áo, bán đồ tạp nhạp đắp đổi. Làm sao chị sống được những ngày tháng đó? Không ai biết. Người thân quá bận chạy gạo từng bữa; họ có nhiều mối lo riêng. Họ cũng cùng quẫn như chị. Ngày tháng cứ thế mà trôi. Một hôm chị trở về nhà cha mẹ, ở một mình trong căn phòng nhỏ và làm bạn cùng con chó cái chị nuôi. Rồi con chó ấy đẻ cho chị một bầy chó con. Chi cảm thấy chúng thương chị như chị thương chúng. Có lẽ chúng còn cho chị ít nhiều niềm an ủi hơn con người chung quanh. Rồi nhờ bán mấy chú chó con chị kiếm được ít tiền. Chị vẫn tiếp tục nuôi tình yêu đầu đời và tìm đến chỗ dựa duy nhất của mình: nhà thờ và những người bạn đạo. Đâu đó trong không gian yên lành ấy chị tìm thấy hơi ấm tình người, cái duy nhất giúp chị còn muốn tiếp tục sống. Mái nhà cha mẹ giờ chỉ là chốn chị náo thân.... Rồi một ngày nọ hình như có người giúp chị liên lạc được với người xưa năm nào. Và từ phương trời xa xôi, có lẽ người ấy đã gửi về chút quà tặng chị. Rồi sau đó không ai rõ mối liên lạc ấy được kéo dài bao lâu. Chuyện gì đã xảy ra cho cuộc đời cô đơn và khốn khổ của "cô Hồng"? Không ai hay biết. Chị không có ai chia xẻ, ngoài những dòng nhật ký. Những năm tháng ấy cuộc vật lộn với miếng cơm manh áo vẫn còn đè nặng mọi người miền nam Việt nam. Và cả trong thân quyến, dù có muốn, cũng không ai giúp được ai. Chị vẫn một mình một bóng, loay hoay tìm cách tự nuôi thân để tồn tại. Chị ít chia xẻ chuyện riêng với cả người em gái mà mẹ chị nhờ đến thăm tại chỗ ở của chị. Chị viết nhật ký và rồi chị bất đầu thấy sức khoẻ mình hao mòn sa sút dần. Bệnh tim ngày một tồi tệ nhưng chị không hề nghĩ đến sức khoẻ, lý do thật đơn giàn: tiền đâu? Rồi một hôm chị bị đột quỵ, nhưng mãi một thời gian lâu sau chị mới qua đời. Hình như vài người trong gia đình có cố gắng hỗ trợ tài chánh và giúp tìm người chăm nuôi cho chị. Không ai rõ trong lúc bệnh nhiều và cô đơn, tuyệt vọng, chị còn ý thức bao nhiêu, và làm sao chị tồn tại? Không một người thân nào cạnh bên. Mọi người đều ở quá xa. Vả lại họ có chuyện riêng phải lo. Nghe nói người chủ nhà chỉ báo tin buồn cho thân quyến hay để đến lo mai táng cho "cô Hồng," một người xấu số, trọn đời cô đơn và cô độc.

Wednesday, March 25, 2026

Know Yourself: Find something that will make you happy

Trịnh Công Sơn: "Mỗi ngày tôi chọn một niểm vui." Theo nhà Phật: Hạnh phúc không có ở bên ngoài. Hạnh phúc thật sự chỉ có trong tâm mỗi cá nhân tự nhận ra. Tiền tài, danh vọng, các thú vui ở đời nói chung chỉ là thoảng qua, tạm bợ, không bền vững lâu dài, chóng tàn, và có khi đổi thay bất ngờ nhanh chóng. Vậy nên quay vào trong nếu bạn muốn có hạnh phúc chân thật, lâu dài, bền vững, miên viễn. Hạnh phúc tối thượng là sự giải thoát tất cả mọi ràng buộc của thế gian. https://www.npr.org/2025/03/12/nx-s1-5294584/if-you-want-more-happiness-in-life-ask-yourself-simple-question You have to have a pretty good idea of who you are to know whether something will make you happy. Why is that? Often, when we're trying to make our lives happier, we might be following a new habit, like reading more, going to sleep on time, exercising or cutting back on doomscrolling. Or we might be pushing ourselves to do something we don't want to do but could make us happier in the long run, like start a book club or join a hiking group. When we know ourselves, we can think about things that make it harder [to achieve those goals] and ways to make it easier. Some people love familiarity, and some people love novelty. So let's say you're trying to exercise more. If you know you love novelty, you might think: "Let me think of different ways I could exercise. I could join a gym that has many options." If you love familiarity, you might say: "I want to get comfortable in one place. That's going to make it easier and more pleasant for me to exercise." Different circumstances appeal to different people, and you want to take yourself into account as you're setting things up to pursue whatever it is to make your life happier. You developed and wrote a book about a framework called the Four Tendencies to help people understand their personality type and what might make them happy. Tell me about the concept. The Four Tendencies looks at whether you meet or resist outer expectations, like a work deadline, and inner expectations, like my own desire to keep a New Year's resolution. Depending on whether you meet or resist outer and inner expectations, that makes you an upholder, a questioner, an obliger or a rebel. Upholders are people who readily meet both outer and inner expectations. So they meet the work deadline and keep the New Year's resolution without much fuss. Questioners question all expectations. They'll do something if they think it makes sense. Obligers readily meet outer expectations, but they struggle to meet inner expectations. So these are people who can keep their promises to other people, but they struggle to keep promises to themselves. Rebels resist all expectations, outer and inner alike. They want to do what they want to do in their own way, in their own time. If you know you're an upholder, a questioner, obliger or rebel, it will give you a lot of clues about how to follow through on [things you're trying to do to make yourself happier]. I think a lot of folks imagine that if they make a big change in their lives — get a new job, get married or have a baby — then maybe then they'll finally be happy. We overestimate how much these big things will change our lives. But by the time they come about, we've already incorporated those changes into our worldview. So they don't give us the huge boost we think they might. At the same time, if you're at a job you really dislike and then switch to a job you do like, that is going to make a big difference. Sometimes we get energy from very small things. On the Happier podcast, I often talk about something called the "one-minute rule." This is the idea that if you can do something in a minute without delay, you should just go ahead and do it. It gets rid of the clutter that's on the surface of life. And sometimes getting that little stuff out of the way makes you feel more prepared to take on the big stuff. What are some other things people do because they think it'll make them happy? Thinking there's one right way to go about making our lives happier, that there's a magic, one-size-fits-all solution. The fact is, no tool fits every hand. Each of us needs to figure out what is right for us. That's where self-knowledge comes in. For example, many people swear by meditation. I have tried meditation. Doesn't work for me. I also tried keeping a gratitude journal. [Some scientific evidence shows keeping one can improve well-being.] I was deeply annoyed by it. But for some people, it's an important tool. You write in Secrets of Adulthood that happiness doesn't always make us feel happy. What do you mean by that? Sometimes we do things that might make us feel bad, but make us feel right. You might visit a sick friend in the hospital, even though you hate hospitals. Yet you think, "Well, to be a good friend, I should visit them in the hospital."It serves your happiness because it's a way of feeling right — your life reflects your values.

Sự Thật Về Nhân Văn Giai Phẩm – Điều Ít Ai Dám Nói

https://www.youtube.com/watch?v=kLS87d4N7Pg Sự Thật Về Nhân Văn Giai Phẩm – Điều Ít Ai Dám Nói