Friday, September 5, 2025

Việt Nam Sau 80 Năm -1945-2025

Trực tiếp Lễ diễu binh, diễu hành A80 tại Quảng trường Ba Đình. Nguồn: VTV Thơ DUYỆT BINH Mình ta là một đạo quân Vào Nam ra Bắc mấy lần chiến chinh Cựu chiến binh tự duyệt binh Chống gậy một mình chẳng phải vịn ai. Nguyễn Duy
Blog MỘT THÔNG ĐIỆP VÔ CÙNG SÂU SẮC TẠI LỄ MỪNG ĐỘC LẬP Lưu Trọng Văn Tại sao có hàng chục ngàn bà mẹ VNAH còn sống, TBT Tô Lâm lại chọn Mẹ Việt Nam Anh Hùng Trần Thị Huyến 86 tuổi, đang sinh sống tại xã Đồng Môn - Hà Tĩnh, một làng quê uẩn khuất, ngồi cạnh mình trên lễ đài duyệt binh? Vô tình ư? Theo gã, hoàn toàn không. TBT không thể biết mẹ Huyến ở đâu và có hai con hy sinh chống Khmer đỏ diệt chủng ở CPC. Vậy tại sao lại có sự xuất hiện của Mẹ trên lễ đài ngồi bên cạnh TBT? Đây là một tính toán có tính cảnh báo và thông điệp ngầm rất sâu sắc. Và kịch bản chuẩn bị sẵn được đưa ra cho ban tổ chức Lễ duyệt binh công khai hình ảnh trước thế giới. Và, theo suy luận mang tính cá nhân của gã thì kịch bản sắp xếp như sau: - TBT không ngồi cạnh bất cứ lãnh đạo nước ngoài nào trên lễ đài dù là chủ tịch Cuba, lãnh đạo CPC hay đại diện Trung Quốc, Nga. - TBT muốn ngồi cạnh một người Mẹ tiêu biểu về đức hy sinh cho Dân tộc của “Tổ quốc tôi.” Người mẹ đó phải là Mẹ VNAH nhưng có con hy sinh ở chiến trường CPC. Phải chăng với kịch bản- đề bài được ra như thế, ban tổ chức Lễ duyệt binh đã tìm và chọn mẹ Huyến. Mẹ Huyến mất hai người con là liệt sĩ Nguyễn Văn Đường và liệt sĩ Nguyễn Văn Cát tại chiến trường tại Campuchia. Tại sao lại là mẹ VNAH có con hy sinh ở CPC? Phải chăng, Thông điệp sâu sắc chính ở đây, thưa ngài Hunsen nhân vật số một của CPC và ngài Triệu Lạc Tế nhân vật chỉ đứng sau chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc: Các ngài đang là bạn bè thân thiết của VN trên lễ đài này, nhưng xin các ngài nhớ cho rằng: vì sao Dân tộc này có những bà mẹ phải đau đớn mất đi những đứa con ở CPC? Vì chống chế độ diệt chủng Khmer đỏ tàn ác nhất trong lịch sử do Trung Quốc của các ngài hậu thuẫn chống phá VN và để cứu Dân tộc Khmer thoát nạn diệt chủng ấy. Chúng tôi mời các ngài dự lễ Độc lập để ghi ơn có những lúc các ngài ủng hộ nền Độc lập của chúng tôi. Nhưng Lịch sử phải công bằng ngay trong Lễ mừng Độc lập ấy. Chúng tôi cũng không thể quên sự hy sinh của chúng tôi vì các ngài và do các ngài. Thông điệp này bên cạnh cuộc duyệt binh với lực lượng quân đội hùng mạnh và sự nhiệt thành ủng hộ mạnh mẽ của quần chúng thể hiện rằng: Biên cương phía Nam và phía Bắc cũng như Biển Đông mà mối uy hiếp từ đâu, ai cũng biết sẽ bất khả xâm phạm. Và đó cũng là lý do, kế tiếp cái điều nói bằng hình ảnh trên, đã được TBT dõng dạc tuyên bố bằng lời: “Chúng ta tuyệt đối không nhân nhượng trước mọi âm mưu, hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; kiên quyết bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, dân tộc.”

Thursday, September 4, 2025

Đọc Tác Phẩm Từ Hôn Của Nhà Văn Hồ Biểu Chánh

Tác phẩm Từ Hôn được tác giả Hồ Biểu Chánh viết tại Khánh Hội, Sài gòn, năm 1936 (?). Cốt truyện kể về một thanh niên mồ côi cả cha lẫn mẹ tên Châu Tất Đắc có tiếng là đi du học bên Pháp về, nhưng kỳ thực chỉ ăn không ngồi rồi, và hiện ở nhà trọ chia phòng cùng hai người bạn trai khác, cũng nghèo và cô thế như chàng. Qua sự sắp xếp để được lấy tiền làm bà mai của một người đồng hương với Tất Đắc, là cô "Đốc" của một trường nữ công gia chánh vùng Cầu kho, Sài gòn, chàng được một cô gái tên Bạch Yến, có học ít nhiều lại xinh đẹp, con một của một bà "huyện" giàu sang ở Tân định, phải lòng nhân khi hai người gặp và nói chuyện với nhau tại gian hàng quảng cáo hàng của trường nữ công gia chánh ấy ở một hội chợ. Chàng lại được lòng mẹ cô gái đi cùng con hôm ấy, bà quý mến vì chàng "nói chuyện "hữu duyên" và vì cái tiếng "bác vật," tức kỹ sư, "từ Pháp về" lại sắp được một hãng nào đó của Pháp muốn thuê để sang Lào khai thác mỏ vàng bạc....Tuy vậy, sau đó cô Đốc cho chàng biết bà mẹ giao ước nếu muốn cưới con bà thì phải ở rễ, nghĩa là bỏ công danh sự nghiệp, về ở nhà với mẹ con bà, và giúp bà quản lý việc cho thuê các căn phố lầu cũng như ruộng vườn bà có. Lễ dạm hỏi, ra mắt hai bên, do cô Đốc sắp xếp nhanh gọn, và đôi trẻ đều có vẻ tâm đầu ý hợp. Chàng Tất Đắc cũng khôn khéo, biết cách tán tỉnh kiểu tân thời khiến cô Bạch Yến thanh tân xiêu lòng. Theo lời bày vẽ của cô Đốc, chàng giả vờ đóng trọn vai "bác vật" với quyết chí lập sự nghiệp đào mỏ bên Lào của mình, khiến cô gái lâm vào tâm trạng khó xử, bên mẹ bên chồng tương lai, không biết phải theo bên nào....Tại nhà cô Đốc, hai người trẻ gặp nhau trong khi cô Đốc giả vờ còn ngủ trong phòng. Bạch Yến bối rối, dùng dằng nhưng định nghe lời mẹ, sẽ nhất quyết từ hôn nếu chàng không bỏ sự nghiệp đề cưới cô và về ở rễ bên vợ. Chàng vờ làm cao, suy nghĩ, phân giải cho nàng nghe, theo cách bày vẽ của cô Đốc. Nhưng cuối cùng chàng cũng chìu Bạch Yến bỏ không sang Lào đào mỏ nữa. Bạch Yến hết sức mừng rỡ, tin rằng chồng tương lai thực sự thương mình và sẵn sàng hy sinh sự nghiệp vì mình, nên cô cho chàng hôn cái hôn tình tứ. Khi Bạch Yến đi về báo tin vui cho mẹ cô hay, thì Tất Đắc bị lương tâm giằng co dữ dội nên phân trần cùng cô Đốc chàng không thể đóng kịch tiếp tục để lừa gạt tấm lòng ngây thơ tin tường của Bạch Yến nữa. Vì vậy chàng nhất quyết sẽ từ hôn. Cô Đốc cho Tất Đắc điên mới làm thế, vì chỉ còn đóng tiếp vai diễn một chút nữa thôi thì mọi người đều sẽ hân hoan sung sướng: Bạch Yến sẽ có tấm chồng mà nàng mơ ước; bà huyện vui sướng bắt được rể giỏi và ngoan, cô Đốc có được tiền mai mối hậu hĩnh, và Tất Đấc sẽ như chuột sa hủ nếp. Thế nhưng khi về nhà trọ, Tất Đắc chịu không nổi sự dằn co lương tâm nên chàng quyết định viết thư tỏ rõ sự thật cho Bạch Yến hay trước khi "đám cưới vào rằm tháng tới" xảy ra. Nhận được thư, Bạch Yến thất sắc, khóc lóc tức tối, bèn đem thư đến tỏ bày cho bà mai Đốc học biết và đòi gặp mặt Tất Đắc, vì nàng tin chàng là người chân thành yêu nàng và "tự trọng cao thượng" vì dám nói sự thật, nên nàng quyết lấy chàng vì tình yêu chứ không phải vì cái bằng "bác vật" nào cả. Tuy nhiên khi đến nhà trọ Tất Đắc, thì hai người bạn ở đó cho cô Đốc và Bạch Yến hay chàng ta đã xách vali rời Sài gòn đi rồi mà họ không rõ đi đâu. Câu chuyện kết thúc hơi bất ngờ khiến người đọc phải bật cười ra nước mắt trước cảnh đời "tréo ngoe," tưởng cô gái từ hôn, hóa ra chàng rể mới là người tìm đường "cao chạy xa bay." Cái hay của tác giả là ở đó. Đúng là một tấn trò đời "thiệt giả, giả thiệt," trong thời buổi háo danh và tôn sùng tiền bạc vật chất, khi phần đông con người thích lừa nhau để sống. Các đối thọai trong suốt câu chuyện khá sinh động. Cách Cụ HBC phân tích tâm lý của từng nhân vật thật hay: người đọc sẽ thấy diễn biến tự nhiên và ăn khớp nhịp nhàng từ đầu đến cuối. Câu chuyện cũng cho người đọc nhận ra tính dí dỏm khôi hài và mai mỉa thâm trầm của nhà văn, nhất là các đọan đối thoại giữa cô Đốc với Tất Đắc, giữa Tất Đắc và Bạch Yến, cũng như giữa ba chàng trai du thủ du thực trong nhà trọ. Tác phẩm Từ hôn quả là một tác phẩm có giá trị về cả văn chương, cấu trúc chuyện, phân tích tâm lý xã hội và có ý nghĩa giáo dục đạo đức. Tác phẩm xứng đáng và có thể được dựng thành kịch hay film không khó khăn, tốn kém gì nhiều. Bốn tập: https://www.youtube.com/watch?v=ipYEAkhoSm0 https://www.youtube.com/watch?v=jngOgfjovWM&t=2163s https://www.youtube.com/watch?v=on-d68AsgDA&t=2185s https://www.youtube.com/watch?v=SaqTGndOAPI&t=3540s

Khoảng 80% du học sinh tự túc không về nước

https://vnexpress.net/khoang-80-du-hoc-sinh-tu-tuc-khong-ve-nuoc-4810106.html Thứ tư, 30/10/2024, 15:18 (GMT+7) Khoảng 80% du học sinh tự túc không về nước Khoảng 70-80% du học sinh tự túc ở lại nước ngoài làm việc sau khi học xong vì thu nhập cao, đãi ngộ tốt, theo Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao. Thông tin được nêu tại lễ công bố Hồ sơ di cư Việt Nam 2023 do Cục Lãnh sự tổ chức, ngày 29/10. Theo báo cáo, số người Việt du học tăng đều các năm, bằng nhiều con đường, ước tính hiện trên 250.000 người. Tính riêng diện tự túc, mỗi năm tăng khoảng 10.000 người. Còn nhóm theo học bổng ngân sách nhà nước hoặc do nước ngoài tài trợ có khoảng 6.800 người, trong giai đoạn 2017- 2022, trong đó trên 80% ở Nga và Hungary. Bà Phan Thị Minh Giang, Phó cục trưởng, cho biết hiện chưa có số liệu tổng thể về số du học sinh về nước sau tốt nghiệp, nhưng thống kê từ nhiều nguồn thì tỷ lệ này không cao, khoảng 70-80% ở lại nước ngoài. Đây là số du học tự túc, một phần theo các học bổng hợp tác nhưng không về như cam kết. Ghi nhận từ 12 địa phương vào năm 2022 cho thấy hơn 8.850 người du học, nhưng chỉ khoảng 1.160 người trở về. Năm 2023, số trở về là 543 người. "Tình trạng chảy máu chất xám đã được đề cập từ Hồ sơ di cư đầu tiên năm 2016 và hiện vẫn rất đáng quan tâm", bà Giang nói. Theo nhà chức trách, lý do nhiều du học sinh tự túc ở lại nước ngoài làm việc là mức thu nhập cùng chính sách đãi ngộ tốt. Chẳng hạn, ở Đài Loan (Trung Quốc), một cử nhân ngành bán dẫn người Việt nhận thu nhập khởi điểm 25- 33 triệu đồng một tháng, tăng lên mức 37-55 triệu đồng với thạc sĩ và tiến sĩ. Mức này chưa bao gồm lương chức vụ và thưởng hiệu suất. Ngoài ra, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ nới quy định thị thực, nhập cư nhằm giữ chân người học. Như ở Đức, thị thực cư trú kéo dài tới 18 tháng sau khi tốt nghiệp để sinh viên nước ngoài tìm việc làm. Bà Giang cho rằng cần giải pháp toàn diện, ngoài đãi ngộ còn có thêm cải cách đột phá để thu hút du học sinh về nước. Việt Nam cũng cần biến thách thức thành thời cơ khi hiện nay đã hình thành quan niệm mới về "tính di động chất xám", người di cư vẫn có thể đóng góp cho đất nước bằng nhiều cách. Phụ huynh và học sinh tìm hiểu thông tin tại Triển lãm du học New Zealand, tháng 10/2023 ở Hà Nội. Ảnh: Bình Minh Việt Nam là một trong 10 quốc gia du học nhiều nhất thế giới, theo trang thông tin về giáo dục quốc tế ICEF Monitor. Thống kê của Bộ Tư pháp Hàn Quốc cho thấy du học sinh Việt đứng đầu về số sinh viên quốc tế tại đây với gần 86.000 người, phần lớn tham gia các khóa học tiếng Hàn ngắn hạn. Tại Nhật Bản, sinh viên Việt Nam khoảng 43.000, đông thứ hai. Ở Mỹ, Australia, con số này lần lượt hơn 30.000 và 44.000, trong top 5; còn ở Trung Quốc là 27.000, Canada 17.000. Các ngành học được người Việt ưa chuộng là Kinh doanh và Quản lý, STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học). Hồng Chiêu Những người Việt chọn không về nước làm việc Nhiều người Việt chọn không về nước sau khi du học nước ngoài vì nhận thấy môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ tốt hơn. Lý do khiến du học sinh khó tìm việc khi về nước Du học sinh về nước mất nhiều thời gian để thích nghi với doanh nghiệp, có thể do định vị bản thân cao hay thiếu kinh nghiệm thực tế, mức lương thấp ở Việt Nam. 32 Du học sinh loay hoay tái hòa nhập sau khi về nước Về Việt Nam sau thời gian du học, nhiều du học sinh sốc văn hóa ngược, chật vật thích nghi với cơ quan cũ hoặc loay hoay tìm việc mới. 100

Bài Mỹ, “NATO đỏ”, con rối của Trung Quốc: Những cáo buộc về Tổ chức Hợp tác Thượng Hải liệu có đúng ?

https://www.rfi.fr/vi/qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/20250901-b%C3%A0i-m%E1%BB%B9-nato-%C4%91%E1%BB%8F-con-r%E1%BB%91i-c%E1%BB%A7a-trung-qu%E1%BB%91c-nh%E1%BB%AFng-c%C3%A1o-bu%E1%BB%99c-v%E1%BB%81-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-h%E1%BB%A3p-t%C3%A1c-th%C6%B0%E1%BB%A3ng-h%E1%BA%A3i-li%E1%BB%87u-c%C3%B3-%C4%91%C3%BAng Bài Mỹ, “NATO đỏ”, con rối của Trung Quốc: Những cáo buộc về Tổ chức Hợp tác Thượng Hải liệu có đúng ? Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) là một tổ chức chính trị, an ninh và kinh tế Á-Âu, với sự tham gia của nhiều cường quốc hạt nhân như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ. Được thành lập năm 2001, SCO kế thừa “Nhóm Thượng Hải”, vốn có chức năng ban đầu là giải quyết các xung đột biên giới tại Trung Á thời hậu Chiến tranh Lạnh. Từ lâu, SCO thường bị cáo buộc là bài Mỹ, “NATO đỏ”, công cụ phô trương ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga. Tuy nhiên, những cáo buộc này liệu có chính xác ? Đăng ngày: 01/09/2025 - 12:50 Hình ảnh hội nghị Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) diễn ra hôm qua và hôm nay, 01/09/2025, tại Thiên Tân, Trung Quốc. AFP - SERGEY BOBYLEV Minh Phương SCO là tổ chức an ninh khu vực lớn nhất thế giới nếu xét các tiêu chí kinh tế, dân số và diện tích. Cụ thể, SCO chiếm 42% dân số toàn cầu, 24% GDP và bao phủ 66% diện tích lục địa Á-Âu. Ban đầu, tổ chức này tập hợp Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan và Uzbekistan với mục tiêu bảo vệ an ninh, trong đó bao gồm chống khủng bố, ly khai, cực đoan tôn giáo và tội phạm xuyên quốc gia. Về sau, phạm vi hợp tác được mở rộng sang tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, đặc biệt là kinh tế và năng lượng. Đến nay tổ chức này bao gồm 10 thành viên, 2 quan sát viên và 15 đối tác đối thoại, khiến phạm vi Á-Âu ban đầu được mở rộng sang cả Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á và Đông Nam Á. Do đó, tổ chức này mang ý nghĩa địa-chính trị không hề nhỏ, nhất là trong bối cảnh thế giới đang dần dần “phi phương Tây hóa” trong các vấn đề toàn cầu. SCO và những cáo buộc Một trong những cáo buộc phổ biến nhất về SCO liên quan đến tính chất bài Mỹ. Theo Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), những cáo buộc này vốn dựa trên sự vắng mặt của các quốc gia phương Tây hoặc các đồng minh của họ trong tổ chức này. Tuy nhiên, chuyên gia Cédric Garrido đã chỉ ra rằng điều này là không chính xác, trong bối cảnh mà nhiều quốc gia đối tác của Mỹ như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê Út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất và Ai Cập hiện đã tham gia SCO với tư cách thành viên hoặc đối tác đối thoại. Hơn nữa, hoạt động của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải chủ yếu tập trung vào giải quyết các vấn đề an ninh nội bộ và không hề thể hiện bất kỳ nghị trình bí mật hay ý định chiến lược nào nhằm đối trọng với lợi ích Mỹ. Nếu có sự suy giảm ảnh hưởng của Mỹ, thì chỉ là hệ quả ngẫu nhiên của các chính sách được triển khai chứ không phải mục tiêu cuối cùng. Biện pháp duy nhất mang tính “ngăn chặn” từng thực hiện là yêu cầu xây dựng lộ trình đóng cửa các căn cứ Mỹ tại Trung Á vào năm 2005, ngay sau khi căn cứ Karshi-Khanabad ở Uzbekistan bị đóng cửa do áp lực từ chính quyền nước này sau các lệnh trừng phạt kinh tế Mỹ liên quan đến đàn áp nổi dậy ở Andijan. Cáo buộc thứ hai cho rằng SCO là một liên minh quân sự, thường được coi như “NATO đỏ”. Tuy nhiên, Viện IRIS nhận định Tổ chức Hợp tác Thượng Hải không có những đặc điểm của một liên minh quân sự. Hiến chương của tổ chức không có điều khoản tương đương Điều 5 của NATO, không cam kết bảo đảm an ninh lẫn nhau, và khẳng định tổ chức không chống lại bất kỳ quốc gia thứ ba nào – một nguyên tắc cơ bản thường xuyên được nhắc lại. SCO hoàn toàn không phải cơ chế an ninh tập thể. Tổ chức không có lực lượng phản ứng nhanh, trái ngược với Liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) hay Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO). Các cuộc tập trận quân sự chung chỉ huy động lực lượng vũ trang của từng thành viên, chỉ mang tính biểu tượng, và giúp phát triển khả năng phối hợp, triển khai, điều phối và can thiệp giữa các nước. Thứ ba, cáo buộc SCO là công cụ phô trương ảnh hưởng cho Trung Quốc cũng không có cơ sở. Trung Quốc đóng góp đáng kể về chính trị, dân số, kinh tế và quân sự, đồng thời giữ vai trò đầu tàu về mặt ý tưởng, với khái niệm “Tinh thần Thượng Hải” được tất cả các thành viên thừa nhận. Tuy nhiên, không có dấu hiệu Trung Quốc buộc các thành viên phải phụ thuộc mình. Nội bộ SCO vẫn còn nhiều bất đồng; chính sách đối ngoại của các thành viên vẫn độc lập; và sự dè dặt của các quốc gia Trung Á đối với Trung Quốc chỉ được cân bằng nhờ quan hệ đa chiều với Nga. Hơn nữa, tổ chức này vận hành theo nguyên tắc bình đẳng, mỗi thành viên có quyền biểu quyết ngang nhau, và mọi quyết định đều được thông qua khi tất cả đồng thuận. Cuối cùng, những đánh giá cho rằng SCO có mức độ hội nhập khu vực thấp hay không có nhiều ảnh hưởng đến các vấn đề toàn cầu cũng cần được xem xét lại. Những kỳ vọng này đôi khi không phù hợp với tham vọng của SCO, cũng như cách thức tổ chức này vận hành. SCO bị phê phán về việc không kiểm soát chặt chẽ các quá trình chính trị và kinh tế bên trong, thiếu ảnh hưởng trên các vấn đề toàn cầu (như ở Ukraina và Trung Đông), hoặc sự hợp tác an ninh truyền thống chưa đủ. Tuy nhiên, những kỳ vọng này hoàn toàn không phù hợp với sứ mệnh mà SCO đặt ra. Tổ chức này là một cơ chế hợp tác khu vực, trước hết tập trung vào các vấn đề an ninh phi truyền thống (khủng bố, ly khai, cực đoan, buôn bán ma túy và tội phạm xuyên quốc gia) bên trong biên giới của các thành viên. SCO và những hạn chế Đầu tiên phải kể tới vấn đề phát triển dân chủ và quyền con người. Mặc dù được nêu trong Hiến chương SCO và các tài liệu khung, đây vẫn là điểm yếu trong chính sách của tổ chức này. Tình trạng phát triển dân chủ hạn chế gây ra sự bất an chính trị. Không có cơ cấu lập pháp hay cơ quan độc lập để giám sát và khắc phục điểm yếu này. Dù các mục tiêu ban đầu về ổn định biên giới và chống khủng bố, ly khai, cực đoan được thực hiện thành công, nhưng các mục tiêu dài hạn (hợp tác kinh tế – thương mại, văn hóa và nhân đạo) vẫn chủ yếu chỉ mang tính tuyên bố cho đến thời điểm hiện tại. Điều này là do OCS chủ trương nguyên tắc không can thiệp và đồng thuận, là kết quả của mong muốn mạnh mẽ của các thành viên nhằm tránh mọi ảnh hưởng bên ngoài và bảo vệ chủ quyền của họ. Vì vậy, tổ chức vẫn phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí của các thành viên. Điều này không gây trở ngại đối với các lĩnh vực lợi ích chung to lớn của tổ chức (an ninh và ổn định khu vực và chính trị), nhưng có thể trở thành vấn đề đối với những nhiệm vụ có mức đồng thuận thấp hơn giữa các chính phủ thành viên, hoặc những nhiệm vụ có thể được thực hiện thông qua các kênh gián tiếp hoặc thay thế. Thứ hai, ngân sách chung của SCO được cho là còn hạn chế. Vào năm 2004, quỹ cho các cơ quan thường trực là 3,1 triệu đô la (gồm 2,6 triệu cho Ban Thư ký, 1,5 triệu cho Cấu trúc chống khủng bố khu vực (RATS). Theo các phân tích, ngân sách “chính thức” này rõ ràng là không đủ để trang trải chi phí hoạt động cho một tổ chức ở quy mô khu vực, và thiếu tính nhất quán so với phạm vi rộng lớn của các chương trình hợp tác được triển khai. Tuy nhiên, những con số này chưa bao gồm các khoản đóng góp trực tiếp của các quốc gia theo từng dự án. Hơn nữa, việc thiếu cơ sở dữ liệu chuyên biệt, khiến mọi ước tính trở nên khó khăn. Không có thông tin nào về ngân sách được ghi nhận sau năm 2004. Tóm lại, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải là một tổ chức quan trọng trong khu vực, xứng đáng để phương Tây tìm hiểu sâu hơn để từ đó đưa ra những đánh giá khách quan. SCO không phải là liên minh chống phương Tây và chống dân chủ; tổ chức này đóng góp thực chất vào an ninh và ổn định khu vực, có quyền lực chuẩn mực đáng kể trong hợp tác đa phương, và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của các thành viên: ổn định nội bộ và khu vực, chủ quyền, nguyên tắc không can thiệp, tự chủ an ninh, và là đại diện quốc tế cho các quốc gia Trung Á. (Lược dịch báo cáo của chuyên gia Cédric Garrido, được Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược IRIS đăng tải)

The Remarkable Emptiness of Existence

The Remarkable Emptiness of Existence Tánh Không Kỳ Diệu Của Hiện Hữu Nguồn: https://nautil.us/the-remarkable-emptiness-of-existence-256323/?utm_source=pocket-newtab
https://assets.nautil.us/sites/3/nautilus/EZ5HLMYp-Sutter_HERO.png?crop=entropy&auto=compress&fit=crop&h=480&w=800 Early scientists didn’t know it, but we do now: The void in the universe is alive. Các nhà khoa học trước đây không biết về điều này, nhưng nay chúng ta được biết chơn không trong vũ trụ thật sinh động. Tác giả: Paul M. Sutter* Người dịch: Nguyên Thuần January 4, 2023 In 1654 a German scientist and politician named Otto von Guericke was supposed to be busy being the mayor of Magdeburg. But instead he was putting on a demonstration for lords of the Holy Roman Empire. With his newfangled invention, a vacuum pump, he sucked the air out of a copper sphere constructed of two hemispheres. He then had two teams of horses, 15 in each, attempt to pull the hemispheres apart. To the astonishment of the royal onlookers, the horses couldn’t separate the hemispheres because of the overwhelming pressure of the atmosphere around them. Vào năm 1654 nhà khoa học và chính khách Đức Otto von Guericke lẽ ra phải bận bịu với nhiệm vụ thị trưởng thành phố Magdeburg. Nhưng thay vì thế, ông lại đang lo việc trình bày trước các nhà lãnh đạo Thánh Đế La Mã. Với chiếc máy bơm chơn không, một phát kiến mới lạ của mình, ông hút không khí ra khỏi một quả cầu bằng đồng làm từ hai bán cầu. Rồi ông cho hai bầy ngựa, mỗi bầy 15 con, ra sức kéo để tách rời hai bán cầu ra. Trước sự kinh ngạc của các ông hoàng đang mục kích, bầy ngựa không tài nào tách hai bán cầu ra được vì áp suất không khí bao quanh hai bán cầu quá lớn. [https://en.wikipedia.org/wiki/Holy_Roman_Empire. The Holy Roman Empire/Thánh Đế La Mã là một đế chế (một thực thể chính trị) gồm các nước trong khu vực tây, trung và nam Âu châu, phát triển vào đầu thời Trung Cổ/Dark Ages (cuối thế kỷ thứ 5, đầu thế kỷ thứ 6 kéo dài đến thế kỷ thứ 10), và giải thể vào năm 1806 trong thời kỳ chiến tranh Napoleon (1803-1815). ] Von Guericke became obsessed by the idea of a vacuum after learning about the recent and radical idea of a heliocentric universe: a cosmos with the sun at the center and the planets whipping around it. But for this idea to work, the space between the planets had to be filled with nothing. Otherwise friction would slow the planets down. Von Guericke bị ý tưởng về chơn không ám ảnh sau khi ông học được tư tưởng cấp tiến mới ra đời cho mặt trời là trung tâm vũ trụ và các hành tinh vận hành quanh nó. Nhưng muốn biến tư tưởng này thành hiện thực thì không gian giữa các hành tinh phải không có vật thể nào cả. Nếu không, sự ma sát sẽ làm các hành tinh vận hành chậm lại. The vacuum is singing to us, a harmony underlying reality itself. Chơn không đang hát cho chúng ta nghe, một cung điệu hài hòa tiềm tàng chính nơi thực tại. Scientists, philosophers, and theologians across the globe had debated the existence of the vacuum for millennia, and here was von Guericke and a bunch of horses showing that it was real. But the idea of the vacuum remained uncomfortable, and only begrudgingly acknowledged. We might be able to artificially create a vacuum with enough cleverness here on Earth, but nature abhorred the idea. Scientists produced a compromise: The space of space was filled with a fifth element, an aether, a substance that did not have much in the way of manifest properties, but it most definitely wasn’t nothing. Trải qua hàng thiên niên kỷ, các khoa học gia, triết gia, và nhà thần học khắp thế giới đã từng tranh luận về sự hiện hữu của chơn không, thì giờ đây von Guericke và bầy ngựa lại cho thấy chơn không quả có thực. Nhưng ý tưởng về chơn không vẫn có gì đó không ổn, và người ta chỉ chấp nhận có nó một cách miễn cưỡng. Với đủ thông minh chúng ta có thể tự tạo ra một chơn không ngay trên trái đất, nhưng thiên nhiên lại kinh sợ ý tưởng ấy. Các nhà khoa học bèn nghĩ ra cách hoà giải: khoảng không của không gian chứa đầy nguyên tố thứ năm, khí aether, một chất không ma các đặc tính hiện bày, nhưng chắc chắn không phải không có. But as the quantum and cosmological revolutions of the 20th century arrived, scientists never found this aether and continued to turn up empty handed. Nhưng đến thế kỷ 20 khi có cuộc cách mạng về lượng tử và vũ trụ học, các khoa học gia vẫn không hề tìm thấy chất aether, và việc tiếp tục tìm kiếm nó cũng chẳng đi đến đâu. The more we looked, through increasingly powerful telescopes and microscopes, the more we discovered nothing. In the 1920s astronomer Edwin Hubble discovered that the Andromeda nebula was actually the Andromeda galaxy, an island home of billions of stars sitting a staggering 2.5 million light-years away. As far as we could tell, all those lonely light-years were filled with not much at all, just the occasional lost hydrogen atom or wandering photon. Compared to the relatively small size of galaxies themselves (our own Milky Way stretches across for a mere 100,000 light-years), the universe seemed dominated by absence. Càng quan sát tìm kiếm qua các viễn vọng kính và kính hiển vi ngày một tối tân, tinh xảo, chúng ta càng không tìm thấy gì cả. Vào thập niên 1920 nhà thiên văn Edwin Hubble khám phá ra rằng vòm sao Andromeda thực ra là thiên hà Andromeda, một vùng biệt lập (như hòn đảo) gồm hàng tỷ vì sao cách xa trái đất 2 triệu rưỡi năm ánh sáng. Có thể nói giữa khoảng đơn độc của ngần ấy năm ánh sáng gần như không có gì cả, họa chăng thỉnh thoảng có một nguyên tử hydrogen đi lạc lối hay một proton lang thang bất định. Nếu so sánh với kích thước tương đối nhỏ của các thiên hà (dải Ngân hà của chúng ta chỉ trải dài 100.000 năm ánh sáng), thì vũ trụ dường như chỉ có sự vắng mặt ngự trị mà thôi. At subatomic scales, scientists were also discovering atoms to be surprisingly empty places. If you were to rescale a hydrogen atom so that its nucleus was the size of a basketball, the nearest electron would sit around two miles away. With not so much as a lonely subatomic tumbleweed in between. Ở cấp độ nhỏ hơn nguyên tử, các nhà khoa học cũng khám phá thấy chúng trống không một cách đáng ngạc nhiên. Nếu bạn thay đổi kích thước nguyên tử hydrogen để nhân của nó to bằng quả bóng chuyền, thì âm điện tử gần nhất sẽ nằm cách xa hạt nhân khoảng 2 dặm. Khoảng giữa chẳng có gì khác hơn là một vùng vi tế (nhỏ hơn cả nguyên tử) trống không cô quạnh. WILD HORSES COULDN’T DRAG THEM APART: Inventor Otto von Guericke’s original vacuum pump and copper hemispheres are on display in the Deutsches Museum in Munich, Germany. When von Guericke sealed the hemispheres in a vacuum, they couldn’t be separated by teams of horses. Image by Wikimedia Commons. Các chú ngựa hoang không thể kéo tách rời hai bán cầu: Ống bơm hút không khí và hai bán cầu của nhà phát minh Otto von Guericke hiện được trưng bày tại Viện Bảo tàng Đức, thành phố Munich, Đức quốc. Khi von Guericke hàn kín hai bán cầu chứa vùng chơn không, bầy ngựa không thể tách rời hai bán cầu ra được. Image link: https://assets.nautil.us/sites/3/nautilus/7qPwefwg-Sutter_BREAKER.png?auto=compress&fit=scale&fm=png&h=1359&ixlib=php-3.3.1&w=1536&wpsize=1536x1536 Nothing. Absolutely nothing. Continued experiments and observations only served to confirm that at scales both large and small, we appeared to live in an empty world. Không có gì. Hoàn toàn không có gì cả. Các thí nghiệm và quan sát được tiếp tục thực hiện nhưng chỉ khẳng định rằng ở cả cấp độ lớn (vĩ mô) lẫn nhỏ (vi mô), chúng ta dường như sống trong một thế giới trống không. And then that nothingness cracked open. Within the emptiness that dominates the volume of an atom and the volume of the universe, physicists found something. Far from the sedate aether of yore, this something is strong enough to be tearing our universe apart. The void, it turns out, is alive. Và rồi cái không ấy lại vỡ tung ra. Bên trong cái không vốn ngự trị cả thể tích hạt nguyên tử và cả thể tích vũ trụ, các nhà vật lý lại tìm ra có một cái gì đó. Khác hẳn chất aether tẻ nhạt người xưa nghĩ ra, cái gì ấy lại mạnh mẽ đủ để xé toang vũ trụ. Hóa ra chơn không thật sinh động. In December 2022, an international team of astronomers released the results of their latest survey of galaxies, and their work has confirmed that the vacuum of spacetime is wreaking havoc across the cosmos. They found that matter makes up only a minority contribution to the energy budget of the universe. Instead, most of the energy within the cosmos is contained in the vacuum, and that energy is dominating the future evolution of the universe. Tháng 12 năm 2022 một nhóm các nhà thiên văn học quốc tế công bố kết quả thăm dò các thiên hà mới đây nhất của họ, và công trình này khẳng định rằng chơn không bốn chiều hiện đang hoành hành khắp vũ trụ. Họ khám phá thấy vật chất chỉ góp một phần nhỏ vào quỹ năng lượng của vũ trụ. Thay vào đó, phần lớn năng lượng trong vũ trụ nằm trong chơn không, và chính năng lượng ấy điều động sự tiến hóa của vũ trụ trong tương lai. [In physics, spacetime is a mathematical model that combines the three dimensions of space and one dimension of time into a single four-dimensional manifold. Spacetime diagrams can be used to visualize relativistic effects, such as why different observers perceive differently where and when events occur. Until the 20th century, it was assumed that the three-dimensional geometry of the universe (its spatial expression in terms of coordinates, distances, and directions) was independent of one-dimensional time. The physicist Albert Einstein helped develop the idea of spacetime as part of his theory of relativity. Trong vật lý, không-thời gian bốn chiều/spacetime là một mô hình toán học kết hợp ba chiều không gian và một chiều thời gian thành một điểm tập hợp/collection duy nhất gồm có bốn chiều. Các mô hình spacetimecó thể được dùng để hình dung các hiệu ứng tương đối, chẳng hạn việc những người quan sát khác nhau nhận thức khác nhau về nơi chốn và khi nào các sự kiện xảy ra. Mãi đến thế kỷ 20 người ta vẫn còn giả định rằng vũ trụ theo kiểu hình học ba chiều (diễn tả bằng tọa độ, khoảng cách và phương hướng) độc lập với thời gian một chiều. Nhà vật lý Albert Einstein giúp phát triển ý tưởng về điểm không-thời gian bốn chiều/spacetime, trong thuyết tương đối của ông. https://en.wikipedia.org/wiki/Spacetime] Their work is the latest in a string of discoveries stretching back over two decades. In the late 1990s, two independent teams of astronomers discovered that the expansion of the universe is accelerating, meaning that our universe grows larger and larger faster and faster every day. The exact present-day expansion rate is still a matter of some debate among cosmologists, but the reality is clear: Something is making the universe blow up. It appears as a repulsive gravitational force, and we’ve named it dark energy. Công trình này của các nhà thiên văn là công trình mới nhất trong chuỗi các khám phá trải dài qua hai thập niên. Cuối những năm 1990, hai nhóm nghiên cứu thiên văn học độc lập nhau đã cùng khám phá ra rằng vũ trụ đang tăng tốc giãn nở, nghĩa là vũ trụ của chúng ta đang ngày càng phình to ra với tốc độ mỗi ngày một nhanh hơn. Mức bành trướng của nó hiện giờ chính xác là bao nhiêu vẫn còn đang được các nhà vũ trụ học bàn cãi, nhưng thực tế cho ta thấy rõ: Có một cái gì đó đang làm vũ trụ nổ tung. Dường như đó là lực đẩy lùi lực hấp dẫn, và chúng ta gọi đó là năng lượng tối. [What causes a repulsive gravitational force? It is shown that reduction of the gravitational mass of the system due to emitting gravitational waves leads to a repulsive gravitational force that diminishes with time but never disappears. This repulsive force may be related to the observed expansion of the Universe. https://phys.org/news/2012-01-repulsive-gravity-alternative-dark-energy.html Người ta thấy rằng việc giảm đi khối vật chất có sức hút/lực hấp dẫn trong hệ thống do các sóng hấp dẫn được lan tỏa ra đưa đến lực đẩy lùi lực hấp dẫn. Lực này giảm dần theo thời gian nhưng nó không hề biến mất. Lực đẩy lùi này có thể có liên quan đến sự bành trướng của vũ trụ mà ta quan sát thấy] The trick here is that the vacuum, first demonstrated by von Guericke all those centuries ago, is not as empty as it seems. If you were to take a box (or, following von Guericke’s example, two hemispheres), and remove everything from it, including all the particles, all the light, all the everything, you would not be left with, strictly speaking, nothing. What you’d be left with is the vacuum of spacetime itself, which we’ve learned is an entity in its own right. Điểm cắc cớ ở đây là chơn không, lần đầu tiên do von Guericke minh chứng trước đây nhiều thế kỷ, nhìn tưởng thế nhưng lại không hề trống không. Nếu bạn lấy một cái hộp (hoặc lấy hai bán cầu, theo kiểu thí dụ của von Guericke), và lấy hết mọi thứ bên trong ra, gồm tất cả các hạt, tất cả ánh sáng, mọi thứ có thể có trong ấy, thì trong chơn không ấy vẫn không phải không còn gì cho bạn. Cái bạn còn chính là vùng chơn không bốn chiều không-thời gian/spacetime, mà chúng ta biết nó là một thực thể có thực. Nothing contains all things. It is more precious than gold. Cái không chứa đựng tất cả. Nó còn quý hơn vàng. We live in a quantum universe; a universe where you can never be quite sure about anything. At the tiniest of scales, subatomic particles fizz and pop into existence, briefly experiencing the world of the living before returning back from where they came, disappearing from reality before they have a chance to meaningfully interact with anything else. Chúng ta đang sống trong một vũ trụ lượng tử — ở đấy bạn không bao giờ có thể khẳng định chắc chắn về một điều gì. Ở mức độ siêu vi tế, các hạt nhỏ hơn cả nguyên tử sủi bọt và xuất hiện, trải nghiệm trong một sát na ngắn ngủi thế giới của sự sống trước khi quay trở lại chỗ chúng xuất phát, rồi biến mất khỏi thực tại trước khi chúng có dịp tương tác với bất cứ cái gì khác một cách đáng kể. This phenomenon has various names: the quantum foam, the spacetime foam, vacuum fluctuations. This foam represents a fundamental energy to the vacuum of spacetime itself, a bare ground level on which all other physical interactions take place. In the language of quantum field theory, the offspring of the marriage of quantum mechanics and special relativity, quantum fields representing every kind of particle soak the vacuum of spacetime like crusty bread dipped in oil and vinegar. Those fields can’t help but vibrate at a fundamental, quantum level. In this view, the vacuum is singing to us, a harmony underlying reality itself. Hiện tượng này có nhiều tên gọi: bọt lương tử, bọt không-thời gian, dao động chơn không. Bọt này đại diện cho một thứ năng lượng căn bản trong khoảng chơn không bốn chiều không-thời gian, một cấp độ nền tảng gốc cho mọi tương tác vật lý khác xảy ra. Nói theo ngôn ngữ lý thuyết về trường lượng tử, là con đẻ từ cuộc phối ngẫu giữa cơ học lượng tử và thuyết tương đối đặc biệt, các trường lượng tử là chỗ biểu hiện của mọi loại hạt và chúng hút chơn không bốn chiều giống như miếng bánh mì nhúng vào dầu giấm. Các trường này không thể không rung động ở cấp độ lượng tử căn bản. Nhìn theo cách này thì chơn không đang hát cho chúng ta nghe, một cung điệu hài hòa tiềm tàng chính nơi thực tại. [Quantum fields are the quantum theoretical generalizations of classical fields. The two archetypal classical fields are Maxwell’s electromagnetic field and Einstein’s metric field of gravitation. Các trường lượng tử là các trường cổ điển được khái quát hoá theo lý thuyết lượng tử. Hai trường cổ điển tiêu biểu là trường điện từ Maxwell và trường lực hấp dẫn Einstein.] In our most advanced quantum theories, we can calculate the energy contained in the vacuum, and it’s infinite. As in, suffusing every cubic centimeter of space and time is an infinite amount of energy, the combined efforts of all those countless but effervescent particles. This isn’t necessarily a problem for the physics that we’re used to, because all the interactions of everyday experience sit “on top of” (for lack of a better term) that infinite tower of energy—it just makes the math a real pain to work with. Theo các lý thuyết lượng tử cao cấp nhất, chúng ta có thể tính được năng lượng chứa trong vùng chơn không, và năng lượng này vô tận. Giống như, khi một lượng năng lượng vô tận lan tràn khắp từng centimet khối trong khoảng không gian và thời gian, đó là những khả năng hợp lại của tất cả số các hạt vô định đang sôi bọt. Đây không nhất thiết là vấn đề đặt ra cho ngành vật lý mà chúng ta vốn quen thuộc, vì mọi tương tác được trải nghiệm hàng ngày đều xảy ra trên “đỉnh” (không thể có từ ngữ nào hay hơn) tháp năng lượng vô tận này – chỉ có điều phép giải về bài toán này là cực kỳ khó. All this would be mathematically annoying but otherwise unremarkable except for the fact that in Einstein’s general theory of relativity, vacuum energy has the curious ability to generate a repulsive gravitational force. We typically never notice such effects because the vacuum energy is swamped by all the normal mass within it (in von Guericke’s case, the atmospheric pressure surrounding his hemispheres was the dominant force at play). But at the largest scales there’s so much raw nothingness to the universe that these effects become manifest as an accelerated expansion. Recent research suggests that around 5 billion years ago, the matter in the universe diluted to the point that dark energy could come to the fore. Today, it represents roughly 70 percent of the entire energy budget of the cosmos. Studies have shown that dark energy is presently in the act of ripping apart the large-scale structure of the universe, tearing apart superclusters of galaxies and disentangling the cosmic web before our eyes. Tất cả điều này có thể khiến ta khó chịu về mặt toán học (khi phải lý giải bằng toán) nhưng, mặt khác, nó lại chẳng có gì độc đáo ngoại trừ sự kiện là, theo thuyết tương đối tổng quát của Einstein, năng lượng chơn không lại có khả năng kỳ lạ là nó phát ra một lực hấp dẫn đẩy lùi. Thường chúng ta không bao giờ ghi nhận những hiệu ứng như thế vì năng lượng chơn không ngập đầy tất cả khối vật chất bình thường nằm bên trong nó (trong trường hợp von Guericke, áp suất không khí chung quanh hai bán cầu là lực chủ đạo đang hiện hành). Nhưng ở các cấp độ lớn nhất, cái không nguyên tuyền có mặt khắp cả vũ trụ nhiều đến nỗi những hiệu ứng này trở thành biểu hiện theo kiểu bành trướng gia tốc. Nghiên cứu mới đây cho thấy cách đây khoảng 5 tỷ năm, vật chất trong vũ trụ loãng yếu đến độ năng lượng tối có thể hiển lộ. Ngày nay năng lượng tối chiếm khoảng 70% toàn bộ quỹ năng lượng của vũ trụ. Các nghiên cứu cho thấy năng lượng tối hiện giờ đang mặc sức tung hoành phá vỡ cấu trúc vĩ mô của vũ trụ, xé bung các chùm thiên hà to lớn và tháo tung mạng vũ trụ trước mắt của chúng ta. [Supercluster, a group of galaxy clusters typically consisting of 3 to 10 clusters and spanning as many as 200,000,000 light-years. They are the largest structures in the universe. Siêu chùm là một nhóm thiên hà, thường gồm từ 3 đến 10 chùm, trải ra có thể nhiều đến 200,000,000 năm ánh sáng. Chúng là những cấu trúc lớn nhất trong vũ trụ.] But the acceleration isn’t all that rapid. When we calculate how much vacuum energy is needed to create the dark energy effect, we only get a small number. Nhưng mức tăng tốc cũng không chỉ quá nhanh. Khi chúng ta tính toán cần bao nhiêu năng lượng chơn không để tạo ra hiệu ứng năng lượng tối, chúng ta chỉ đạt được một con số nhỏ. But our quantum understanding of vacuum energy says it should be infinite, or at least incredibly large. Definitely not small. This discrepancy between the theoretical energy of the vacuum and the observed value is one of the greatest mysteries in modern physics. And it leads to the question about what else might be lurking in the vast nothingness of our atoms and our universe. Perhaps von Guericke was right all along. “Nothing contains all things,” he wrote. “It is more precious than gold, without beginning and end, more joyous than the perception of bountiful light, more noble than the blood of kings, comparable to the heavens, higher than the stars, more powerful than a stroke of lightening, perfect and blessed in every way.” Nhưng với sự hiểu biết lượng tử về năng lượng chơn không của chúng ta thì năng lượng ấy vô tận, hoặc, chí ít, nó cực kỳ lớn. Chắc chắn nó không hề nhỏ. Sự sai biệt này giữa năng lượng chơn không theo lý thuyết và trị số của nó theo quan sát là một trong những điều bí ẩn nhất của vật lý hiện đại. Và nó dẫn đến câu hỏi về còn có cái gì khác có thể đang ẩn khuất trong cái không to lớn nằm trong các hạt nguyên tử và trong vũ trụ của chúng ta. Có lẽ ngay từ đầu von Guericke đã nói đúng. Ông viết: “Cái không hàm chứa tất cả. Nó còn quý hơn vàng, không có bắt đầu hay kết thúc, rộn ràng hơn cả ánh sáng ngập tràn mà chúng ta nhận thức được, nó thượng đẳng hơn dòng dõi vua chúa, có thể ví nó như trời, nó cao hơn các vì sao, mạnh mẽ hơn cả sét trời đánh, nó toàn hảo đủ đầy phước báu muôn mặt.” Nguồn: https://nautil.us/the-remarkable-emptiness-of-existence-256323/?utm_source=pocket-newtab Chú Thích: *Paul M. Sutter is a research professor in astrophysics at the Institute for Advanced Computational Science at Stony Brook University and a guest researcher at the Flatiron Institute in New York City. He is the author of Your Place in the Universe: Understanding Our Big, Messy Existence. Paul M. Sutter là giáo sư nghiên cứu ngành vật lý thiên văn tại Viện Khoa Học Vi Tính Cao Cấp của Đại học Stony Brook và ông cũng tham gia nghiên cứu tại Viện Flatiron ở thành phố New York. Ông là tác giả quyển Chỗ Của Bạn Trong Vũ Trụ: Tìm Hiểu Sự Hiện Hữu To Lớn, Hỗn Độn Của Chúng Ta. [A guest researcher is a scientist, engineer, and/or student who are permitted to engage in scientific studies and investigations. Khách mời nghiên cứu là một nhà khoa học, một kỹ sư, hoặc là một sinh viên được cho phép tham gia vào các công trình tìm tòi nghiên cứu.] Các liên kết khác để tham khảo: https://en.wikipedia.org/wiki/Flatiron_Institute https://en.wikipedia.org/wiki/Simons_Foundation] https://bigthink.com/13-8/quantum-uncertainty-language/#Echobox=1672852652-1?utm_source=pocket-newtab

Tuesday, September 2, 2025

Trần Mộng Tú, Thi Sĩ Việt Nam Đầu Tiên Vào Sách Giáo Khoa Trung Học Mỹ

Trần Mộng Tú, Thi Sĩ Việt Nam Đầu Tiên Vào Sách Giáo Khoa Trung Học Mỹ Nếu quý vị mở cuốn sách giáo khoa dạy văn chương “Glencoe Literature” do nhà xuất bản McGraw Hill ấn hành, quý vị sẽ thấy một bài thơ của một thi sĩ Việt Nam dịch sang tiếng Anh đi song song với bài diễn văn nổi tiếng của Tổng Thống Abraham Lincoln trong thời Nội chiến Mỹ, tại bãi chiến trường Gettysburg. Đó là bài thơ của Trần Mộng Tú, The Gift in Wartime, nhan đề tiếng Việt là “Quà Tặng Trong Chiến Tranh.” Hai tác phẩm trên được đem ra để dạy học sinh môn văn chương Hoa Kỳ. Trong phần thứ ba của cuốn sách giáo khoa, viết về văn chương thời kỳ nội chiến Nam Bắc ở Mỹ và sau cuộc nội chiến, các nhà soạn sách giáo khoa của công ty Glencoe - McGraw Hill, rất thông dụng trong các trường trung học ở Mỹ đã có sáng kiến đem bài thơ Trần Mộng Tú, qua bản dịch Anh ngữ cho học sinh nghiên cứu song song với bài diễn văn trầm hùng của Abraham Lincoln, so sánh cách dùng chữ, cách chọn hình ảnh, những ý tưởng trong mỗi bài của hai tác giả. Đây là một kinh nghiệm văn chương quý báu mà các học sinh Mỹ được hưởng khi tiếp xúc với một thi sĩ ngoại quốc để thấy hậu quả của chiến tranh trên tâm hồn một phụ nữ Việt Nam cũng mang những tính chất nhân bản và sâu sắc không khác gì vị Tổng Thống mà tất cả mọi người Mỹ đều quen thuộc. Có lẽ sau này học sinh Việt Nam khi học về văn chương thời nội chiến Nam Bắc ở thế kỷ 20 cũng sẽ có cơ hội nghiên cứu bài thơ của Trần Mộng Tú Bài thơ “Quà Tặng Trong Chiến Tranh” được viết ở Việt Nam, khi thi sĩ còn rất trẻ, từ những xúc động trước cái chết của một chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, người yêu đầu của cô, sau đó đã được đăng trên các tạp chí khắp nơi ở hải ngoại. Bài diễn văn do Tổng Thống Lincoln đọc ngày 19 tháng 11 năm 1863 trong dịp khánh thành một nghĩa trang cho các tử sĩ tại chiến trường Gettysburg, tiểu bang Pennsylvania. Trước ông, một chính trị gia và nhà hùng biện nổi tiếng đã nói suốt 2 giờ; đến lượt Lincoln ông chỉ nói trong vòng 2 phút. Sau buổi lễ, các nhà báo tường thuật không ai nhắc đến những lời Lincoln nói, nhưng dần dần dân tộc Mỹ đã nhận ra đó là một tác phẩm văn chương bất hủ, xuất phát từ tấm lòng của một nhà lãnh đạo vốn rất ghét chiến tranh nhưng phải dẫn đầu nước Mỹ trong một cuộc chiến bất đắc dĩ và đã thành công trong việc bảo vệ một quốc gia thống nhất với những lý tưởng tự do, bình đẳng.. Câu nói được cả thế giới ngày nay nhắc lại nhiều lần kết thúc bài diễn văn ca ngợi các chiến sĩ đã hy sinh để một “chính phủ của dân, do dân, và vì dân sẽ không bị hủy diệt trên trái đất.” Cuốn sách giáo khoa tiếp theo đã giới thiệu thi sĩ Trần Mộng Tú, sinh ở tỉnh Hà Đông,Việt Nam, người phụ nữ có kinh nghiệm chính mình sống với những hậu quả của cuộc chiến tranh trong đó hai triệu người Việt Nam thiệt mạng cũng như 57,000 người Mỹ. Sau khi đọc bài thơ Trần Mộng Tú, học sinh được hướng dẫn với những câu hỏi để khám phá những cảm xúc mà tác giả gợi cho người đọc cũng như tìm hiểu nội dung bài thơ. Cuốn sách giáo khoa cũng gợi ý cho học sinh tìm hiểu về kỹ thuật, học sinh tự hỏi tại sao thi sĩ đã dùng các điệp ngữ và nhắc lại các hình ảnh để gây ấn tượng nợi người đọc. Sau đó, các học sinh được mời so sánh hai áng văn chương cùng viết trong thời nội chiến ở hai quốc gia, hai thế kỷ khác nhau. Abraham Lincoln đọc bài diễn văn của ông trước một đám đông, và ông nhắm vào công chúng. Còn Trần Mộng Tú viết một mình, cho mình. Nhưng học sinh có thể tìm thấy những mục đích và cảm xúc giống nhau trong hai tác phẩm ngắn này. Học sinh cũng được dịp tìm hiểu khai phá sự khác biệt giữa hai nền văn hóa của hai tác giả, và thử hỏi một người Mỹ thời nay nếu viết về chiến tranh thì sẽ viết giống tác phẩm nào. Để quý vị thông cảm với tác giả Trần Mộng Tú, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn 2 bài thơ của thi sĩ bằng tiếng Việt dưới đây.. Bài Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trong American Literature textbook) và bài Giấc Mơ Hòa Bình (Trong Vision of War, Dream of Peace). Quà Tặng Trong Chiến Tranh Em tặng anh hoa hồng Chôn trong lòng huyệt mới Em tặng anh áo cưới Phủ trên nấm mồ xanh Anh tặng em bội tinh Kèm với ngôi sao bạc Chiếc hoa mai màu vàng Chưa đeo còn sáng bóng Em tặng anh tuổi ngọc Của những ngày yêu nhau Đã chết ngay từ lúc Em nhận được tin sầu Anh tặng em mùi máu Trên áo trận sa trường Máu anh và máu địch Xin em cùng xót thương Em tặng anh mây vương Mắt em ngày tháng hạ Em tặng anh đông giá Giữa tuổi xuân cuộc đời Anh tặng môi không cười Anh tặng tay không nắm Anh tặng mắt không nhìn Một hình hài bất động Anh muôn vàn tạ lỗi Xin hẹn em kiếp sau Mảnh đạn này em giữ Làm di vật tìm nhau. Tháng 7/ 1969 Giấc Mơ Hòa Bình Em nghe nói hòa bình Trên những tờ nhật báo Em nghe nói hòa bình Trên miệng người lãnh đạo Em để lòng khờ khạo Ôm giấc mơ hòa bình Mong chiến tranh chấm dứt Anh giã từ đao binh Tin về từ trận tuyến Anh chết giữa chiến trường Ôi giấc mơ khờ khạo Chỉ còn là đau thương Từ khi em ra đời Từ khi có trí khôn Em thấy toàn chém giết Em thấy toàn máu xương Từ khi em biết nghe Từ khi em biết nói Toàn những lời giả dối Toàn những lời hứa suông Từ khi em biết yêu Từ khi em biết nhớ Anh đã dặn đợi chờ Rồi anh không về nữa Ôi giấc mơ khờ khạo Ôi giấc mơ hòa bình Xây giữa lòng tham bạo Chết trước khi thành hình Ôi lòng non bé nhỏ Như giấy trắng thơm tho Vết mực đen loang lổ Làm hoen ố hồn thơ Em đã biết giận thù Biết cuộc đời dối trá Trang nhất nói hòa bình Trang tư toàn cáo phó Em không còn bồng bột Tin những lời đầu môi Em bắt đầu tỉnh ngộ Thì đã mất anh rồi Ôi giấc mơ hòa bình Anh trả bằng sự sống Em trả bằng tủi hờn Bằng một đời đơn độc Tháng 7/1969 Tiểu sử Trần Mộng Tú sinh năm 1943 tại tỉnh Hà Đông, miền Bắc Việt Nam, di cư vào Nam năm 1954. Bà sang Mỹ tháng 4 năm 1975. Trước đó, bà là thư ký cho hãng Thông Tấn Associated Press ở Sài Gòn giai đoạn 1968-1975. Bà thường xuyên cộng tác với các tạp chí văn học ở Mỹ và các nước khác. Công việc của bà là viết truyện nhi đồng cho báo Los Angeles Times từ năm 2000 và làm thơ Anh Ngữ trong sách giáo khoa Mỹ cho chương trình trung học (American Literature- Glencoe-1999). Bà đoạt giải về bình luận (Commentary) của The New California Media (NCM) "Ethnic Pulitzers" năm 2003. Bà cũng là chủ Bút cho Nguyệt San Phụ Nữ Gia đình Người Việt ở California (tháng 10 năm 2002 đến tháng 10 năm 2005). Trần Mộng Tú là nhà thơ có nhiều tác phẩm được phổ nhạc. Trong số đó có Gọi Anh Mùa Xuân với nhạc sĩ Anh Bằng, bài Kiếp Sau và Chia Tay với nhạc sĩ Nhật Ngân, Quán Lạ với nhạc sĩ, thi sĩ Hoàng Quốc Bảo.

Monday, September 1, 2025

The Real Science Behind Sun Protection

From when exactly to use sunscreen to whether beach umbrellas really work, this is what scientific research tells us about staying safe in the Sun. During the hot, sticky days of summer, sunscreen is an important accessory for most of us when going outside. But there are also a surprising number of myths about it. These are often perpetuated by wellness influencers offering their own sunscreen "alternatives", but some are shared by more authoritative sources, while others seem to have just crept into common acceptance. So what does the skin protection factor (SPF) really mean in terms of protection? Does ultraviolet A (UVA) alone cause ageing? And do sunscreens really require 20 minutes after applying before they "activate"? Here's what the research and leading experts say we really need to know. 1. No, SPF 50 does not mean you can be in the Sun for 50 times longer than if you weren't wearing sunscreen The higher the SPF rating, the more protection provided. But the number indicates a different value than many people think. "SPF does not tell you how long you can be in the Sun without getting sunburn," the US Food and Drug Administration (FDA) notes. "SPF does not mean that if you normally burn in one hour and you apply an SPF eight sunscreen, it will take eight hours for you to burn." Instead, it's a ratio: the amount of ultraviolet (UV) radiation that would cause the skin to burn with sunscreen, divided by the amount of UV radiation that would cause the skin to burn without sunscreen. This generally works out as the percentage of sunburn-causing radiation that's still transmitted: a sunscreen with a rating of SPF 25, for example, allows in one-twenty-fifth of sunburning rays, or 4%, while SPF 50 allows in one-fiftieth, or 2%. In other words, a SPF 25 blocks 96% of UV radiation and a SPF 50 blocks 98%. It's important to note that this is calculated by laboratory tests, where sunscreen is applied at an amount much higher (2mg/cm2 of skin) than most people apply, so most of us are getting more UV exposure than these numbers indicate. Either way, sunscreen needs to be reapplied regularly throughout the day (at least every two hours, as well as after swimming or sweating) for it to work. For the best protection, look for both a high SPF rating as well a sunscreen that offers "broad spectrum" protection. In the UK, the UVA star rating, which indicates a sunscreen's effectiveness against long-wave UVA rays, where five is the highest level of protection. Getty Images Sunscreen doesn't have to be visible on the skin in order for it to work – but you do need to ensure you have applied it evenly (Credit: Getty Images)Getty Images Sunscreen doesn't have to be visible on the skin in order for it to work – but you do need to ensure you have applied it evenly (Credit: Getty Images) 2. UVA doesn't just cause ageing and UVB sunburn – they can both cause cancer The spectrum of UV light can be broken down into smaller bands of different wavelengths. UVA has a longer wavelength that can penetrate the skin more deeply, while UVB waves are slightly shorter and only penetrate the outer layers of the skin. However, this doesn't mean that UVB doesn't cause deeper damage. It was long thought that UVB was the main cause of skin cancer, but in recent decades research has indicated that damage caused by UVA may also lie behind the development of skin cancers. This has led to sunscreen formulations that block both types of UV radiation. When either form of UV hits the skin, the skin's cells respond by releasing mediators like cytokines – which cause inflammation deeper down, contributing to long-term damage, ageing and cancer risk, says Antony Young, professor emeritus of experimental photobiology at King's College London and a lifelong researcher of sunscreen efficacy. Both UVB and UVA also contribute to ageing and to tanning, says Mary Sommerlad, a consultant dermatologist based in London and a spokesperson for the British Skin Foundation, a UK health charity. In fact, she says, if she has a patient with a condition like melasma, where there are darker patches of skin, she tells them they need to protect themselves from the broad UV spectrum – UVA included – because UVA will "drive the darkening of the skin", she says. 3. Yes, you can get burnt on a cloudy day Many of us skip the hat and sunscreen when we see cloud cover. But that may be a bad idea. This is because, while clouds do scatter radiation from the Sun, the impact on surface-level UV radiation levels can vary hugely. Very thick clouds can attenuate around 99% of the UV radiation that reaches the Earth's surface, but thinner cloud cover or scattered clouds might have no effect at all. Some types of cloud formations can mean that even more UV radiation reaches the ground in some spots than on a clear day. Getty Images Seeking out shade is a great way of reducing your exposure to UV but it doesn't mean you won't need sunscreen too (Credit: Getty Images)Getty Images Seeking out shade is a great way of reducing your exposure to UV but it doesn't mean you won't need sunscreen too (Credit: Getty Images) 4. Not all shade is created equal. When it comes to understanding Sun protection, what matters most is the UV index – a measure of the level of UV radiation that public health organisations recommend people use, much like the temperature, to help plan their days (and clothing). When the UV index is three or greater, public health organisations suggest wearing a hat, protective clothing and sunscreen – and seeking out shade. But what kind of shade is important, experts warn. Take the ubiquitous beach umbrella. Because it's likely a couple of meters above your head, "your skin is exposed to virtually the whole of the open sky around you", says Brian Diffey, emeritus professor of photobiology in dermatological sciences at the University of Newcastle in the UK and inventor of sunscreen's UVA star rating. "You're getting a sun protection factor equivalent of about five." One trial, for example, found that while 25% of people using sunscreen got sunburn, 78% of people using just a beach umbrella did. Other types of shade that have been found to offer little protection include the roof of a veranda (if it still gets afternoon sun) or a grandstand. Leafy trees may offer more protection – a dense-canopy oak, for example, may offer the equivalent of up to SPF 20. Still, many types of trees may only provide a SPF of about five or lower. Generally speaking, the more sky is covered by an overhang, or the denser the canopy and the more trees clustered together, the greater the protection. UV radiation also can be reflected off surfaces like glass, sand, concrete and water – so it's important to watch out for sneaky reflected UV, too. 5. You may not need to apply SPF year-round (but it depends on where you are and what you're doing) In general, even for fair-skinned people who are sensitive to the Sun, the risk of UV damage when the UV index is two or below is limited and extra protective measures aren't needed, according to the World Health Organization. That means that, in some parts of the world, most people won't need to use sunscreen all year. In the UK, for example, the UV index is less than three from about mid-October to mid-March, says Diffey. For people who spend most of the day indoors, an entire winter's day exposes them to the UV equivalent of less than one minute of what they'd get sunbathing at the height of summer. "If you're in the office and it's gloomy and it's raining and it's December – it's nonsense," Diffey says about using sunscreen in the winter. "You're doing something which is of no benefit to you." Of course, context matters: studies have found that in some cases, snow cover can increase sunburn-causing UV by more than 60%. So, if it's the winter but you're out, say, skiing all day, it's important to protect exposed skin from the Sun. There's another caveat, too, points out Sommerlad: the UV index can change quite quickly. "If you're out and the cloud suddenly lifts and you're not protected, you can burn," she says. In other words, you're likely less safe relying on the UV index to forego additional protection on, say, a summer day than during a time period when the UV index is consistently low – such in the middle of winter. Getty Images An umbrella only offers slight protection from UV radiation (Credit: Getty Images)Getty Images An umbrella only offers slight protection from UV radiation (Credit: Getty Images) 6. It's untrue that mineral sunscreens only work if you can see them While mineral-based sunscreens do have a white cast, because they reflect a portion of the visible light spectrum, that's not indicative of their effectiveness in protecting the skin from UVA or UVB – the only UVR spectrums at the Earth's surface, and those that cause skin damage and cancer. And because mineral sunscreens work primarily by absorbing UV radiation – reflecting or scattering only 5% of UV rays – there's no reason they'd have to appear "reflective" in order to work. (Read more about the differences between mineral and chemical sunscreens.) 7. No, regular sunscreen use (probably) will not make you vitamin D-deficient While it's true that our bodies synthesise the hormone called vitamin D3 through exposure to UVB from sunlight, that doesn't mean using sunscreen is likely to make much of a difference. Few of us coat our entire bodies in sufficient quantities of sunscreen, regularly enough, to get even the full level of protection indicated on the bottle by the SPF rating – meaning most of us are getting more UV exposure than we think. More like this: • Are you using sunscreen correctly? • Why childhood sunburns are so dangerous • What heatwaves do to our brains For people with lighter skin, when lying in the Sun on a clear, summer day it often takes only a few minutes of exposure (depending on factors like UV index and quantity of skin exposed) for vitamin D3 synthesis to not only kick in, but to reach its maximal level. However, in other contexts, such as walking around an urban environment, fully clothed, it might be closer to an hour. Regardless, after that level is reached, it's not a case of "more exposure, more vitamin D". Instead, DNA damage increases – but vitamin D3 stores remain the same. This is probably why past research has found that sunscreen users are no more likely to be vitamin D-deficient than non-sunscreen users – although, Diffey notes, much of this research has taken place in sunny countries with relatively low SPFs. Getty Images If seeking to escape the Sun's glare under a tree, then look for one that is as leafy as possible (Credit: Getty Images)Getty Images If seeking to escape the Sun's glare under a tree, then look for one that is as leafy as possible (Credit: Getty Images) 8. Sunscreen doesn't take 20 minutes to 'activate' Most sunscreen labels say sunscreen should be applied 15-20 minutes before exposure. But that doesn't mean sunscreen is ineffective during the wait. In fact, studies have shown that sunscreens can be effective immediately, something many manufacturers also say. Instead, 15-20 minutes gives the formulation enough time to dry into a consistent, protective "film" that's harder to smear, or to sweat or wash off, notes Michelle Wong, chemist and author of the book The Science of Beauty, who frequently tackles sunscreen myths online. Fifteen minutes may actually be a conservative estimate for how much time that takes, with one small study finding that the sunscreen tested created this film after just eight minutes. Still, following the manufacturer's instructions is always better. 9. It is untrue that people with darker skin don't need to worry about UV radiation The melanin in darker-toned skin provides some natural protection from UV, which is why melanoma incidence tends to be much less in black populations than fair-skinned ones. However, people with darker skin tones can still get both sunburns and skin cancer, and Sun exposure can cause them to develop hyperpigmentation disorders like melasma – which is part of why dermatologists like Sommerlad recommend that people with all skin tones use sun protection. Getty Images People with higher levels of melanin in their skin have some natural protection from UV, but they can still get sunburns and skin cancer (Credit: Getty Images)Getty Images People with higher levels of melanin in their skin have some natural protection from UV, but they can still get sunburns and skin cancer (Credit: Getty Images) 10. No, sunscreen is not causing skin cancer rates to go up Rates of melanoma are on the rise among light-skinned people in countries like the US, UK and Australia, but that doesn't mean that sunscreen is the cause. For one, cancers of all kinds are more likely among older populations and populations in these countries are ageing. We also know that the more frequently someone sunburns or uses tanning beds, the greater their risk of skin cancer – and both sunbathing and tanning have been particularly popular over the last few decades. One study of skin cancers in Australia found that around two-thirds of melanomas and "essentially all" basal and squamous cell carcinomas result specifically from UV exposure, while a study on all patients diagnosed with melanoma in Sweden between 1960 and 2004 found that melanomas were most likely to be on the torso and limbs for people under 70 – indicating that UV exposure was a main cause. "If you're health conscious and want to protect your longevity and your health, then protecting yourself from sunburns is one of the best things you can do," says Sommerlad. But there is one roundabout way in which sunscreen might have led to an increase in skin cancer, experts note: it can make us feel invincible. "When people put on a sunscreen, they think they've got this invisible barrier against the Sun on themselves, and they tend to change their behaviour and spend more time in the Sun," says Diffey. "But I don't believe that sunscreens per se are carcinogenic."