Saturday, October 16, 2021

Cần chăm sóc trẻ em

13/10/2021 • Ngô Nhân Dụng Năm 1975 qua Canada tị nạn, tôi sống ở một khu toàn những người lao động nghèo. Nhưng khi ra đường thấy trẻ em đứa nào cũng mập mạp, mặc quần áo lành lặn, màu sắc đẹp đẽ, em nào cũng đi giầy, đi “bốt” vào mùa Đông. Chúng tôi kết luận: Ở xứ này cũng có người nghèo nhưng không có trẻ em nghèo! Sau khi tìm được việc làm rồi, đến cuối tháng tôi lại ngạc nhiên thấy một ngân phiếu của bộ Tài chánh gửi cho, gọi là “tiền cho trẻ nhỏ.” Hỏi ra mới biết gia đình nào có con em dưới 18 hay 16 tuổi đều được tặng món tiền hàng tháng, giúp nuôi trẻ em. Số tiền không lớn, tôi không nhớ ba cháu nhỏ được tặng bao nhiêu, nhưng đối với một người lãnh lương tối thiểu $3 đô la một giờ thì thêm đồng nào cũng quý. Tôi không biết nước Canada đã tặng như thế từ năm nào; nhưng đó đúng là một chính sách văn minh, tiến bộ, và khôn ngoan. Lo cho sức khỏe và giáo dục trẻ em là cách đầu tư chắc chắn nhất vào tương lai. Bây giờ tôi lại thêm một ngạc nhiên nữa sau vài chục năm sống ở Mỹ. Các đại biểu quốc hội Mỹ sắp bàn coi có nên tặng một món tiền cho các gia đình nuôi trẻ nhỏ hay không; và nên tặng bao nhiêu. Trong số các quốc gia giàu nhất thế giới, nước Mỹ chi phí ít nhất cho việc trông nom trẻ em. Theo nhà bình luận Greg Ip trên nhật báo The Wall Street Journal ngày 29 tháng 9, nước Mỹ có “Tỷ số Trẻ Em Nghèo” (child-poverty rates) cao nhất trong số 38 nước thuộc Tổ chức Cộng tác và Phát triển (OECD). Mỹ chi tiêu 1% Tổng Sản Lượng Nội Địa (GDP) cho các gia đình nuôi trẻ nhỏ, đứng hàng thứ 36! Ít người Mỹ gửi con cho nhà giữ trẻ; nếu gửi thì cha mẹ trả tiền, khoảng $1,100 đô la mỗi tháng nếu có chỗ. Trong việc trông nom trẻ em từ 2 tuổi trở xuống, ký giả Claire Cain Miller trên báo The New York Times ngày 6 tháng Mười cho biết Mỹ chi tiêu khoảng 0.2% GDP dưới hình thức miễn thuế cho cha mẹ hàng năm. Các nước khác trong OECD chi gấp ba lần rưỡi, 0.7% GDP Chính phủ Mỹ chi tiêu cho trẻ em trước tuổi học mẫu giáo khoảng $2,600 đô la, bằng một nửa số chi trung bình của các nước OECD. Ở Đan Mạch, trẻ em 2 tuổi được gửi nhà giữ trẻ cho đến năm 10 tuổi, phụ huynh chỉ trả một phần tư. Nếu giữ con ở nhà, chính phủ sẽ trả tiền cho người đến trông nom. Trung bình chính phủ Đan Mạch chi mỗi năm $23,140 mỹ kim cho một đứa trẻ. Trẻ em ở Berlin và Hamburg được gửi miễn phí trước khi lên tiểu học, nhưng nhiều nơi ở nước Đức phụ huynh có lợi tức cao phải đóng học phí. Ở Pháp, trẻ em từ 2,3 tuổi gửi tới nhà trẻ (crèches), cha mẹ được giảm bớt thuế 85% số chi phí. Trẻ em ở Anh và Ái Nhĩ Lan được gửi nhà trẻ hoàn toàn miễn phí. Nhật Bản trợ cấp cho việc gửi trẻ nhưng phụ huynh vẫn phải trả một món tiền lớn, dù không lớn bằng ở Mỹ. Trong các lớp tuổi mẫu giáo và tiểu học, trung học, nước Mỹ cũng chi tiêu ít hơn các nước khác; trong số 38 nước OECD chỉ cao hơn Luxembourg. Đầu năm 2021, nhân dự lật cứu trợ vì bệnh dịch Covia-19, chính phủ Mỹ đã phát tiền nuôi trẻ. Các gia đình được tặng $3,600 đô la cho mỗi trẻ em dưới 6 tuổi, $3,000 đô la nếu các em lớn hơn, cho đến 17 tuổi. Một người không kiếm được đồng nào trong năm ngoái có thể nhận được $7,200 đô la nếu có 2 con dưới 6 tuổi, do Sở Thuế Liên bang IRS gửi cho mỗi tháng. Bây giờ, trong dự luật mới, Đảng dân chủ đang tính giữ nguyên những khoản trợ cấp đó cho đến năm 2025. Nhưng đến năm 2025 các đại biểu quốc hội sẽ khó bỏ phiếu cắt đứt những món tiền cho trẻ em như thế! Theo nhật báo Wall Street Journal thuộc khuynh hướng Cộng Hòa, tổng số tiền chi phí trong 10 năm sẽ lên tới $1 ngàn tỷ mỹ kim. Tờ báo này báo động, chính phủ sẽ phát những món tiền nuôi trẻ giống như phiếu mua thực phẩm (food stamps) hay trợ cấp tiền nhà bây giờ, tạo nên tình trạng nhiều gia đình lệ thuộc vào tiền trợ cấp xã hội! Vấn đề này sẽ được hai đảng tranh luận trong quốc hội trong thời gian tới. Khi các quốc gia tiến bộ khác chi tiêu cho trẻ em, một món chi quan trọng là tiền gửi nhà giữ trẻ cho các em chưa đến tuổi học mẫu giáo. Gửi con vào nhà trẻ, các bà mẹ có thể đi làm, nhưng nếu tốn quá, gần bằng tiền lương thì không đáng, ở nhà trông con ích lợi hơn. Dự luật mới sắp đem bàn sẽ trợ cấp để các gia đình nghèo có thể gửi con ở nhà giữ trẻ miễn phí. Cha mẹ nào khá giả sẽ trả tiền; tối đa bằng 7% lợi tức của họ, trong một mức lợi tức trên trung bình. Dự luật này bảo đảm trẻ em 3 và 4 tuổi đều được trông nom và sẽ tăng lương cho các thầy, cô giữ trẻ cho bằng các giáo viên. Hiện nay lương các cô giáo giữ trẻ chỉ được dưới $15 đô la, còn giáo viên lớp mẫu giáo được trả gần $33 đô la. Nhiều người Mỹ muốn giữ con ở nhà, không thích gửi nhà trẻ. Đảng Cộng Hòa thường chủ trương đây là một vấn đề thuộc quyền các tiểu bang, chính phủ liên bang không nên can thiệp. Hiện nhiều tiểu bang ở Mỹ đã có các chương trình trợ giúp việc gửi con tới nhà trẻ, từ 3 hoặc 4 tuổi; bảy tiểu bang cho các em trên 4 tuổi. Nhưng 14 trong số 50 tiểu bang không có chương trình nào cho trẻ em trước khi lên tiểu học. Khi bệnh dịch Covid đến, các đạo luật được quốc hội liên bang thông qua mới chi tiền giúp những cha mẹ có con nhỏ. Ngoài chuyện trợ cấp gửi con vào nhà trẻ, các nước trong nhóm OECD cũng cho các bà mẹ sinh con được nghỉ làm có trả lương (maternity leave). Trung bình, các bà được nghỉ 16 tuần lễ có lương. Ở Âu châu người cha thường cũng được nghỉ 14 tuần khi vợ sanh. Mỹ là quốc gia duy nhất chính phủ để cho các xí nghiệp tự do giải quyết theo cách họ chọn. Năm 1993, Quốc hội Mỹ đã làm luật cho công nhân được nghỉ 12 tuần lễ nếu bị bệnh; nhưng họ không được trả lương. Lúc đó, những đại biểu tranh đấu cho luật này nghĩ rằng đó là một bước khởi đầu, dần dần sẽ tiến tới chế độ nghỉ bệnh có trả lương. Nhưng gần 30 năm rồi, luật không nhích thêm một bước! Ông Biden nhân cơ hội Covid-19, muốn kéo dài các chương trình trợ giúp cho trẻ em sau khi cơn dịch chấm dứt. Vì vậy Tòa Bạch Ốc sẽ thúc đẩy quốc hội bàn thảo bản dự luật mới; lúc đầu trù tính chi $3.5 ngàn tỷ, nhưng chắc sẽ cắt gần một nửa trước khi quốc hội chấp thuận. Nhưng dự luật có được cắt giảm vẫn vấp vào một chướng ngại, là ngân sách. Lấy tiền đâu ra chi cho trẻ em? Bản dự luật sẽ đề nghị tăng thuế những người giàu nhất nước; và thế nào cũng bị chống đối. Nhà bình luận Greg Ip trên báo Wall Street Journal đã đặt câu hỏi: Liệu tăng thuế rồi thì nền kinh tế có chạy tốt được không? Ông trả lời là được! Ông thấy những đề nghị tăng thuế nhà giàu của đảng Dân chủ lần này không lên cao bằng các lần trước! Ông kể ra, dân Đức đóng thuế trung bình 49%; dân Pháp đóng 47%; Thụy Điển đóng 43%. Còn dân Mỹ đóng thuế bao nhiêu: Chỉ có 30%! Đó là chưa kể dân Âu châu khi mua sắm phải đóng thuế Trị Giá Gia Tăng, VAT. Hy vọng trẻ em nước Mỹ sẽ được xã hội chăm sóc nhiều hơn! Source: https://www.voatiengviet.com/a/giao-duc-cham-soc-tre-em-food-stamps/6268836.html

NĂM ĐIỀU QUÁN TƯỞNG HẰNG NGÀY

Đức Phật khuyên ta mỗi ngày cần quán tưởng đến năm điều. Tất cả chúng ta đều biết những điều ấy, nhưng ta thường dễ quên. Ta thường tự dối rằng chúng không hiện hữu. Để rồi khi chúng xảy ra, như một định luật, ta lại cho đó là tai nạn, dầu chúng chỉ là những định luật tự nhiên. Đây là quán tưởng, không phải thiền quán, ta cần phân biệt hai thứ nầy. Trong thiền quán, ta cố giữ tâm trụ vào một điểm, một đề mục của thiền quán, để giúp cho tâm trở nên tĩnh lặng, thanh tịnh, hòng có được sức mạnh để đạt được tuệ giác. Trong quán tưởng, chúng ta chọn một đề tài là một vấn đề chung của nhân loại, không phải là vấn đề của cá nhân, và xem chúng ảnh hưởng đến ta như thế nào. Phân tích thái độ của ta đối với chúng. Chính các phản ứng đó chuyển tải tầm quan trọng của vấn đề đến với ta. Quán tưởng có nghĩa là ta đào sâu một vấn đề, cho dầu đó là một vấn đề ta đã quá quen thuộc, ta vẫn có thể có những nhận thức mới về nó. Ta nhìn vấn đề ở một khía cạnh khác. Chúng ta có thể có được tuệ giác, vì đã bỏ được những suy nghĩ viễn vông, vì biết chuyên tâm vào một vấn đề. Trí tuệ được phát triển như thế đó: không phải là do suy nghĩ về một vấn đề, mà quán tưởng đến chân lý của vấn đề, xem xét những ứng dụng của nó trong cuộc sống của ta; nhìn dưới mọi khía cạnh, kết nối nó với thực tế, để có được một quan điểm mới mẽ hơn. Có thể so sánh với việc ta ngồi ở cửa sổ quan sát một cái cây, với việc ta đứng lên quan sát nó trở lại. Trước ta chỉ thấy có nửa thân cây, sau đó ta có thể nhìn cây toàn diện. Cây không thay đổi, nhưng cái nhìn của ta về cây thì đã khác. Tôi khuyên các bạn hãy xướng những câu sau đây, vì nó giúp bạn dễ nhớ. Sau mỗi câu, tôi bổ túc thêm một số điều để giúp bạn dễ quán tưởng hơn. Bạn không cần phải tuân theo những điều ấy, vì chúng chỉ là phương tiện để hướng dẫn. Nếu bạn có những cách khác, cũng tốt thôi. Quán tưởng về nội tâm của riêng mình sẽ hiệu quả hơn. Trước hết hãy trở về với hơi thở trong chốc lát. Xong, xướng những câu sau: Thứ Nhất: TÔI SẼ BỊ HOẠI DIỆT, TÔI KHÔNG TRÁNH KHỎI SỰ HOẠI DIỆT Trước hết hãy xét xem câu nầy có đúng sự thật không, nếu đúng, xét xem trong cuộc sống ta có quan tâm đến điều nầy không. Hãy xét xem trong tâm thức ta có phản đối sự thật đó không? Ta có ước ao giá mà nó đừng xảy ra. Nếu là thế, ta phải xét xem tại sao ta không tuân theo định luật tự nhiên nầy. Thứ Hai: THÂN TÔI SẼ BỊNH, TÔI KHÔNG THOÁT KHỎI BỊNH YẾU Lần nữa, ta lại xét xem điều đó đúng sự thật không? Ta đã từng bao giờ bịnh hoạn chưa, ta có chắc không bịnh nữa không? Điều nầy có nghĩa gì đối với thân, với cái mà ta vẫn gọi là ‘tôi’. Thân ta có làm theo ý ta không? Hay là nó chỉ nghe theo những luật riêng của nó, khi bịnh yếu không cần hỏi đến ý ta? Thứ Ba: TÔI SẼ CHẾT, TÔI KHÔNG THOÁT KHỎI CỬA TỬ Tất cả chúng ta đều biết đó là chân lý. Nhưng cần phải xét xem ta có luôn nghĩ rằng điều đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, xét xem ta có sống theo suy nghĩ đó không. Hãy tự hỏi xem mình có chuẩn bị, có ở trong tư thế sẵn sàng, nếu không, ta còn bám víu vào gì nữa? Chúng ta cần làm gì để chuẩn bị cho cái chết, để cái chết không còn là nỗi đe dọa của ta? Thứ tư: TẤT CẢ NHỮNG GÌ TÔI COI LÀ QUÝ BÁU, LÀ NIỀM VUI, LÀ CỦA TÔI, SẼ KHÔNG CÒN, SẼ ĐỔI THAY. Hãy nhìn lại quá khứ, chúng ta có thể nhớ lại rằng có những vật, những kỷ niệm, những hoàn cảnh, những con người mà ta trân quý, yêu thương, đã thay đổi, đã hoại diệt. Nếu thế, những thứ bây giờ ta trân qúy sẽ ra sao? Liệu chúng có ở bên ta mãi? Và Điều Ghi Nhớ Thứ Năm: Nghiệp Thứ nhất: TÔI LÀ CHỦ CỦA NGHIỆP Khi ta chấp nhận sự thật nầy, ta sẽ có trách nhiệm với tất cả những gì xảy ra cho ta. Chúng ta cần quán tưởng xem ta có thực sự là chủ của nghiệp, để buông bỏ bất cứ ý nghĩ nào cho rằng người khác đã tạo ra điều gì đó cho ta. Thứ Hai TÔI THỪA TỰ NGHIỆP CỦA MÌNH Mỗi chúng ta tự tạo ra nghiệp của mình. Nếu chúng ta luôn ghi nhớ điều đó, thường suy tưởng về điều đó, ta sẽ thấy dễ làm điều thiện, điều hữu ích. Thứ Ba TÔI SINH RA DO NGHIỆP CỦA MÌNH Chính ước muốn được có mặt, được sống khiến ta sinh ra trong hoàn cảnh của mình. Hòan cảnh đó là một kinh nghiệm học hỏi của ta. Thứ Tư TÔI LIÊN HỆ VỚI NGHIỆP CỦA THIỆN HAY ÁC, TÔI SẼ LÀ NGƯỜI PHẢI LÃNH CHỊU Nhận thức nầy mang chúng ta trở lại với thực tại, khi biết rằng ta không ngừng tạo nghiệp, và thường là ta phải chịu quả ngay sau đó, do ta tự tạo ra cho mình.
Trích đoạn từ sách Khi Nào Chim Sắt Bay: Hành Trình Phật Giáo Về Phương Tây của Ni Sư Ayya Khema do Diệu Liên Lý Thu Linh dịch https://thuvienhoasen.org/a36682/nam-dieu-quan-tuong-hang-ngay

Saturday, October 9, 2021

Seneca on True and False Friendship and on the Antidote to Anxiety

https://www.brainpickings.org/2017/05/19/seneca-friendship/ Seneca on True and False Friendship “Ponder for a long time whether you shall admit a given person to your friendship; but when you have decided to admit him, welcome him with all your heart and soul.” By Maria Popova “Friendship is unnecessary,” C.S. Lewis wrote, “like philosophy, like art, like the universe itself… it has no survival value; rather it is one of those things which give value to survival.” Darwinian caveats aside, the truth of this beautiful sentiment resonates deeply for anyone whose life has been enriched or even saved by the existence of a genuine friend. And yet today, as we face the commodification of the word “friend,” what do we even mean — what should we mean — by this once-sacred term, now vacated of meaning by chronic misuse? That’s what the great first-century Roman philosopher Seneca examines in a series of correspondence with his friend Lucilius Junior, later published as Letters from a Stoic (public library) — the indispensable trove of wisdom that gave us Seneca’s famous letter on overcoming fear and inoculating yourself against misfortune. Eighteen centuries before Emerson wrote in his meditation on the two pillars of friendship that “a friend is a person with whom [one] may be sincere,” Seneca considers the uses and misuses of the term in a magnificent letter titled “On True and False Friendship”: If you consider any man a friend whom you do not trust as you trust yourself, you are mightily mistaken and you do not sufficiently understand what true friendship means… When friendship is settled, you must trust; before friendship is formed, you must pass judgment. Those persons indeed put last first and confound their duties, who … judge a man after they have made him their friend, instead of making him their friend after they have judged him. Ponder for a long time whether you shall admit a given person to your friendship; but when you have decided to admit him, welcome him with all your heart and soul. Speak as boldly with him as with yourself… Regard him as loyal and you will make him loyal. In another letter, titled “On Philosophy and Friendship,” Seneca examines the common bases upon which friendships are formed and admonishes against the tendency, particularly common today, toward seeing others as utilitarian tools that help advance one’s personal goals. Observing that some people form so-called friendships by estimating how much a potential friend can help them in a moment of need, he writes: He who regards himself only, and enters upon friendships for this reason, reckons wrongly. The end will be like the beginning: he has made friends with one who might assist him out of bondage; at the first rattle of the chain such a friend will desert him. These are the so-called “fair-weather” friendships; one who is chosen for the sake of utility will be satisfactory only so long as he is useful. Hence prosperous men are blockaded by troops of friends; but those who have failed stand amid vast loneliness their friends fleeing from the very crisis which is to test their worth. Hence, also, we notice those many shameful cases of persons who, through fear, desert or betray. The beginning and the end cannot but harmonize. He who begins to be your friend because it pays will also cease because it pays. A man will be attracted by some reward offered in exchange for his friendship, if he be attracted by aught in friendship other than friendship itself. With an eye to such arrangements of convenience and favor, which he condemns as “a bargain and not a friendship,” Seneca adds: One who seeks friendship for favourable occasions, strips it of all its nobility. In another letter, Seneca cautions against mistaking flattery for friendship — an admonition all the more urgent today, in the Age of Likes, when the forms of flattery and the channels of positive reinforcement have proliferated to a disorienting degree: How closely flattery resembles friendship! It not only apes friendship, but outdoes it, passing it in the race; with wide-open and indulgent ears it is welcomed and sinks to the depths of the heart, and it is pleasing precisely wherein it does harm. He turns the beam of his wisdom toward the only valid and noble reason for forming a friendship: For what purpose, then, do I make a man my friend? In order to have someone for whom I may die, whom I may follow into exile, against whose death I may stake my own life, and pay the pledge, too. In another letter, Seneca suggests that such genuine friendship extends its rewards beyond the personal realm and becomes the civilizational glue that holds humanity together: Friendship produces between us a partnership in all our interests. There is no such thing as good or bad fortune for the individual; we live in common. And no one can live happily who has regard to himself alone and transforms everything into a question of his own utility; you must live for your neighbour, if you would live for yourself. This fellowship, maintained with scrupulous care, which makes us mingle as men with our fellow-men and holds that the human race have certain rights in common, is also of great help in cherishing the more intimate fellowship which is based on friendship… For he that has much in common with a fellow-man will have all things in common with a friend. Letters from a Stoic remains a timelessly rewarding read. Complement this particular portion with Eudora Welty on friendship as an evolutionary mechanism for language, Irish poet and philosopher John O’Donohue on the ancient Celtic ideal of friendship, and the epistolary record of Mozart and Haydn’s beautiful and selfless friendship, then revisit Seneca on the antidote to the shortness of life and the key to resilience in the face of loss. A Stoic’s Key to Peace of Mind: Seneca on the Antidote to Anxiety “There are more things … likely to frighten us than there are to crush us; we suffer more often in imagination than in reality.” https://getpocket.com/explore/item/a-stoic-s-key-to-peace-of-mind-seneca-on-the-antidote-to-anxiety?utm_source=pocket- • Maria Popova “The truth is, we know so little about life, we don’t really know what the good news is and what the bad news is,” Kurt Vonnegut observed in discussing Hamlet during his influential lecture on the shapes of stories. “The whole process of nature is an integrated process of immense complexity, and it’s really impossible to tell whether anything that happens in it is good or bad,” Alan Watts wrote a generation earlier in his sobering case for learning not to think in terms of gain or loss. And yet most of us spend swaths of our days worrying about the prospect of events we judge to be negative, potential losses driven by what we perceive to be “bad news.” In the 1930s, one pastor itemized anxiety into five categories of worries, four of which imaginary and the fifth, “worries that have a real foundation,” occupying “possibly 8% of the total.” A twenty-four-hour news cycle that preys on this human propensity has undeniably aggravated the problem and swelled the 8% to appear as 98%, but at the heart of this warping of reality is an ancient tendency of mind so hard-wired into our psyche that it exists independently of external events. The great first-century Roman philosopher Seneca examined it, and its only real antidote, with uncommon insight in his correspondence with his friend Lucilius Junior, later published as Letters from a Stoic (public library) — the timeless trove of wisdom that gave us Seneca on true and false friendship and the mental discipline of overcoming fear. In his thirteenth letter, titled “On groundless fears,” Seneca writes: There are more things … likely to frighten us than there are to crush us; we suffer more often in imagination than in reality. With an eye to the self-defeating and wearying human habit of bracing ourselves for imaginary disaster, Seneca counsels his young friend: What I advise you to do is, not to be unhappy before the crisis comes; since it may be that the dangers before which you paled as if they were threatening you, will never come upon you; they certainly have not yet come. Accordingly, some things torment us more than they ought; some torment us before they ought; and some torment us when they ought not to torment us at all. We are in the habit of exaggerating, or imagining, or anticipating, sorrow. Seneca then offers a critical assessment of reasonable and unreasonable worries, using elegant rhetoric to illuminate the foolishness of squandering our mental and emotional energies on the latter class, which comprises the vast majority of our anxieties: It is likely that some troubles will befall us; but it is not a present fact. How often has the unexpected happened! How often has the expected never come to pass! And even though it is ordained to be, what does it avail to run out to meet your suffering? You will suffer soon enough, when it arrives; so look forward meanwhile to better things. What shall you gain by doing this? Time. There will be many happenings meanwhile which will serve to postpone, or end, or pass on to another person, the trials which are near or even in your very presence. A fire has opened the way to flight. Men have been let down softly by a catastrophe. Sometimes the sword has been checked even at the victim’s throat. Men have survived their own executioners. Even bad fortune is fickle. Perhaps it will come, perhaps not; in the meantime it is not. So look forward to better things. Sixteen centuries before Descartes examined the vital relationship between fear and hope, Seneca considers its role in mitigating our anxiety: The mind at times fashions for itself false shapes of evil when there are no signs that point to any evil; it twists into the worst construction some word of doubtful meaning; or it fancies some personal grudge to be more serious than it really is, considering not how angry the enemy is, but to what lengths he may go if he is angry. But life is not worth living, and there is no limit to our sorrows, if we indulge our fears to the greatest possible extent; in this matter, let prudence help you, and contemn with a resolute spirit even when it is in plain sight. If you cannot do this, counter one weakness with another, and temper your fear with hope. There is nothing so certain among these objects of fear that it is not more certain still that things we dread sink into nothing and that things we hope for mock us. Accordingly, weigh carefully your hopes as well as your fears, and whenever all the elements are in doubt, decide in your own favour; believe what you prefer. And if fear wins a majority of the votes, incline in the other direction anyhow, and cease to harass your soul, reflecting continually that most mortals, even when no troubles are actually at hand or are certainly to be expected in the future, become excited and disquieted. But the greatest peril of misplaced worry, Seneca cautions, is that in keeping us constantly tensed against an imagined catastrophe, it prevents us from fully living. He ends the letter with a quote from Epicurus illustrating this sobering point: The fool, with all his other faults, has this also, he is always getting ready to live. Complement this particular portion of Seneca’s wholly indispensable Letters from a Stoic with Alan Watts on the antidote to the age of anxiety, Italo Calvino on how to lower your “worryability,” and Claudia Hammond on what the psychology of suicide prevention teaches us about controlling our everyday worries, then revisit Seneca on making the most of life’s shortness and the key to resilience when loss does strike.

‘Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng’

https://gdb.voanews.com/3CA7A1EC-23CC-46E2-8396-DB2CEE1DB819_w1597_n_r1_st.png ‘Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng’ Dòng người kéo nhau về quê. Những cảnh đời này đã được người dân các địa phương giúp đỡ khi lâm vào hoàn cảnh khó khăn nhất. Trân Văn 08/10/2021 Thiên Hạ Luận Dẫu nhiều nơi mưa như trút, rồi gió, giông,... nhưng nhiều ngàn người Việt, kể cả người già, trẻ con, thậm chí không ít sơ sinh vẫn lầm lũi đi tới vì chưa về đến nhà... Đợt di tản khỏi các đô thị, trung tâm công nghiệp đã kéo dài hơn một tuần, chưa biết bao giờ mới chấm dứt. Đã có những người vĩnh viễn nằm lại dọc đường như mẹ con chị Hà Thị Vuông gốc Quảng Xương, Thanh Hóa (1), anh Giàng A Chìa gốc Phù Yên, Sơn La (2),... hoặc đói khát, kiệt sức nên nửa đêm ngã xuống mương, may mắn có người phát giác, đưa đưa đi cấp cứu và đang nằm bệnh viện như Nguyễn Đức Mỹ, Nguyễn Đình Phương gốc ở Lộc Hà, Hà Tĩnh (3),... May mắn là bên cạnh những thông tin, hình ảnh đau lòng về thảm cảnh hồi hương đó còn có những thông tin, hình ảnh khác như tin vui giữa giờ tuyệt vọng - tên nhạc phẩm mà Trầm Tử Thiêng viết hồi tháng 8/1996, thời điểm người Việt tha hương cùng nhau đóng góp, xây dựng làng Việt Nam trên đất Philippines cho những đồng bào kém may mắn hơn: Đã thoát khỏi Việt Nam đến Philippines nhưng không thể đi định cư tại quốc gia thứ ba: Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng. Một vòng tay vừa mới mở ra. Cứu anh em những đời mạt vận. Ðường mơ đi càng bước càng xa... Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng. Bao sinh linh nhận phép giải oan. Siết tay nhau cúi đầu gạt lệ. Tạ ơn trên. người vẫn thương người (4)! *** Đó là câu chuyện Thuan Kieu kể về những gì đã diễn ra ở chợ Cống Đôi, xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng sau khi nạn dân lũ lượt lên đường tìm về nhà: Bốn giờ sáng ngày 2/10/21 được tin hàng ngàn người đang kẹt ở chốt đầu tỉnh Sóc Trăng, cả chợ xôn xao... Ai đó thốt lên: Mua bánh mì cho họ! Toàn bộ bánh mì tại chợ Cống Đôi bị mua hết. Tất cả được mang về nhà ông Phó Sơn. Có bánh mì thì có thịt quay, có chả lụa... Cả xóm nhà lồng chợ góp của, góp sức, chưa đầy một tiếng hơn ngàn ổ bánh mì được phát cho bà con nhưng vẫn còn nhiều người chưa có..... Thế là một cuộc hội ý nhanh: Cần nấu cơm tiếp tế cho họ... Như cái máy đã được lập trình, mỗi người một tay nên chưa đầy một giờ đã có hơn trăm hộp cơm đến tay đồng bào về quê... Thông tin lan nhanh, cả chợ mới họp ngày đầu tiên sau Chỉ thị 16, ai có gì cho nấy, hơn 30 con người lại tiếp tục. Lúc đầu ông Phó Sơn cho 1 bao gạo ST25, một bao Tài Nguyên nhưng đến giờ đã có hơn 10 bao gạo,... Gia đình anh Hiển cho bốn con heo 100 ký làm sẵn. Một người chưa biết tên, lúc 2 giờ sáng 3/10/2021 gởi 20 con gà cho 100 phần ăn. Sáng nay nhận thêm hơn 1.000 trứng gà, vịt của anh Hai Tường và anh Công. Chia lửa với bà con chợ Cống Đôi, gia đình chị Hạt gần nhà thờ Nam Hải nhận nấu cơm. Đến 9 giờ sáng 3/10/2021 đã nấu hơn 100 ký gạo do ông bà Uân giúp đỡ và chưa từ chối nấu tiếp. Cả xóm chợ, người lớn tuổi nhất là chị Loan - 70 tuổi - vẫn có mặt trong suốt 30 tiếng qua... Chưa một lời kêu gọi nhưng vẫn có hơn chục triệu tiền mặt, gần một tấn gạo và hàng tấn thịt, rau củ, trứng đã trao cho xóm chợ. Sáng nay cả ngàn người đổ về, mấy trăm phần cơm từ ba nơi vẫn không đủ, thế là toàn bộ các quán bún, cháo, hủ tíu, bánh mì lại một lần nữa lên đường tiếp tế, họ mang đi cho, không bán. Sáng hôm qua trời mưa toàn bộ áo mưa ở chợ Cống Đôi đã được mang ra phát cho bà con. Chiều hôm qua tôi theo anh em mang cơm đến chốt phát mà bùi ngùi... Mấy trăm con người nhếch nhác, mệt mỏi, thấy cơm họ mừng mà mình lại thấy rưng rưng. Đêm qua tôi trằn trọc khi thấy đoàn người vẫn ùn ùn về quê. Sáng nay khi qua xóm chợ chợt thấy hàng quán đua nhau đi cứu trợ, thay vì bán, hàng ngàn ổ bánh mì, cả trăm phần hủ tíu, bún, cơm cứ ào ào lên chốt. Tôi tự hỏi trong hàng ngàn con người đó có ai là thân nhân của họ không mà tại sao họ có thể thức suốt đêm để phục vụ và vui vẻ như làm tiệc đãi bà con xa về? Tất cả đều đọng lại hai tiếng ĐỒNG BÀO thật quí giá (5)! Đó là rất nhiều những video clip mà nội dung na ná như video clip được giới thiệu trên trang facebook của Đức Nguyễn làm người xem vừa muốn ứa nước mắt, vừa muốn mỉm cười: Một người đàn ông lam lũ chạy một chiếc xe hai bánh gắn máy, phía sau kéo một cái thùng gỗ tự chế, đang giúp ba cha con anh Trần Văn Liêm đi bộ về Thốt Nốt, Cần Thơ leo vào bên trong để đưa họ đến Bến Lức, Long An – nơi nghe nói là sẽ có xe đưa họ đi tiếp... Sau chiếc thùng gỗ có dòng sơn nguệch ngoạc: Xe 0 đồng! Nghe người ghi video clip hỏi thăm mới biết chủ xe cũng... 0 đồng nhưng muốn góp sức. Ông gốc ở Bình Phước, đến Sài Gòn làm mướn rồi mắc kẹt, chưa về quê vì có cái thùng gỗ... có thể tiếp sức cho người cô thế, thiếu phương tiện đi thêm được cây số nào hay cây số đó (6)! Đó là miền Nam, ở miền Trung, Nguyễn Nguyên mô tả quanh cảnh Hải Vân Quan và tâm trạng khi phải chứng kiến cảnh tượng này: Một đoàn xe bán tải đợi sẵn ở Hải Vân Quan để đợi đoàn người thiên di từ Nam về Bắc, người lớn tuổi, hay xe có trẻ em sẽ được ưu tiên chuyển cả người và xe qua đèo. Một chốt phát đồ ăn và xăng 0 đồng đợi suốt ngày đêm ngay cửa ngõ Hải Lăng để tiếp sức cho đoàn người về... Tất cả, vẫn là dân. Những ngày qua có tới chín vạn người tháo chạy về quê hương từ vùng tam giác kim cương nhưng chẳng ai thấy các cấp lãnh đạo cúi đầu xuống để nhìn xem dân thống khổ thế nào. Nhà nước có đầy đủ phương tiện di tản nhưng đâu có đoái hoài, từng đoàn người đạp xe hàng ngàn cây số, từng đoàn người đi bộ hàng trăm cây số cũng như một cơn gió lướt qua mắt các vị. Mà cũng đúng, nếu họ thật sự nghĩ tới dân dù chỉ một lần thì đâu có những thảm cảnh này xảy ra, đâu có chuyện những cửa hàng 0 đồng mọc lên. Không giúp nhưng họ đang làm việc gì khi ăn thuế của dân? À! Thừa Thiên - Huế dọa ai về sẽ phạt tất tay. Còn trong Bình Dương mấy hôm nay họ bận xử lý ai lên mạng lập đoàn về quê. Từ bao giờ kêu gọi thành đoàn đi cùng nhau mà lại gán cho cái danh “đối tượng”? Từ bao giơ đoàn người tha hương đã đến hồi hấp hối muốn tìm sự sống bị gắn cho là hành vi kích động? Ai mới kích động? Ai đã làm cho gần 90.000 doanh nghiệp lặn không sủi tăm? Ai, ai mới kích động làm cho FDI tháo chạy? Những người này ư? Hay chính sách chống dịch cực đoan thiếu trí tuệ nhưng thừa lưu manh? Những hình ảnh chân thật chỉ có dân giúp dân những ngày qua đẹp nhưng buồn, buồn tới nao lòng. Đẹp là vì không có mùi “diễn xuất”, không giơ tay “quyết thắng”, không ngôn ngữ “truyền thông”, không hô hào “vĩ đại” không màu hồng “quang vinh ngạo nghễ”. Nó thật tới tận cùng bản chất sự việc nên đã chạm đến trái tim mỗi người. Buồn vì nó phản ánh không gì trần trụi hơn sự bất tài của một thể chế vô dụng, một hệ thống chính trị vô nhân, tham lam, tàn nhẫn với chính đồng bào mình. Quan chức chẳng bao giờ cúi đầu nhìn đến người dân một lần để ra quyết sách nhân đạo. Chính phủ gì mà cứ mỗi nghị quyết ban ra hay thay đổi chính sách là một lần dân tháo chạy, vậy là vì dân hay vì chính bản thân các vị quan chức? Dịch dã trên toàn thế giới suốt hai năm nay, tất cả các dân tộc trên địa cầu phải gánh chịu. Nhưng chẳng biết có nơi đâu khổ hơn dân nước Việt? Chẳng biết nơi đâu dân lại lầm than như thế kia? Hôm nay họ quyết ra đi, những giọt nước mắt và dư chấn suốt bốm tháng qua đủ để họ có động lực hồi hương, trong tâm thế đầu không ngoảnh lại, lỗi này ai kích động? Nhìn trên Hải Vân Quan mưa giăng khắp lối, trắng xoá như một bức tranh đầy nét chấm phá, hoạ lên một thảm cảnh buồn vô tận cả không gian và thời gian, như nói lên nỗi lòng của từng người đang đầy bão tố. Dân bế tắc, hoang mang, đoạn đường dài thênh thang chỉ biết kêu trời - mà trời cũng chỉ biết khóc. Trên đỉnh Hải Vân, mưa giăng kín, nhìn đoàn người thiên di lầm lũi lướt qua, nối từng đoàn rồng rắn như mang hình hài cả Việt Nam trước mắt. Người ta cứ chạy, phía trước chẳng còn ai nhìn thấy tương lai (7). *** Những tấm bảng “không đồng”: Nước... không đồng! Cơm... không đồng! Xăng... không đồng!... đã được dựng trên nhiều nẻo đường khắp Việt Nam. Xuan Bình Nguyen cảm thán: Trong thảm họa nhân đạo, chính quyền không điều động nổi vài đoàn tàu hỏa, vài trăm quân xa giúp dân cùng cực vượt đường dài, băng qua nắng nóng, mưa bão,... để về quê! Trong hoạn nạn chỉ còn có dân tự chăm lo, đùm bọc nhau? Trên đất nước đã có hơn 70 năm lâm vào đại nạn, chỉ có những tấm biển “KHÔNG ĐỒNG” là đáng giá (8)! Chú thích (1) https://congan.com.vn/giao-thong-24h/hai-me-con-tu-vong-khi-tren-duong-ve-que-tranh-dich_121111.html (2) https://infonet.vietnamnet.vn/doi-song/an-toan-giao-thong/2-vo-chong-bi-tai-nan-tren-duong-tu-mien-nam-ve-son-la-nguoi-vo-nguy-kich-duoc-chuyen-den-bv-bach-mai-394258.html (3) https://baoquangnam.vn/xa-hoi/bi-tai-nan-tren-duong-ve-que-tranh-dich-hai-nguoi-dan-ong-khong-tien-vao-vien-118247.html (4) https://www.youtube.com/watch?v=6Ca3m3K5ThQ&ab_channel=AsiaEntertainmentOfficial (5) https://www.facebook.com/100021610994456/posts/948810085849349/ (6) https://facebook.com/story.php?story_fbid=4750907491595393&id=100000285671991 (7) https://www.facebook.com/minhchau.troidong/posts/6276259452447792 (8) https://www.facebook.com/529185933/posts/10160131045790934/ • Thiên Hạ Luận Tự kể điều mình biết, tự nói điều mình nghĩ với hàng triệu người đã trở thành chuyện đơn giản và bình thường. Khi một người nói, nhiều người có thể cùng nghe, bất kể người nói là ai, làm gì, ở đâu thì vai trò, vị trí của cá nhân trong tương tác với xã hội đã khác trước và chắc chắn sẽ càng ngày càng khác. Đó cũng là lý do để dù muốn hay không, hệ thống truyền thông chính thống phải tự thay đổi. Ban Việt ngữ VOA cũng thấy phải tự thay đổi... Trước mặt bạn là “Thiên hạ luận” – chuyên mục mới của Ban Việt ngữ VOA. Tuy nhiên đây chỉ là bước đầu tiên - tập hợp thông tin, ý kiến của nhiều người sử dụng mạng xã hội bằng Việt ngữ về những sự kiện, vấn đề đang được nhiều người quan tâm và có thể là mọi người nên biết, nên bàn thêm - của một tiến trình. Liệu “Thiên hạ luận” có thể trở thành nơi mà độc giả chủ động đóng góp mọi thứ (thông tin, ý kiến, hình ảnh) về những sự kiện, vấn đề mà theo họ, mọi người cần biết, cần bàn hay không sẽ do các bạn quyết định. Các bài viết của Thiên Hạ Luận là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ. Source: https://www.voatiengviet.com/a/co-tin-vui-giua-gio-tuyet-vong/6262709.html

VƯƠNG TRIỀU ANGKOR VÀ VÙNG ĐẤT NAM BỘ (Việt Nam) KHOẢNG TRƯỚC SAU THẾ KỶ X

VƯƠNG TRIỀU ANGKOR VÀ VÙNG ĐẤT NAM BỘ (Việt Nam) KHOẢNG TRƯỚC SAU THẾ KỶ X Nguyễn Thị Hậu Mở đầu Trong những thế kỷ đầu công nguyên, ở Đông Nam Á vương quốc Phù Nam là một quốc gia hùng mạnh và có quan hệ thương mại với nhiều nơi trên thế giới. Do những điều kiện tự nhiên và xã hội, từ thế kỷ VI khi Phù Nam bắt đầu suy yếu thì Chân Lạp – một thuộc quốc của Phù Nam – đã tiến hành thôn tính vương quốc này. Từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XII quốc gia Chân Lạp trở nên cường thịnh, tạo dựng nên nền văn minh Angkor rực rỡ, đồng thời mở rộng lãnh thổ đến tận Nam Lào và phủ lên cả lưu vực sông Chao Phayai, vì vậy được gọi là đế quốc Khmer hay vương triều Angkor. Thời kỳ này nhờ vào của cải sung túc và nhân lực dồi dào, các vị vua đã cho xây dựng kinh đô gồm những kiến trúc đồ sộ để tôn vinh Thần – Vua là chính mình và vương quốc, trong đó những công trình hoành tráng nhất, nổi tiếng nhất được xây ở quanh vùng Siem Reap, gần Biển Hồ ở vùng phía bắc. Ba ngôi đền rực rỡ nhất ở Angkor là Bayon, Ta Prohm và Angkor Wat. Nằm ở đồng bằng hạ lưu sông Mekong tiếp giáp biển, địa hình thấp trũng, vùng đất Nam Bộ - Việt Nam sau thời kỳ Phù Nam được gọi là Thủy Chân Lạp để phân biệt với Lục Chân Lạp ở vùng địa hình cao, nằm sâu trong lục địa. Trong phạm vi bài viết này tác giả trình bày tình hình Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp, mối quan hệ giữa vương triều Angkor và vùng đất Nam Bộ trong bối cảnh thế kỷ X – thời kỳ nhiều quốc gia cổ ở Đông Nam Á ra đời và phát triển, ở phía bắc Việt Nam là thời kỳ Ngô Vương trung hưng đất nước. I. Giai đoạn hình thành và phát triển vương triều Angkor (thế kỷ VII – thế kỷ X) I.1. Chân Lạp và Phù Nam Sau thế kỷ VI, vương quốc Phù Nam – là một quốc gia ven biển, một đế chế có lãnh thổ rộng lớn, bao gồm cả miền nam bán đảo Đông Dương, cùng với một phần Đông Nam Á hải đảo và xa hơn, có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển – bước vào giai đoạn suy yếu. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, trong đó, bên cạnh nguyên nhân tự nhiên do đợt biển tiến Flandrian, còn có tác động của Srivijaya là một trung tâm quyền lực đang nổi lên ở Đông Nam Á hải đảo. Dựa vào thế mạnh của kinh tế hải thương, tranh thủ những lợi thế của eo biển Malacca và Sunda, sự phát triển của Srivijaya đã làm cho Phù Nam, một cường quốc hải thương ở khu vực, lui xuống vị trí thứ yếu rồi đi vào con đường suy tànii. Trong tình trạng đó, Chân Lạp – một thuộc quốc của Phù Nam ở vùng trung lưu sông Mê Kông gần khu vực Biển Hồ – đã bắt đầu quá trình thôn tính Phù Nam từ khoảng năm 550. Cho tới giữa thế kỷ VII (thời Trinh Quán 627–649 đời Đường) Chân Lạp chiếm được phần lãnh thổ vương quốc Phù Nam ở hạ lưu sông Mê Kông là vùng đất Nam Bộ Việt Nam ngày nayiii. Danh từ Chân Lạp (Chenla) được biết đến lần đầu tiên trong thư tịch cổ Trung Quốc : “ Nước Chân Lạp ở phía tây nam Lâm Ấp. Vốn là một thuộc quốc của Phù Nam. Cách quận Nhật Nam 60 ngày đi thuyền. Phía nam giáp nước Xa Cừ, phía tây giáp nước Châu Giang ” iv. Địa bàn khởi đầu của Chân Lạp nằm ở bình nguyên Khorat quanh lưu vực Sê Mun và trung lưu sông Mê Kông mà trung tâm có thể ở quanh Vat Phu. Đây là một vùng có điều kiện đảm bảo cho cuộc sống lấy nông nghiệp là kinh tế chính, tránh được lũ lụt, quần cư thuận lợi. Trong nửa đầu thế kỷ VI, họ đã chinh phục các bộ lạc Môn cổ sống gần đó, lớn mạnh hơn và nhân khi nước tôn chủ là Phù Nam suy yếu họ tiến quân chinh phục Phù Nam, thay thế vị thế lịch sử - chính trị của vương quốc này. Từ thế kỷ VII họ được thư tịch Trung Quốc viết đến với tên Chenla v. Văn bia Baksay Chamkrong (thế kỷ X) có đề cập đến truyền thuyết về nguồn gốc của người Khmer và vương quốc Chân Lạp. Họ tự coi mình là con cháu của đại ẩn sĩ tên là Kambu Svayambhuva và tiên nữ Mera. Hậu duệ của Kambu – Kambuja đã trở thành tên nước Kampuchia và đôi thần tiên thủy tổ Kambu – Mera được ghép và chuyển âm thành tên tộc Khmer. Tuy nhiên những văn bia có niên đại trước đó không hề viết về việc này, vì vậy có khả năng việc đặt tên và kể lại truyền thuyết “ được bắt chước và nghĩ ra khá muộn ” khoảng thế kỷ X, để đối xứng với truyền thống Soma – Kaundianya của Phù Nam vi. Từ sau năm 649 sử nhà Đường không ghi chép về Phù Nam nữa, vương quốc Phù Nam được xem như kết thúc trong lịch sử. Người đã hoàn tất việc chinh phục Phù Nam là vị vua thứ 3 của Chân lạp là Isanavarman. Sau khi tiêu diệt dòng Vua Phù Nam, Isanavarman không ở lại mà chỉ cho xây dựng một ngôi đền tại Angkor Borei (tỉnh Takeo) ở miền nam, dựng bia rồi rút về phần đất gốc của mình ở phía bắc vùng trung lưu sông Mê kông, ngày nay là tỉnh Kompong Thom, tại địa điểm Sampor Prei Kuk lập kinh đo và xây đền thờ. Nhà nước Chân Lạp ổn định và phát triển cho đến đầu thế kỷ VIII thì rơi vào tình trạng mâu thuẫn xung đột nội bộ gay gắt. Sau khi vua Jayavarman I qua đời vào năm 680, Chân Lạp bị chia làm hai vùng với các thế lực cát cứ. Sách sử Trung quốc từ đầu thế kỷ VIII ghi chépvii : Thái bình hoàn vũ ký : “ Từ năm Thần Long (705–706) trở về sau, Chân Lạp chia thành hai nửa. Nửa phía nam giáp biển có nhiều đầm hồ, gọi là Thủy Chân Lạp. Nửa phía bắc, có nhiều đồi núi, gọi là Lục Chân Lạp, cũng gọi là Văn Đan… diện tích đất đai của hai nước đều rộng khoảng 800 dặm ”. Trong sách Văn hiến thông khảo : “ Nửa phía bắc vùng đồi núi và thung lũng gọi là Lục Chân Lạp. Nửa phía nam có biển bao quanh và đầm lầy gọi là Thủy Chân Lạp ”. Như vậy có thể nhận biết phạm vi Lục Chân Lạp gồm có vùng núi Hạ Lào và vùng tiếp giáp Lào – Thái. Các vị vua của Lục Chân Lạp tự coi mình là đại diện chính thức cho cả Thủy Chân Lạp, đã cử các đoàn sứ bộ sang giao hảo với Trung Hoa như những ghi chép của thư tịch Trung Quốc trong thế kỷ VIII. Cũng dựa vào thư tịch cổ có thể nhận biết địa bàn Thủy Chân Lạp về cơ bản là vùng đất thấp hạ lưu Mê Kông của Phù Nam (thuộc Nam Bộ – Việt Nam ngày nay). Tuy vậy Thủy Chân Lạp, cũng như Phù Nam giai đoạn trước, gồm nhiều “tiểu quốc”, sau khi Phù Nam suy tàn có thể vẫn duy trì quyền lực và tiếp tục tồn tại trong thời gian tương đối lâu dàiviii. Điều cần lưu ý là ở Chân Lạp và trong vòng ảnh hưởng của vương quốc Chân Lạp, thời bấy giờ đã cùng tồn tại nhiều tiểu quốc và thế lực địa phương khác… Nhưng “Lục Chân Lạp” và “Thủy Chân Lạp” là hai vương quốc lớn, giữ vị thế chính trị trung tâm ở hai vùng đất nướcix. Như vậy Chân Lạp là một quốc gia xuất hiện ở vùng trung lưu sông Mê Kông, khu vực gần Biển Hồ. Trong thời kỳ Phù Nam cường thịnh đã có nhiều nước nhỏ thần phục với tư cách là những thuộc quốc hoặc chư hầu, trong đó có Chân Lạp. Vào đầu thế kỷ VII, nhân lúc Phù Nam suy yếu Chân Lạp đã tấn công và chiếm lấy. Dù vương quốc / đế chế Phù Nam đã tan rã nhưng trong gần 7 thế kỷ tồn tại và phát triển (thế kỷ I – VII), Phù Nam đã tạo ra những cơ sở vật chất – tinh thần quan trọng cho sự hình thành và phát triển của Chân Lạp cũng như nhiều quốc gia trong khu vựcx. I.2. Vương triều Angkor giai đoạn thế kỷ IX – X Vào nửa sau thế kỉ thứ VIII quân đội Srivijaya của người Java đã liên tục tiến công vào các quốc gia trên bán đảo Đông Dương, Thuỷ Chân Lạp bị quân Java chiếm. Jayavarman II, hoàng tử Chân Lạp, dòng dõi Phù Nam từ Java trở về giải phóng Chân Lạp khỏi ách lệ thuộc của Srivijaya, thống nhất Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp năm 802, lập ra vương triều Angkor (802 – 1434). Đầu thế kỷ IX khi Jayavarman II bắt đầu thiết lập vương triều, “ đất nước lâm vào tình trạng vô chính phủ hoàn toàn, trên thực tế là không có vua, chia cắt thành nhiều công quốc tranh chấp nhau. Trước khi có thể tỏ rõ những quyền chính đáng của mình và quyết ý lên ngôi vua nước Cao Miên, trước hết ông hoàng trẻ tuổi đã phải tiến hành chinh phục được ít nhất một phần ba vương quốc ”xi. Lúc đầu nhà vua đóng tại thành Indrapura (phía đông Kongpong Cham), sau một thời gian nhà vua chuyển đến phía bắc của Biển Hồ, đóng đô trong thành Haritharalaya (khoảng 15 km về phía đông nam của tỉnh Siemreap). Tại đây vẫn còn di tích Lolei bao gồm nhiều kiến trúc thuộc nghệ thuật tiền Angkor. Cũng trong thời trị vì của vua Jayavarman II đã hình thành một tục lệ mới : thờ cúng Thần – Vua (đồng nhất vua với vị thần tối cao) và đặt kinh đô tại Phnom Kulenxii. Những cuộc “dời đô” của Jayavarman II đã đi kèm với những trận chiến nhằm thu phục một phần vương quốc, củng cố quyền lực, phòng thủ chống người Chăm... Trong những thế kỷ về sau việc đóng đô của Jayavarman II trên núi Phnom Kulen đã được coi là sự kiện lịch sử đánh dấu sự khởi đầu một thời đại mới. Tuy nhiên, sau đó nhà vua lại trở về Haritharalaya và mất ở đó vào năm 854, sau 52 năm trị vì. Đây là triều đại mở đầu cho công cuộc bình định và thống nhất Chân Lạpxiii. Sau triều vua Jayavarman II là Jayavarman III (854 – 877) vẫn đóng đô ở Haritharalaya nhưng ông đã cho xây dựng một số công trình trong vùng Angkor. Từ năm 877 – 889 là triều vua Indravarman khá ngắn ngủi và yên tĩnh. Một vùng khá rộng lớn được đặt dưới quyền của ông “ từ miền Châu Đốc, nơi ông hiến tặng một đền tháp vimana cho thần Sivatrong ngôi điện cũ Phnom Bayang cho tới miền Tây bắc Ubon nơi có một bi ký Phật Giáo năm 866 ghi nhận ông như một nhà vua đang tại ngôi ”xiv. Tiếp theo là triều vua Yacovarman I – cháu của vua Jayavarman II. Dù sửa sang và xây dựng thêm nhiều công trình ở kinh đô Haritharalaya nhưng ông không ở lâu tại kinh đô này. “ Nhà vua cho lập kinh thành Yacodharapura ”xv tại nơi mà Jayavarman II “ đã tìm ta địa điểm của kinh đô tương lai, trong vùng phụ cận của cái hồ cá vô tận Tonle Sap, gần Phnom Kulen và gần những con đèo đi đến cao nguyên Khorat và lưu vực Menam ”. Đó chính là khu vực Angkor, nơi đã trở thành kinh đô của đế quốc Khmer trong hơn 600 nămxvi. Kinh đô mới tại khu vực Angkor được xác định bằng việc Yacovarman I cho xây dựng ngôi đền trên núi Phnom Bakheng. Đồng thời ông cho xây dựng hồ chứa nước Baray khổng lồ dài 7 km và rộng tới 2 km, vừa tăng cường khả năng phòng thủ cho kinh đô, vừa là công trình thủy lợi cho nông dân canh tác trong mùa khô. Những bi ký có niên đại thuộc triều vua Yacovarman I phân bố khá rộng, từ Hạ Lào lên phía Bắc, ở vùng biển vịnh Xiêm La, Hà Tiên, Champa thậm chí giới hạn biên giới còn đến tận Trung Quốc (nước Nam Chiếu). Ông mất vào khoảng đầu thế kỷ Xxvii. Vào thế kỷ X vương triều Angkor liên tục có sự thay thế các vị vua. Hai người con của Yacovarman I kế tiếp nhau trị vì từ năm 912 đến khoảng 928, sau đó là một người cậu của hai vị vua trên lên ngôi vào năm 928. Trên thực tế hình như đã có sự tiếm ngôi từ năm 921 bởi người cậu này – Jayavarman IV. Sau khi nắm quyền Jayavarman IV đã xây dựng cung điện mới của mình tại Koh Ker là những công trình kiến trúc có kích thước khổng lồ. Đáng chú ý ngôi đền Phnom Bakheng trên một ngọn đồi ở độ cao khoảng 1300 m so với mực nước biển, nằm giữa Angkor Vat và Angkor Thom. Đền Bakheng được xây dựng theo quan niệm Hindu giáo, tượng trưng cho đỉnh núi thiêng Meru ở trung tâm vũ trụ, theo ghi chép trong sử sách là một ngôi đền vĩ đại 7 tầng tháp tượng trưng 7 tầng vũ trụ. Trên đỉnh đặt pho linga vương quyền Tribhuvanecvara. Tuy nhiên hai mươi năm sau kinh đô này cũng bị phế bỏ để trở về kinh đô cũxviii. Con của Jayavarman IV là Harshavarman II nối ngôi chỉ khoảng 1, 2 năm, ông mất lúc còn khá trẻ. Một người anh em họ về đằng mẹ của ông là Rajendravarman lên cầm quyền. “ Ngay lập tức ông thực hiện việc nối lại những truyền thống Angkor bằng cách trở về đóng đô ở Yacodharapure và đem rước tượng Thần – Vua về đó ”. Từ đó ông cho xây dựng lại “ kinh đô thần thánh ” trước đó bị bỏ hoang trở thành một “ đô thành lộng lẫy và duyên dáng ” có nhiều đền tháp thờ Thần – Vua, nhưng cũng có công trình thờ Phật “ chứng tỏ sự phát triển liên tục của Phật giáo đại thừa trong một số giới xã hội ”. Thời kỳ trị vì của Rajendravarman còn có cuộc chiến đánh Champa vào năm 945 – 946 “ quân đội Khmer đã đem về được bức tượng bằng vàng của đền thờ Po Nagar ở Nha Trang ”. Vua Rajendravarman không còn trị vì vào năm 968. Jayavarman V (con của Rajendravarman) nối ngôi, trị vì khoảng 30 năm (đến 1001) cũng tiếp tục xây dựng những cung điện mới. Tuy triều đình và nhà vua vẫn theo Siva giáo nhưng Phật giáo tiếp tục phát triển, nổi bật là thờ cúng Bồ tát Lokecvara (Avalokitesvara – Quan Âm Bồ Tát). Đầu thế kỷ XI người cháu của Jayavarman V nối ngôi nhưng chỉ được vài thángxix. Một vài đặc điểm của vương triều Angkor giai đoạn này. Trong vài thế kỷ (VI–X), lịch sử Chân Lạp đã diễn ra một quá trình chuyển biến hết sức phức tạp. Từ các tiểu quốc đã dần có sự vận động, kết tụ để rồi hình thành nên vương quốc trung tâm – vương triều Angkor có thế lực nhấtxx để bước vào thời kỳ ổn định và bắt đầu xây dựng vương quyền và nền văn minh Angkor huy hoàng, có vai trò và ảnh hưởng quan trọng đến khu vực Đông Dương, đến các vương quốc của người Thái ở lưu vực sông Mê Kông và Mê Nam. Nguồn tài liệu trực tiếp về giai đoạn này chủ yếu là bi ký của các triều vua, nội dung phản ánh về triều đình và giới tăng lữ cao cấp, việc xây dựng những công trình của kinh đô và kiến trúc tôn giáo. Có thể nói những hoạt động liên quan đến tôn giáo – Siva giáo và sau đó là Phật giáo – là nội dung cơ bản mà bi kí của các triều đại trong thế kỷ IX – X để lại. Sự gắn kết “ Vương quyền và Thần quyền ” thể hiện rõ ràng trong quy hoạch và kiến trúc kinh đô như “ của một vị thần dưới đất hơn là một nhà cai trị ”. Chính quyền nằm trong tay một nhóm quý tộc, chức vụ cao cấp thuộc về hoàng gia, quan trọng là chức vụ tư tế của nhà vua – chủ lễ tế Thần-Vua. Sự nối tiếp ngôi vua thường do người họ hàng bên mẹ – người con trai của các chị em gái. Tình trạng hôn nhân giữa hoàng gia và tăng lữ Balamon phổ biến tạo thành đẳng cấp cao, riêng biệt, mang nhiều tri thức văn hóa Ấn Độ. Thời kì này Siva giáo vượt trội nhưng Phật giáo bắt đầu phát triển và ngày càng lan rộng trong nhiều tầng lớp xã hội. Trong thế kỷ IX - X việc xây dựng những ngôi đền như Kulen, Bakheng, những kiến trúc lớn như Koh Ker, Banteay Srei, Takeo... đã để lại dấu ấn nghệ thuật kiến trúc và trang trí mà chỉ có Angkor Vat sau này mới vượt quaxxi. Phần lớn những công trình kiến trúc đồ sộ mang tính chất thờ cúng của vương triều và tầng lớp quý tộc, không bắt nguồn từ lòng sùng tín của nhân dân. Nội dung các bi ký gần như không phản ánh về đời sống xã hội nói chung. Tuy nhiên, những công trình vĩ đại này chính là thành quả lao động sáng tạo và tài năng của người dân Khmer. II. Vùng đất Nam Bộ giai đoạn từ thế kỷ VIII đến thế kỷ X Đây là thời kỳ “ vương quốc Phù Nam ” không còn hiện diện trong lịch sử bang giao và thương mại với các quốc gia khác. Tuy nhiên trên một vùng đất quan trọng của nó, đời sống của các cộng đồng dân cư vẫn tiếp diễn trên cơ sở kinh tế - xã hội phát triển rực rỡ của vương quốc Phù Nam. Đó là vùng đất Nam Bộ – Việt Nam ngày nay. Bằng chứng sự hiện diện của vương quốc Phù Nam để lại bằng một nền văn hóa khảo cổ độc đáo, đó là nền văn hóa Óc Eo – một phần quan trọng của văn minh Phù Nam “ nền văn minh mà quốc gia này đã tạo dựng nên trong thung lũng sông Mê Kông, sẽ chuẩn bị cho sự bừng nở của nền văn minh Khmer, một trong những bông hoa tươi đẹp nhất mà nền văn minh Ấn Độ đã đem chiết ghép được ở miền Ấn Độ bên kia sông Hằng ”xxii. II.1. Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam Khái niệm Văn hóa Óc Eo hình thành từ sau cuộc khai quật khảo cổ học quy mô lớn đầu tiên của L. Malleret vào năm 1944 tại khu vực Óc Eo – Ba Thê (nay thuộc huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang). Nền văn hóa này có phạm vi phân bố ở vùng hạ lưu sông Mê Kông, tập trung trên vùng đất Nam bộ (VN). Đây là một trung tâm quan trọng của vương quốc Phù Nam. Các di tích có quy mô khá lớn, trong đó “ đô thị Óc Eo ” có diện tích rộng tới 450 ha mang đặc điểm một cảng thị với tiền cảng Tà Keo (Cạnh Đền) cách đấy 15 km. Tính chất cảng thị thể hiện qua vị trí địa lý của thành thị Óc Eo và các di vật có nguồn gốc từ Ấn Độ, Điạ Trung Hải, Trung Đông, Trung Hoa... làm cho văn hóa Óc Eo mang đậm yếu tố “ ngoại sinh ” bên cạnh yếu tố nội sinh được phát hiện ngày càng nhiều từ văn hóa tiền sử Đồng Naixxiii. Xã hội Óc Eo là một xã hội phát triển nhiều ngành nghề thủ công như nghề gốm, nghề luyện đồng, luyện sắt, luyện thiếc, nghề kim hoàn. Đặc biệt nông nghiệp và thương nghiệp lúc này đã khá phát triển với một loạt chứng cứ như những công trình thuỷ lợi cổ, kênh rạch vừa tưới tiêu vừa là đường giao thông. Sản phẩm thủ công thể hiện sự chuyên hoá, những đồng tiền bằng vàng, bạc, thiếc còn nguyên hay cắt làm tư làm tám, các loại trang sức, con dấu bằng đá quý, thuỷ tinh, nhiều sản phẩm có nguồn gốc ngoại nhập. Nền văn hoá này còn để lại nhiều kiến trúc khác nhau như vết tích nhà sàn, những kiến trúc tôn giáo Ấn Độ đồ sộ bằng gạch đá thể hiện trình độ cao trong kỹ thuật xây dựng. Nghệ thuật tạc tượng điêu luyện gồm hai nhóm tượng Ấn Độ giáo và Phật giáo. Ngoài ra còn tìm thấy chữ Phạn trên các con dấu, mặt nhẫn, bia đá… Điạ bàn sinh tụ của cư dân văn hóa Óc Eo rất rộng lớn nhưng họ đã thích ứng được với mọi hoàn cảnh, tạo lập cuộc sống ổn định và phát triển một nền văn hoá đặc sắc. Di tích kiến trúc gồm di tích cư trú, kiến trúc đền tháp, vật liệu xây dựng chủ yếu là gỗ, gạch, đá, dấu tích các cọc nhà sàn và một số cấu kiện trang trí hoa văn, phế tích hay nền móng đền tháp. Gỗ và đá là nguyên vật liệu cư dân bản điạ quen dùng từ thời tiền sử còn gạch là vật liệu mới do tiếp thu kỹ thuật cuả Ấn Độ từ đầu Công nguyên. Hầu hết phế tích cho biết đây là đền tháp tôn giáo Ấn Độ có bình đồ hình vuông, nền móng dày đến hơn 1m xây bằng gạch, đất sét và đá sỏi để có thể chịu lực của công trình đồ sộ bên trên. Giữa lòng tháp có “hố thiêng” hình chữ nhật hay hình phễu, bên trên ốp gạch hay lát đá tạo thành bề mặt khá bằng phẳng. Trong hố thiêng có cát trắng và nhiều hiện vật quý giá như các mảnh vàng chạm khắc những biểu tượng cuả Bàlamôn hay Phật giáo, đồ trang sức. Tượng thờ Bàlamôn và Phật giáo bằng đá và bằng gỗ, một số ít bằng đồng, được tìm thấy trong nhiều di tích và rải rác trên khắp vùng Nam bộ cả miền Tây và miền Đông. Giai đoạn phát triển rực rỡ nhất cuả nghệ thuật điêu khắc Hindu giáo và Phật giáo ở đây là từ thế kỷ V đến cuối thế kỷ VI. Sự đa dạng về loại hình và hình thức thể hiện đã phản ánh sự phức tạp và đan xen của các nguồn gốc ảnh hưởng trong đó chủ yếu là nghệ thuật Ấn Độ, đồng thời vẫn thể hiện rõ xu hướng hiện thực – bản địa hóa các hình tượng tôn giáo Ấn Độ. Truyền thống nghệ thuật tượng cổ ở đây còn được duy trì và phát triển trong giai đoạn sau, từ thế kỷ VIII trở đi (giai đoạn hậu Óc Eo)xxiv. Văn hóa Óc Eo thường được gắn với sự hình thành và suy tàn của vương quốc Phù Nam, từ thế kỷ I – VII. Tuy nhiên, căn cứ vào hệ thống di tích di vật trên địa bàn phân bố chủ yếu là miền Tây Nam Bộ, có thể nhận thấy tính chất và truyền thống của văn hóa Óc Eo phát triển và duy trì liên tục trong 10 thế kỷ. Như vậy niên đại của văn hóa này có “biên độ” rộng hơn niên đại của vương quốc Phù Nam. Một nền văn hóa của một quốc gia luôn có sự phát triển từ nguồn gốc và truyền thống còn được duy trì một thời gian dài sau khi quốc gia đó không còn tồn tại. Một nghiên cứu mới gần đây đưa ra khung niên đại khá hợp lý cho ba giai đoạn của văn hóa Óc Eo từ thế kỷ I đến thế kỷ X : Óc Eo sớm thế kỷ I – III, Óc Eo phát triển thế kỷ IV – VII và Óc Eo muộn thế kỷ VIII - Xxxv (cách gọi truyền thống là giai đoạn “Hậu Óc Eo”). II.2. Vùng đất Nam Bộ giai đoạn Óc Eo muộn (thế kỷ VIII – X) Trong giai đoạn này vùng đất Nam bộ có những thay đổi về môi trường. Một trong những nguyên nhân tác động lớn đến cảnh quan tự nhiên là do đợt biển tiến Flandrian. Từ năm 50 trước Công nguyên đến năm 550 sau Công nguyên, mực nước biển ở Nam Bộ thấp hơn mực nước biển ngày nay khoảng 0,5m và đây cũng là thời kỳ hình thành văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam. Từ năm 550 đến năm 1150, nước biển dâng cao hơn mực nước biển ngày nay 1m. Hiện tượng tự nhiên đó góp phần làm cho văn hóa Óc Eo bị tàn lụi, khiến vùng đất Nam Bộ dần bị hoang hoáxxvi. Một số ghi chép trong thư tích cổ miêu tả Thủy Chân Lạp là “một nước có bờ biển bao quanh và nhiều hồ lớn” hay “một vùng đầm lầy rộng lớn”... cho biết cảnh quan là vùng châu thổ ven biển, rộng lớn, bằng phẳng, nhiều sông ngòixxvii. Cho đến những thế kỷ về sau cảnh quan hoang sơ như vậy vẫn tồn tại như ghi chép của Chu Đạt Quan trong Chân Lạp phong thổ ký vào cuối thế kỷ XIII : vùng đất từ biển vào theo con sông rộng lớn và chằng chịt nhiều sông nhỏ, đi vài ngày chưa hết rừng rậm mênh mông, nhiều nuông thú, đất bỏ hoang gần như không có dân cư... xxviii Dù có những thay đổi về chính quyền từ thế kỷ VII nhưng thời gian sau đó, thế kỷ VIII – X cuộc sống của cư dân cổ đồng bằng sông Cửu Long vẫn tiếp diễn trong sự thích ứng cao nhất với điều kiện tự nhiên và bằng sự duy trì truyền thống (vật chất, tinh thần) của văn hóa Óc Eo. Sau khi bị Chân Lạp tấn công vào giữa thế kỷ VI, nước Phù Nam phải dời kinh đô của mình từ Ba Phnom (Vyadhapura) tới một địa điểm ở quá về phía Nam có tên là Na-fou-na (Na Phật Na)... nơi Phù Nam vẫn có thể tồn tại qua một thời gian trong một tỉnh xưa kia của mìnhxxix. Na Phật Na chính là kinh đô đầu tiên và cuối cùng của vương quốc Phù Nam, trung tâm là vùng đất Óc Eo (An Giang) ngày nayxxx. Đây là giai đoạn vùng đất Nam Bộ trên danh nghĩa bị đặt dưới quyền kiểm soát của Chân Lạp, nhưng thực tế việc cai quản vùng lãnh thổ mới này được ghi nhận là do những người thuộc dòng dõi Vua Phù Nam. Phù Nam sụp đổ cùng với truyền thống kinh tế thương mại đường biển của một bộ phận dân cư khu vực đô thị – cửa biển – cảng thị Óc Eo – Ba Thê – Nền Chùa, nhưng những cộng đồng cư dân ở các tiểu vùng khác vẫn tiếp tục lối sống truyền thống : kinh tế nông nghiệp và khai thác sản vật tự nhiên. Bên cạnh đó “ một bộ phận cư dân Chân Lạp đã di cư đến vùng châu thổ sông Cửu Long. Nhưng họ không đủ đông và chưa đủ mạnh để khai thác mọi vùng đầm lầy hoang dã của miền tây Nam bộ. Họ chỉ quần cư thành từng phum sóc trên các giồng đất cao thềm sông cổ, ven biển hoặc xung quanh vùng Bảy Núi ”xxxi. Trên các tiểu vùng khác dấu tích cư dân bản địa để lại cũng khá phong phú, đó chính là lớp cư dân Óc Eo giai đoạn muộn. Tại khu vực đồng bằng thấp – tứ giác Long Xuyên. Đây là khu vực phát triển quan trọng nhất của văn hóa Óc Eo thời vương quốc Phù Nam, tập trung số lượng lớn di tích, mật độ dày đặc và có những di tích nổi tiếng nhất. Từ sau thế kỷ VII số lượng di tích giảm đi rõ ràng, không còn sự hiện diện của những di tích quan trọng. Tuy nhiên khu vực này lại tìm thấy một số điêu khắc bằng đá mang phong cách tiền Angkor và Khmer, kích thước nhỏ. Riêng pho tượng Visnu (chùa Linh Sơn) có kích thước lớn và mang đặc trưng riêng. Tại vùng trũng Đồng Tháp Mười. Trong thời kỳ Phù Nam đây là một trung tâm lớn, phát hiện nhiều điêu khắc gỗ Phật giáo nổi tiếng và điêu khắc đá Hindu. Nhưng đến giai đoạn này chỉ còn phát hiện những mảnh gốm niên đại đến thế kỷ XI – XIII mà không còn dấu tích kiến trúc lớn như di tích Gò Tháp của giai đoạn trước. Vùng thềm cổ các sông ở miền Đông Nam bộ. Dấu tích dân cư sinh sống từ thế kỷ VII, VIII về sau phát hiện được khá nhiều. Tuy nhiên về quy mô, mức độ tập trung không bằng các vùng đất thấp miền Tây trong giai đoạn trước. Các dấu vết ghi nhận cuộc sống của con người thời kỳ này là các kiến trúc, nơi cư trú, ngoài ra còn tìm được bến cảng sông. Giai đoạn này địa hình nơi cư trú cũng đa dạng hơn nhưng cư dân cư trú chủ yếu trên các gò đất sét pha cát diện tích không lớn lắm, thời gian cư trú ngắn (tầng văn hóa mỏng) và hiện vật khá ít : chủ yếu là những mảnh gốm thô, mịn mang đặc điểm của truyền thống văn hóa Óc Eo, ít tìm thấy những hiện vật bằng kim loại, đá quý… Nhiều đền Hindu cũ còn được sử dụng và tu bổ lại trên nền móng cũ như: đền thần Shiva Linh Sơn Nam (An Giang), đền thần Mặt Trời Gò Bà Chúa Xứ (Đồng Tháp), đền thần Shiva Gò Đồn (Long An), khu đền Hindu Gò Thành (Tiền Giang)... Cùng với nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc thời kỳ này để lại những tác phẩm bằng đá và đồng chủ yếu là tượng Phật giáo và Hindu giáo, kích thước nhỏ, thường được tìm thấy tập trung trong một vài địa điểm. Bên cạnh truyền thống điêu khắc tượng của văn hóa Óc Eo, nghệ thuật điêu khắc trang trí xuất hiện yếu tố của nghệ thuật “tiền Angkor”. Thông qua các tượng thờ có thể thấy Phật giáo hầu như không còn có mặt từ sau thế kỷ VIII. Vishnu giáo vẫn phổ biến. Từ thế kỷ IX – XI Siva giáo và việc thờ Siva phát triển. Đồ gia dụng chủ yếu là đồ gốm phát triển cao hơn về độ nung và kỹ thuật trang trí, tạo ra một phong cách mới thường gọi là “gốm Khmer”. Các nghề thủ công rực rỡ trước đây như thủy tinh, kim hoàn, đá quý... suy thoái, biểu hiện sự “biến mất” của kinh tế thương mại đường biển. Nhìn chung giai đoạn này không còn nhìn thấy ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Ấn Độ như trong thời kỳ văn hóa Óc Eo phát triển. Truyền thống Óc Eo còn kéo dài và ngày càng mang tính “địa phương hóa”. Có một số yếu tố ảnh hưởng từ khu vực hải đảo (Java, Dvaravati), yếu tố văn hóa Khmer tập trung ở khu vực giồng cát, gò thấp miền Tây Nam Bộxxxii. III. Quan hệ giữa vương triều Angkor và vùng đất Nam Bộ trước sau thế kỷ X. III.1. Về kinh tế - chính trị Quá trình biến đổi điều kiện tự nhiên là nguyên nhân quan trọng làm cho vương quốc Phù Nam suy yếu và kết cục bị Chân Lạp thôn tính. Tuy nhiên sự thay đổi về chính trị sau đó không gây ra những thay đổi lớn ở “Thủy Chân Lạp” mà chính là sự thay đổi trong phương thức kinh tế cơ bản (thương mại đường biển cùng thủ công nghiệp mất vai trò chủ đạo, kinh tế nông nghiệp vùng hạ lưu sông Mekong gặp khó khăn do nước biển dâng) đã làm cho vùng đất này mất đi sự sầm uất, khu vực trung tâm và đô thị trở nên hoang vắng, các cộng đồng dân cư tản mát sinh sống trên các địa hình cao như gò, giồng hoặc lui về vùng phù sa cổ lưu vực Đồng Nai – Vàm Cỏ. Mặt khác, nền kinh tế chính của Lục Chân Lạp là nông nghiệp trồng trọt trên vùng địa hình cao và khô, họ phải đào hồ trữ nước vào mùa mưa để tưới ruộng vào mùa khô. Còn cư dân Thủy Chân Lạp tiếp tục nền nông nghiệp trên vùng đất thấp trũng và thường xuyên ngập lụt nên phát triển kỹ thuật “dẫn thủy nhập điền”. Hai tập quán làm nông nghiệp khác nhau nên tập quán, lối sống và quan niệm về tự nhiên, xã hội cũng có sự khác biệt. Sự khó khăn khi phải cai quản vùng đất thấp với một phức hệ nước bao gồm biển, sông, kênh rạch, đầm hồ và cả những vùng ruộng trũng mênh mông, một phương thức kinh tế khác lạ... nên trong thời gian khá dài ảnh hưởng của Lục Chân Lạp đến “vùng đất mới” cũng bị hạn chế. Do vậy, việc quản lý Thủy Chân Lạp vẫn phải giao cho những người thuộc dòng dõi quý tộc, quan lại thuộc vương quốc Phù Nam trước đâyxxxiii. Có thể giải thích được điều này vì nhà vua Chân Lạp Bhavavarman (thế kỷ VI) là dòng dõi vua Phù Nam “ Bhavavarman thuộc hàng tộc của Phù Nam và trở thành vua Chân Lạp do cuộc hôn nhân của ông với công chúa xứ này... Cuối cùng người ta cũng hiểu tại sao các nhà vua Chân Lạp, kế vị các nhà vua Phù Nam đã chấp nhận truyền thuyết vương triều về Kaunnydinya và Nagi. Trên thực tế họ chỉ làm công việc gìn giữ những tài sản của riêng họ. Bởi vì Bhavavarman bản thân cũng là một ông hoàng Phù Nam ”xxxiv. Tuy nhiên, Lục Chân Lạp đang trong giai đoạn thống nhất và xây dựng vương triều (như phần trên đã nói), vì vậy sự ưu tiên của các vị vua luôn hướng đến vùng đất có thể đảm bảo an toàn về quân sự, mở rộng ảnh hưởng về chính trị và mang lại nguồn lợi kinh tế nhất định, trong bối cảnh xã hội không có nhu cầu bức thiết về địa bàn cư trú cũng như nguồn lương thực thực phẩm – một nhu cầu mà vùng Thủy Chân Lạp có thể đáp ứng nhưng lại là địa bàn bất lợi cho các cuộc chiến. Có thể nhận thấy địa bàn hoạt động của Chân Lạp chủ yếu trong vùng nội địa phía Nam Đông Dương, từ vĩ độ 11,50° bắc trở lênxxxv. Việc Chân Lạp chinh phục Phù Nam nằm trong một hiện tượng khá phổ biến ở Đông Nam Á : Ở Cao Miên cũng như ở Xiêm và Miến Điện, các nhà vua đã thường xuyên cố gắng để đem lại sự thống nhất giữa hai miền đối lập về địa lý (vùng cao – vùng thấp, miền núi/cao nguyên – đồng bằng/ven biển), kinh tế và đôi khi là sắc tộc, nhưng sự phân biệt giữa hai miền đó vẫn có khuynh hướng tái phát mỗi khi mà chính quyền trung ương tỏ ra có dấu hiệu suy yếuxxxvi. Đó là vì những miền đất thấp luôn có sức hút tạo ra những đợt di cư thường xuyên trong lịch sử dân cư Đông Nam Á. Chân Lạp là một quốc gia Khmer đơn thuần, khép kín trong vùng rừng núi cao nguyên trung du sông Mê Kông, không quen thuộc biển cả. Còn Phù Nam (vùng Thủy Chân Lạp) là một quốc gia chủ yếu mang bản sắc văn hóa biển và phát triển nhờ biển, nhưng đến lúc này các cảng thị mất vai trò và thương nghiệp đường biển không còn là nguồn lợi quan trọng như thời kỳ Phù Nam. Trong hoàn cảnh đó các triều vua Chân Lạp trong thế kỷ VII - X đã thực hiện những hoạt động củng cố lãnh thổ và quyền lực chính trị, quân sự bằng việc dời/lập/xây dựng kinh đô mới, xây dựng nhiều công trình tôn giáo hoành tráng và nghi lễ nhằm tôn vinh các vị Thần và chính mình – Vua, tiến hành chiến tranh với quốc gia láng giềng (tình trạng chiến tranh diễn ra thường xuyên giữa Chân Lạp và Champa)... Qua đó thể hiện một chính quyền trung ương mạnh mẽ, hạn chế sự “phân biệt” thậm chí dẫn đến ly khai cát cứ của các vùng miền. Nhiều nhà nghiên cứu đã nói về quá trình “Ấn Độ hóa” ở Đông Nam Á được biểu trưng bằng tình trạng các quốc gia mandala. Thuật ngữ mandala trong ngôn ngữ Ấn Độ cổ xưa để chỉ các vương quốc gồm nhiều tiểu vùng / tiểu vương đã được sử dụng để chỉ một loại hình thể chế chính trị rộng lớn hơn ở các quốc gia Đông Nam Á cổ đại. Theo sử gia O.W.Wolters thì “ mỗi một Mandala gồm một số tiểu thủ lĩnh phụ thuộc mà một số có thể từ bỏ quy tắc phụ thuộc khi có thời cơ và cố gắng lập một hệ thống phụ thuộc của mình, tự gia tăng các mạng lưới chư hầu của mình. Chỉ có Mandala tôn chủ mới có quyền nhận cống nạp và cử đại diện của mình đến để thể hiện vị trí tôn chủ ”xxxvii. Phù Nam, Champa hay vương triều Angkor là những quốc gia có cấu trúc kiểu mandala. Thời kỳ cực thịnh đế chế Angkor bao phủ chính thể mandala của mình trên khắp khu vực rộng lớn ngày nay là Campuchia, châu thổ Mekong và một phần của Lào và Thái Lan. Có thể cho rằng, cấu trúc chính trị mandala và những hoàn cảnh, điều kiện trên đây đã làm cho mối quan hệ chính trị – kinh tế giữa vương triều Angkor và vùng đất Nam Bộ khá lỏng lẻo, chính quyền hầu như không có tác động gì đến vùng đất này. III.2. Về văn hóa – xã hội Nếu về chính trị – kinh tế sự tác động của vương triều Angkor đến vùng đất Nam Bộ gần như không có gì, thì về văn hóa – xã hội giữa hai vùng đất này vẫn có những ảnh hưởng qua lại nhất định. Văn bia Baksay Chamkrong (thế kỷ X) có nói về truyền thuyết nguồn gốc của người Khmer và vương quốc Chân Lạp. Họ tự coi mình là con cháu của đại ẩn sĩ tên là Kambu Svayambhuva và tiên nữ Mera. Hậu duệ của Kambu – Kambuja đã trở thành tên nước Kampuchia và đôi thần tiên thủy tổ Kambu – Mera được ghép và chuyển âm thành tên tộc Khmerxxxviii. Tuy nhiên sự tích này không có trong những văn bia trước đó, vì vậy có khả năng việc đặt tên và kể lại truyền thuyết “được bắt chước và nghĩ ra khá muộn”xxxix khoảng thế kỷ X, để đối xứng với truyền thống Soma – Kaundianya của Phù Nam. Mặt khác, thế kỷ VII cả hai vùng Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp đều thuộc về Phù Nam – một quốc gia Ấn Độ hóa, “ sự Ấn Độ hóa cần được hiểu về bản chất như sự truyền bá một nền văn hóa có tổ chức được xây dựng trên quan niệm của Ấn Độ về vương quyền, có đặc trưng là những lễ thức thờ cúng Hindu hoặc Phật Giáo, thần thoại trong Puranas, sự tuân thủ giáo luật Dharmacastras và có phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ Phạn ”xl. Do đó sự đồng dạng về văn hóa, nhất là nghệ thuật tôn giáo được duy trì lâu dài. Căn cứ trên những sự kiện lịch sử, các phong cách nghệ thuật của mỗi thời kỳ, các nhà nghiên cứu phương Tây đã lấy văn minh Angkor làm tiêu chuẩn, phân chia thành các thời kỳ khảo cổ ở vùng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long như sau: Thời kỳ Tiền Angkor : thế kỷ VI–VII – cuối thế kỷ VIII. Thời kỳ chuyển tiếp : đầu thế kỷ IX– cuối thế kỷ IX. Thời kỳ Angkor : cuối thế kỷ IX – giữa thế kỷ XV. Thời kỳ hậu Angkor : giữa thế kỷ XV trở về sauxli. Trong đó thời kỳ Tiền Angkor và Thời kỳ chuyển tiếp tương ứng với thời kỳ Chân Lạp trong lịch sử. Trên địa bàn Nam Bộ sự tương ứng này không chỉ về niên đại mà còn thể hiện qua những di tích di vật tuy không phong phú nhưng cho thấy, bên cạnh sự duy trì truyền thống Óc Eo đã có một số ảnh hưởng về kỹ thuật và phong cách nghệ thuật Khmer và Angkorxlii. Đặc biệt có thể nhận rõ sự phát triển liên tục tại ba trung tâm – ba tiểu quốc của vương quốc Phù Nam là tiểu quốc Na Phât Na, tiểu quốc Chinh phục từ đầm lầy và tiểu quốc Cát Tiên xliii (Tây và Đông Nam Bộ ngày nay). Tôn giáo cũng là một nguyên nhân quan trọng để vùng đất này duy trì truyền thống văn hóa – xã hội trong “chính thể” mới, đồng thời chính quyền Chân Lạp / vương triều Angkor chấp nhận điều đó. Từ thế kỷ V-IX, dưới ảnh hưởng của Hindu giáo những vị vua Đông Nam Á (cả lục địa và hải đảo) đã đồng nhất mình với thần Siva : “ vương quyền kết hợp với thần quyền ” biểu tượng là việc thờ thần Siva dưới dạng nhân thần hay phổ biến hơn là thờ linh vật Linga / Linga-yoni. Bên cạnh đó việc thờ Vishnu và Phật giáo cũng phổ biến, sau này Phật giáo phát triển hơn ở Chân Lạp. Những yếu tố gần gũi nhau về kiến trúc, điêu khắc tôn giáo giữa vùng đất Nam Bộ và Chân Lạp / vương triều Khmer cho thấy việc duy trì truyền thống văn hóa trở thành cơ sở quan trọng để Chân Lạp xây dựng và ổn định quốc gia mới. Chân Lạp cũng đã thừa kế và sử dụng không ít những yếu tố văn hóa của Phù Nam nói chung và Thủy Chân Lạp nói riêng trong quá trình xây dựng vương triều Angkor rực rỡ. Mặt khác, quan trọng hơn, điều đó cho thấy vùng đất Nam Bộ vẫn giữ “chủ quyền văn hóa” đã được xác lập từ trước đó, thời vương quốc Phù Nam. Thay lời kết luận Vào thế kỷ X khi vương triều Angkor bước vào giai đoạn phát triển thì trên vùng đất Nam Bộ, dân cư của “vương triều đã mất” về cơ bản vẫn duy trì lối sống truyền thống, trong nghệ thuật tôn giáo có sự tiếp thu một số yếu tố mới từ Angkor, từ Champa. Tuy vậy đời sống xã hội mất đi sự sôi động, như “một vùng đất bị bỏ quên” trong cảnh quan thiên nhiên hoang vu. Tình hình này kéo dài đến vài thế kỷ về sau. Trên bình diện rộng hơn, thế kỷ X bắt đầu “ kỷ nguyên độc lập dân tộc, mở đầu cho thời đại phục hưng trên toàn Đông Nam Á với đặc điểm nổi bật là sự trở lại chính mình, là sự khẳng định ý thức dân tộc, một nền văn hóa dân tộc đã định hình ”xliv đồng thời với một đặc trưng cơ bản và xuyên suốt lịch sử các quốc gia Đông Nam Á, đó là sự “thống nhất trong đa dạng” trên mọi lĩnh vực tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hóa. Trong bối cảnh đó, lịch sử – xã hội vùng đất Nam Bộ và mối quan hệ với vương triều Angkor trong khoảng một thế kỷ ngắn ngủi đã phản ánh sự đa dạng của các vùng miền đất nước ta trong lịch sử. Những khác biệt về tự nhiên, hoàn cảnh xã hội, điều kiện nội tại và những quan hệ, tác động từ bên ngoài (từ thế kỷ I – X là sự tiếp xúc và giao lưu với chính thể/văn hóa Hán và chính thể/văn hóa Ấn Độ ở hai miền Bắc – Nam) với những phương thức, mức độ và thời gian khác nhau làm nên sự đa dạng nàyxlv. Với tâm thế “ Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một ”, khi nghiên cứu lịch sử những vùng đất thuộc các vương quốc cổ xưa mà nay đã trở thành một phần lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc, càng cần sự khách quan nhận biết giá trị quan trọng của lịch sử – văn hóa những vùng đất này, tránh tâm thức “đồng nhất” những yếu tố “đa dạng” vốn có đã góp phần tạo dựng quốc gia Việt Nam “thống nhất” ngày nay. TÀI LIỆU DẪN 1. Phan Xuân Biên (2004), Nâng cao nhận thức về cội nguồn lịch sử vùng đất Nam bộ Việt Nam, Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo (1944-2004), TPHCM. 2. G.E. Coedes (2011) tái bản, Nguyễn Thừa Hỷ dịch, Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, NXB Thế giới. 3. Lê Xuân Diệm (2004), Quá trình hình thành châu thổ sông Cửu Long (tiếp cận từ địa sử học và thư tịch học), Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, Kỷ yếu Hội thảo nhân 60 năm phát hiện Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, TPHCM. 4. Vũ Minh Giang (2006), Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam bộ, Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2001 – 2006), Nxb Thế Giới, Hà Nội. Dẫn theo https://khoalichsu.ussh.vnu.edu.vn/ch-quyn-lanh-th-ca-vit-nam-tren-vung-t-nam-b/ ngày 06/05/2010. Truy cập lúc 15g ngày 8/8/2020. 5. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (1998) (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh. 6. Nguyễn Thị Hậu, Lê Thanh Hải (2010), Khảo cổ học bình dân Nam bộ VN từ thực nghiệm đến lý thuyết, NXB tổng hợp TPHCM. 7. Võ Sĩ Khải (2009), Giai đoạn chuyển tiếp từ Phù Nam đến Chân Lạp, Một số vấn đề về lịch sử vùng đất Nam bộ đến cuối thế kỷ XIX, NXB Thế giới. 8. Nguyễn Văn Kim (2017) (chủ biên), Vùng đất Nam bộ quá trình hình thành và phát triển, Tập III, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. 9. Phan Huy Lê (2016) (chủ biên), Vùng đất Nam bộ quá trình hình thành và phát triển, Tập I, NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật. 10. Lê Thị Liên, Tống Trung Tín (2009), Nam bộ sau khi vương quốc Phù Nam sụp đổ qua tư liệu khảo cổ học, Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam bộ đến cuối thế kỷ XIX, NXB Thế giới. 11. Phan Ngọc Liên (1997) (chủ biên), Lược sử Đông Nam Á, NXB Giáo dục. 12. Nguyễn Quốc Mạnh (2017), Một số vấn đề về văn hóa Óc Eo ở An Giang, Kỷ yếu HTKH. NXB Đại học quốc gia TPHCM. 13. Nguyễn Đức Nhuệ (2008), Vùng đất Nam Bộ từ sau diệt vong của vuơng quốc Phù Nam đến cuối thế kỷ XVII, Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo (1944-2004), NXB Thế Giới. 14. Lương Ninh (2006), Nước Phù Nam, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. 15. Châu Đạt Quan (2011), Hà Văn Tấn dịch, Chân Lạp phong thổ ký. NXB Thế giới. 16. Huỳnh Tâm Sáng (2014), Quá trình “Ấn Độ hóa” trong lịch sử ĐNA tiếp cận từ cơ sở bản địa hóa, http://www.sugia.vn/portfolio/detail/1207/qua-trinh-an-do-hoa-trong-lich-su-dong-nam-a-tiep-can-tu-co-so-ban-dia-hoa.html. Truy cập ngày 13.8.2020 17. Liêu Kim Sanh (1984), Hải xâm hải thoái xưa ảnh hưởng đến vùng đồng bằng Nam Bộ, Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long, Sở Văn hóa Thông tin An Giang, Long Xuyên. 18. Nguyễn Hữu Tâm (2008), Khái quát về Phù Nam – Chân Lạp qua ghi chép của các thư tịch cổ Trung Quốc, Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học 60 năm phát hiện văn hoá Óc Eo (1944 – 2004), NXB Thế Giới, Hà Nội, tr.298. 19. Đặng Văn Thắng (chủ biên), (2017), Các tiểu quốc thuộc vương quốc Phù Nam ở Nam bộ, NXB Đại học quốc gia TPHCM. 20. Đặng Văn Thắng, Nguyễn Hữu Giềng, Hà Thị Sương (2020), Na Phật Na kinh đô đầu tiên và cuối cùng của vương quốc Phù Nam, NXB Đại học quốc gia TPHCM. CHÚ THÍCH : i Vũ Minh Giang (2006), Chủ quyền lãnh thổ của Việt nam trên vùng đất Nam bộ, Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2001 – 2006), Nxb Thế Giới, Hà Nội. Dẫn theo https://khoalichsu.ussh.vnu.edu.vn/ch-quyn-lanh-th-ca-vit-nam-tren-vung-t-nam-b/ ngày 06/05/2010. Truy cập lúc 15g ngày 8/8/2020. ii Phan Huy Lê (2016) (chủ biên), Vùng đất Nam bộ quá trình hình thành và phát triển, Tập I, NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật, tr.362. iii Nguyễn Đức Nhuệ (2008), Vùng đất Nam Bộ từ sau diệt vong của vuơng quốc Phù Nam đến cuối thế kỷ XVII, Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo (1944-2004), NXB Thế Giới, tr.356. iv Nguyễn Hữu Tâm (2008), Khái quát về Phù Nam – Chân Lạp qua ghi chép của các thư tịch cổ Trung Quốc, Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học 60 năm phát hiện văn hoá Óc Eo (1944 – 2004), NXB Thế Giới, Hà Nội, tr.298. v Lương Ninh (2006), Nước Phù Nam, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr.151. vi Lương Ninh (2006), Sđd, tr.153. vii Nguyễn Hữu Tâm (2008), sđd, tr.302, 308. viii Đặng Văn Thắng (chủ biên), (2017), Các tiểu quốc thuộc vương quốc Phù Nam ở Nam bộ, NXB Đại học quốc gia TPHCM. ix Phan Huy Lê (chủ biên) (2016), Sđd, tr.366. x Phan Huy Lê (chủ biên) (2016), Sđd, tr.369. xi G.E. Coedes (2011) tái bản, Nguyễn Thừa Hỷ dịch, Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, NXB Thế giới, tr.181 xii G.E. Coedes (2011), sđd, tr.181 - 184 xiii G.E. Coedes (2011), sđd, tr.187-188 xiv G.E. Coedes (2011), sđd, tr.201 xv G.E. Coedes (2011), sđd, tr.203 xvi G.E. Coedes (2011), sđd, tr.189 xvii G.E. Coedes (2011), sđd, tr.206 xviii G.E. Coedes (2011), sđd, tr.208 xix G.E. Coedes (2011), sđd, tr.212 - 213 xx Nguyễn Văn Kim (chủ biên (2017), Vùng đất Nam Bộ quá trình hình thành và phát triển, Tập III, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.191. xxi G.E. Coedes (2011), sđd, tr.219 xxii G.E Coedes (2011), sđd, tr.126 xxiii Nguyễn Thị Hậu, Lê Thanh Hải (2010), Hệ thống di tích khảo cổ giai đoạn tiền Óc Eo, Khảo cổ học bình dân Nam bộ VN từ thực nghiệm đến lý thuyết, NXB tổng hợp TPHCM, tr.190-196 xxiv Nguyễn Thị Hậu, Lê Thanh Hải (2010), Văn hóa Óc Eo một nền văn hóa cổ ở Nam bộ, sđd, tr.183-185 xxv Nguyễn Quốc Mạnh (2017), Một số vấn đề về văn hóa Óc Eo ở An Giang, Kỷ yếu HTKH. NXB Đại học quốc gia TPHCM, tr.140 – 164. xxvi Liêu Kim Sanh (1984), Hải xâm hải thoái xưa ảnh hưởng đến vùng đồng bằng Nam Bộ, Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long, Sở Văn hóa Thông tin An Giang, Long Xuyên, tr.74-85. xxvii Lê Xuân Diệm (2004), Quá trình hình thành châu thổ sông Cửu Long (tiếp cận từ địa sử học và thư tịch học), Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo (1944-2004), NXB Thế Giới, tr.6 xxviii Châu Đạt Quan (2011), Hà Văn Tấn dịch, Chân Lạp phong thổ ký. NXB Thế giới, tr.20, 37 xxix G.E. Coedes (2011), sđd, tr131 xxx Đặng Văn Thắng, Nguyễn Hữu Giềng, Hà Thị Sương (2020), Na Phật Na kinh đô đầu tiên và cuối cùng của vương quốc Phù Nam, NXB Đại học quốc gia TPHCM. xxxi Phan Xuân Biên (2004), Nâng cao nhận thức về cội nguồn lịch sử vùng đất Nam bộ Việt Nam, Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo (1944-2004), TPHCM, tr.3 xxxii Lê Thị Liên, Tống Trung Tín (2009), Nam bộ sau khi vương quốc Phù Nam sụp đổ qua tư liệu khảo cổ học, Một số vấn đề lịch sử vùng đất Nam bộ đến cuối thế kỷ XIX, NXB Thế giới, tr.83-85 xxxiii Phan Huy Lê (chủ biên) (2016), sđd, tr.337-338. xxxiv G.E. Coedes (2011), sđd, tr.130. xxxv Võ Sĩ Khải (2009), Giai đoạn chuyển tiếp từ Phù Nam đến Chân Lạp, Một số vấn đề về lịch sử vùng đất Nam bộ đến cuối thế kỷ XIX, NXB Thế giới, tr 75 xxxvi G.E Coedes (2011), sđd, tr.132 xxxvii Huỳnh Tâm Sáng (2014), Quá trình “Ấn Độ hóa” trong lịch sử ĐNA tiếp cận từ cơ sở bản địa hóa, http://www.sugia.vn/portfolio/detail/1207/qua-trinh-an-do-hoa-trong-lich-su-dong-nam-a-tiep-can-tu-co-so-ban-dia-hoa.html. Truy cập 19g ngày 13.8.2020 xxxviii Lương Ninh (2006), Sđd, tr.153. xxxix Lương Ninh (2006), Sđd, tr.153. xl G.E Coedes (2011), sđd, tr.52 xli Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1998), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, tr.133-134. xlii Lê Thị Liên, Tống Trung Tín (2009), sđd, tr.86-88 xliii Đặng Văn Thắng (2017) (chủ biên), sđd, tr.409-414 xliv Phan Ngọc Liên (1997) (chủ biên), Lược sử Đông Nam Á, NXB Giáo dục, tr.31 xlv Nhận định sau đây của Coedes đã chỉ ra một nguyên nhân của sự khác biệt dẫn đến tính đa dạng ở ĐNA: “Những nước bị Trung Hoa chinh phục bằng quân sự đã phải tiếp nhận hoặc sao chép từ nước này những thiết chế, phong tục, tôn giáo, ngôn ngữ và văn tự. Ngược lại những nước mà Ấn Độ thu phục một cách hòa bình bằng uy tín của nền văn hóa của mình vẫn bảo tồn được bản chất và những cá tính của nước đó, và phát triển nó lên, mỗi nước tùy theo tính độc đáo của riêng họ. Chính điều đó giải thích rằng tại sao đối mặt với tính đồng nhất văn hóa của những nước bị Trung Hoa hóa, là sự đa dạng khác biệt, và trong một chừng mực nào đó, là tính độc đáo của những nền văn minh Khmer, Chăm, Java, mặc dù có chung một nguồn gốc Ấn Độ”. G.E. Coedes (2011), sđd, tr.82. Source: https://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/vuong-trieu-angkor-va-vung-dat-nam-bo-viet-nam-khoang-truoc-sau-the-ky-x

Vài suy nghĩ về chiến dịch chống dịch, phòng dịch COVID 19 và phục hồi kinh tế ở Thành Phố Hồ Chí Minh

Vài suy nghĩ về chiến dịch chống dịch, phòng dịch COVID 19 và phục hồi kinh tế ở Thành Phố Hồ Chí Minh Lê Văn Cường Chống dịch COVID 19: Phải chăng ta đã làm khổ ta? Thủ Tướng Phạm Minh Chính trong cuộc họp ngày 29/8 đã phát biểu: « Chúng ta đặt mục tiêu kiềm chế, kiểm soát dịch bệnh, song cũng xác định cuộc chiến này chúng ta đặt mục tiêu kiềm chế, kiểm soát dịch bệnh, song cũng xác định cuộc chiến này còn lâu dài, phải sống chung lâu dài với dịch bệnh, không thể khống chế tuyệt đối, phải thích ứng và có cách làm phù hợp; phòng là cơ bản, chiến lược lâu dài, chống là quan trọng, thường xuyên. » Phát biểu này đúng. Nhưng, có lẽ chúng ta nên đặt câu hỏi: Trong cuộc chiến với COVID 19, phải chăng chúng ta đã làm khổ chúng ta? * Trong năm 2020, với chủng nguyên thủy Việt Nam đã chống dịch rất thành công bằng cách đưa tất cả các ca F0 vào viện chữa trị. * Nhưng với chủng delta 2021, Việt Nam lúc ban đầu, cũng đã áp dụng chiến lược của năm 2020 nên đã bị quá tải. Dữ liệu gần đây của Việt Nam cho thấy là 80% ca F0 là tự họ hồi phục trở lại, Nếu khi kia, Việt Nam, dựa vào kinh nghiệm của các nước đã chống dịch trong năm 2020, chỉ đưa những ca F0 trở nặng hay những người cao tuổi, có bệnh nên, bị nhiễm COVID-19 thì các bệnh viện đã không bị quá tải. Không phải làm bệnh viện dã chiến tạo nên một cảm giác bất yên, có khi là hoảng hốt, của người dân. Từ quãng 15/9 Thành Phố Hồ Chí Minh đã đồng ý là không đưa tất cả các ca F0 vào bệnh viện. Những ý tưởng không nên đưa tất cả các ca F0 vào viện có được quán triệt bởi tất cả các lãnh đạo không? Bí Thư Hà Nội phát biểu (Báo Dân Trí, 29/09) : « trọng tâm là chuẩn bị các kịch bản ứng phó với dịch bệnh, bảo đảm ở mức cao hơn trên nguyên tắc là không để F0 phải điều trị tại nhà; phát hiện sớm, điều trị ngay, giảm tối đa các ca bệnh chuyển nặng, các ca tử vong. » Các ca F0 (ngay cả những ca không có triệu chứng), nếu không điều trị tại nhà thì đưa đi đâu, nếu không phải là bệnh viện (bình thường hay dã chiến)? Khó hiểu. * Phong toả: ở một số nước phương Tây, ví dụ ở Pháp, việc mà nhà nước quan tâm trước hết là làm sao để chuỗi cung ứng thực phẩm được đảm bảo. Trong năm 2020, ngay những lúc phong toả, người dân vẫn đi mua thực phẩm được, giá cả không tăng. Nhưng ở Thành Phố Hồ Chí Minh, trong những lúc phong toả, người dân đã thiếu lương thực vi chuỗi cung ứng bị nghẽn. * Phải chăng, những chỉ thị đưa ra về việc vận tải thực phẩm chưa thực sự rõ ràng nên mỗi tỉnh, mỗi vùng đưa ra một phương án kiểm soát những xe vận tải chở hàng hoá, đôi khi quá khắt khe, và làm hàng hoá bị khan hiếm một cách giả tạo. Nếu ngay từ đầu, chỉ thị rằng những người lái xe vận tải phải được test PCR. Nếu họ âm tính thì họ được lái xe vận tải chuyên chở hàng hoá. Tại các điểm dừng, yêu cầu những người lái xe phải ngồi xa xe của họ quãng 3m, để hàng hoá được bốc vác. Họ nên mang theo thức ăn. Nếu không, tại điểm dừng họ có thể gọi thức ăn. Thức ăn được mang đến cho họ một cách nhanh chóng. Để bị lây Covid-19 thì phải có một lượng tương đổi nhiều virut (cũng như bệnh AIDS). Nếu thức ăn được mang đến quãng 5 phút, thi xác suất bị nhiễm COVID sẽ vô cùng thấp. Nếu người lái xe phải ngủ qua đêm, thì tại điểm đó, nên bố trí khách sạn cho họ và yêu cầu người lái xe và những người phục vụ ở khách sạn tuân thủ những chỉ thị chống dịch (giữ khoảng cách, rửa tay, đeo khẩu trang). Nếu cẩn thận hơn, làm một test nhanh (15 phút) để xem họ có bị nhiễm covid hay không trước khi họ lái xe trở về. Lúc về lại điểm xuất phát ban đầu, làm một test PCR cho người lái xe. * Các điểm bán hàng: Sự tập trung vào các siêu thị để mua hàng hoá phải chăng đã làm tăng các ca nhiễm? Chúng tôi không biết đã có chỉ thị về số lượng người tới các siêu thị (vi dụ ấn định mỗi khách hàng phải có diện tích 4m vuông. Từ đó ấn định số người. Trong siêu thị, không biết đã có chị thị về các mũi tên hướng dẫn khách hàng lưu động trong siêu thị, để họ tránh phải giao nhau. Phải ấn định một số cửa ra cửa vào. Phải có người trực ở các cổng ra cổng vào. Nếu siêu thị ấn định chỉ được có 400 người cùng một lúc ở trong siêu thị, thì khi số lượng khách hàng đạt 400, thì không cho người vào thêm. Lúc nào có người đi ra, thì người trực ở cửa ra, thông báo cho người trực ở cửa vào, để cho phép người vào. Đáng lý nên cho phép mở các quầy hàng bán thực phẩm ở ngoài trời. Các quầy hàng phải tuân thủ như sau: mỗi quầy cách quầy bên cạnh 2m. Người bán hàng đeo khẩu trang. Khách mua hàng đeo khẩu trang , phải xếp hàng, người này cách người kia 2m. Chúng tôi không nghĩ việc cho phép bán hàng ngoài trời sẽ làm lây lan. Dĩ nhiên phải có những đội cảnh sát đi kiểm tra. Một ví dụ khác: chợ Bến Thành đóng cửa. Chúng tôi nghĩ là chợ Bên Thành vẫn có thể mở cửa với điều kiện là mỗi quầy hàng chỉ hoạt động một ngày trên hai ngày. Khi quầy hàng mở, thi quầy hàng bên cạnh đóng. Ngoài ra, trong chợ cũng phải vạch lối đi cho khách hàng. Và cũng có cổng ra cổng vào, có người trực như ở các siêu thị. Những đề nghị này của người viết bài này, không đi ngược lại chỉ thị 16 về việc tập trung đông người « Không được tập trung quá 2 người ngoài công sở, bệnh viện, trường học và nơi công cộng » vì vỉa hè là nơi công cộng. .* Chỉ thị, lúc phong toả, là"ai ở đâu thì ở đấy". Chúng tôi nghĩ là quá gắt gao. Đáng lý nên cho phép ở trong những vùng phong toả, người dân ở khu vực đó đi ra ngoài, đeo khẩu trang, mỗi ngày 1 hay 2 tiếng. Không được đi quá 2km căn hộ của họ. Ngoài ra xe máy, xe ôtô, không được đi quá 10km nếu không có giấy chứng nhận là họ phải di chuyển. Phong toả quá kỹ càng, có thể diệt dịch, nhưng lại tạo ra một số người bị khủng hoảng tâm thần. Ngoài ra cũng có thể tạo nên những sự xung đột trong gia đình vì bị "nhốt" trong căn hộ. Những chuyện này đã xảy ra lúc phong toả ban đầu ở Pháp. Trên đây là vài ý nhỏ, đơn giản. Biết đâu có thể làm không khí căng thẳng dịu xuống, trong lúc cần phải chống dịch mãnh liệt. Chiến lược tiêm vắc xin Mục tiêu của tiêm vắc xin là bảo vệ trước tiên những người cao tuổi (hơn 65 tuổi), những người có bệnh nền (suy tim, suy thận, béo phì, tháo đường, bị ung thư...) vì những đối tượng này chiếm 80 % các ca tử vong Covid 19. Đây là những đối tượng được gọi dễ bị "tổn thương"- (DBTT). Nhưng hiện nay Việt Nam đang làm chiến dịch tiêm vắc xin cho người dân từ 18 tuổi trở lên. Như thế không bảo đảm là một số đối tượng DBTT không bị " lọt sổ" Thử xem tình hình tiêm chủng hiện nay ở Việt Nam như thế nào? Theo báo Quân Đội Nhân Dân ngày 30/9: * Cả nước, từ 18 tuổi trở lên đã được tiêm 40,2 triệu liều. 44% đã được tiêm 1 mũi, 12% đã được tiêm 2 mũi. * Thành Phố Hồ Chí Minh, Hà Nội gần 100% dân số trên 18 tuổi đã được tiêm 1 mũi, 40% đã được tiêm 2 mũi. Ở Việt Nam tỷ lệ người dân trên 18 tuổi là quãng 73%. Như thế * Cả nước, 32,1% tổng dân số đã được tiêm 1 mũi, 9% dân số đã được tiêm 2 mũi. * Ở Thành Phố Hồ Chí Minh: 73% tổng dân số được tiêm 1 mũi, 29% được tiêm hai mũi. Nhiều chuyên gia dịch tễ ước lượng rằng, với chủng Delta của Covid 19, muốn được miễn dịch cộng đồng, phải hơn 80% tổng dân số được tiêm hai mũi. Như vậy, đến ngày 30/9 Việt Nam và thành phố Hồ Chí Mình còn rất xa "miễn dịch cộng đồng". Dân số thành phố Hồ Chí Minh là 9 triệu người. Dựa trên các con số phía trên ta suy ra là gần 8 triệu liều đã đuoc tiêm, cho đến ngày 30/9, ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Ngọc Anh, Trần Nam Bình, Lê Văn Cường trong bài « Lộ trình tiêm vắc xin chống Covid-19 cho mục tiêu kép mới của Việt Nam » (báo Tia Sáng, tháng 8, 2021) đã ước tính có 1,2 triệu người trên 65 tuổi và người dưới 65 có bệnh nền, ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Nếu ta giả sử là có 300.000 người ở tuyến đấu chống dịch, ta nên tiêm ưu tiên hai mũi cho 1, 5 triệu người này. Số vắc xin cho những người này sẽ là 3 triệu liều. Số lượng người lao động ở Thành Phố là 3,5 triệu. Với số 5 triệu liệu còn lại, toàn bộ người lao động sẽ được tiêm ít nhất 1 mũi. 1,5 triệu người lao động sẽ được tiêm hai mũi. Như vậy ta có thể yên tâm hơn vì những đối tượng DBTT và ở tuyến dầu chống dịch đã được bảo vệ. Người viết bài nầy đề nghị Chính Phủ Việt Nam nên thay đổi gấp chiến lược tiêm vắc xin. Nên tiêm ưu tiên cho những đối tượng dễ bị tổn thương và những người ở tuyến đầu chống dịch. Rồi sau đó tiếp tục tiêm cho những người lao động không có bệnh nền và những người dưới 65 tuổi. Phục hồi kinh tế ở Thành Phố Hồ Chí Minh Chúng ta thử nhìn về thị trường nội địa: các phòng Thương Mại quốc tế đề nghị nên mở các nhà hàng, quán bar (“The government should also consider the restaurant business as key to ensuring food”, VNEpress, 20/9, “Vietnam could lose foreign investment opportunities over slow reopening”). Nhưng, liệu người dân Sàigòn, trừ những người khá giả ít bị tổn thương vì Covid, thi đại đa số người dân hụt hẫng thu nhập thì làm sao đi nhà hàng? Ở Việt Nam, không có chính sách bảo đảm 80% tiền lương cho những người lao động bị thất nghiệp vì công ty họ phải đóng cửa (chính sách hỗ trợ này được áp dụng ở Pháp). Sau khi bỏ phong toả, họ sẽ sẽ không có tiền để đi nhà hàng. Ngoài ra, họ không có tiết kiệm để các doanh nghiệp, qua đấy, sẽ có thể vay vốn để khởi động lại. Người viết đánh giá là Chính Phủ Việt Nam đã sai lầm không sử dụng công cụ làm chính sách này vì có lẽ bị ám ảnh là sẽ bị thâm hụt ngân sách và nợ công. Thị trường bên ngoài: Có vẻ sáng sủa hơn. Một số nước trong khối EU (ví dụ Pháp, dự báo tăng GDP 6% trong năm 2021), và Mỹ đều có dự báo tăng trưởng cao trong năm 2021. Việt Nam có thể có cơ hội phục hồi kinh tế qua xuất khẩu. Nhưng liệu Thành Phố có thiếu lao động hay không khi những người ở các tỉnh miền Tây ồ ạt đi về quê vì họ không có phương tiện để tồn tại ở Thành Phố (“Không có đăng ký tạm trú không đủ điều kiện được hỗ trợ”). Thủ Tướng Phạm Minh Chính kêu gọi người di dân ở Thành Phố Hồ Chí Minh ở lại nhưng, cho tới bây giờ, chưa đưa ra biện pháp tài chính gì để thuyết phục họ ở lại hoặc trở về Thành Phố. Có hiểm nguy gì về phương diện y tế không? Phía trên, theo ước tính của chúng tôi, TP Hồ Chí Minh đã tiêm 2 mũi 29% tổng dân số. Còn xa với con số 80%, hay 90% để có miễn dịch cộng đồng1 . Như vậy, đứng về phương diện y tế, mở của trong lúc này, là"nguy hiểm". Nhưng người dân Thành Phố không thể chịu đựng hơn nữa phong toả và đóng cửa kinh tế. Nên người viết đồng ý Thành Phố phục hồi kinh tế trong điều kiện rất khó khăn. Kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quãng thời gian tới sẽ giống như một người "làm xiếc đi trên dây" (funambule/ropewalker< Lê Văn Cường 30/09/2021 3/10: Người viết bài này rất băn khoăn về thống kê tiêm vắc xin ở Việt Nam. Ngày 3/10, báo VnExpress cho biết ở Việt Nam đã tiêm 34,6 triệu liều, theo thống kê của Bộ Y Tế. Nhưng, theo báo Quân Đội Nhân Dân ngày 30/9, thì theo thông tin của Bộ Y Tế, ngày 29-9, đã tiêm 42.165.168 liều. Ai đúng ai sai? Nếu VnExpress và báo Quân Đội Nhân Dân trung thực, thì Bộ Y Tế làm việc không nghiêm túc khi đưa ra những con số lệch nhau ở mức độ cao như vậy (8 triệu= tổng dân số Hà Nội). Source: https://www.ladepeche.fr/2021/08/02/covid-19-ou-en-est-on-de-limmunite-collective-9710031.php

Friday, October 8, 2021

Trước trận túc cầu Việt Nam – Trung Quốc

Trước trận túc cầu Việt Nam – Trung Quốc Lê Học Lãnh Vân Khuya đêm nay rạng sáng ngày mai, đội tuyển Việt nam và Trung Quốc gặp nhau. Các trận đội Việt Nam gặp đội Trung Quốc luôn dấy trong tôi những nỗi niềm. Là người chịu ảnh hưởng văn hoá cổ Trung Quốc và xem người dân Trung Quốc như những người bạn gần gũi nhưng mỗi lần được tin đội tuyển túc cầu Việt Nam sắp vào trận đấu với đội tuyển Trung Quốc, lòng tôi bỗng chìm xuống. Từ năm 1974 tới nay, cả nước Việt Nam cũng đang vào trận đấu lâu dài và khó khăn với quốc gia Trung Quốc, hiện là Trung Cộng, đối thủ mà kinh nghiệm lịch sử cho biết luôn muốn nô dịch Việt Nam. Đối thủ đang hùng mạnh, đã thắng Việt Nam vài hiệp và đang tấn tới. Đây cũng là trận đấu của màu cờ sắc áo. Những dòng này muốn nói tới trận đấu kéo dài đã hơn 40 năm trên Biển Đông, Trung Cộng đã tấn công, giết chiến sĩ Việt và đang chiếm giữ nhiều hòn đảo cha ông người Việt đã dày công giữ gìn suốt mấy trăm năm! Họ cũng đẩy ngư dân Việt Nam ra khỏi ngư trường truyền thống. Người Việt có thể xem ngày 19/1/1974, khi Trung Cộng tiến chiếm Hoàng Sa, là ngày bắt đầu trận đấu. Trận đấu đang tiếp diễn, đối thủ chơi xấu và lấn át trên nhiều hướng khiến nhiều người Việt lo lắng. Lo lắng không chỉ vì Việt Nam đang dưới cơ đối thủ, mà còn vì lo sợ trong đội nhà có thể có người bán độ! Trận dịch mấy tháng qua đã bào mòn sức lực và ảnh hưởng tâm lý nặng nề tới Việt Nam. Các dây chuyền cung ứng bị đứt gãy khiến những công ty lớn rút khỏi Việt Nam cùng hàng trăm ngàn công nhân Việt Nam tháo chạy khỏi thành phố đầu tháng 10/2021 là vết thương quá lớn và đau lòng! Hình ảnh Việt Nam đã xấu đi rất nhiều trong mắt nhà đầu tư nước ngoài. Người Việt càng lo hơn cho trận đấu trên Biển Đông. Khác với trên sân bóng đá, nơi mà chiến thắng chỉ khiến màu cờ được phấn khởi tung lên và thất bại chỉ khiến người ủng hộ buồn bã, sự thất bại trong trận đấu trên Biển Đông có thể khiến những vùng lãnh thổ quan trọng bị mất thêm, ảnh hưởng nặng nề trên sự phát triển trong tương lai, và thậm chí trên sự tồn vong của Tổ Quốc. Lúc đó có màu cờ nào, dù là màu vàng hay đỏ, còn được kiêu hãnh tung bay? Trận đấu này quan trọng tới sự tồn vong như vậy mà hình như vẫn chưa đoàn kết được người Việt? Cho tới lúc này, đọc trên báo chí chính thống, thấy từ “thế lực thù địch” còn xuất hiện khá thường xuyên, phải chăng trong lòng đất nước vẫn còn quá nhiều thế lực thù địch nhau thay vì cộng tác nhau? Trong khi đại đa số người Việt ủng hộ Tổ Quốc Việt Nam, có không những người Việt ủng hộ đối thủ, cặp kè đàn ca múa hát với đối thủ, gắn vận mệnh mình vào vận mệnh đối thủ hơn là vào vận mệnh Tổ Quốc? Ngày 19/1/1974, Trung Cộng tiến công một số đảo trong quần đảo Hoàng Sa do Miền Nam quản lý. Ngay sau khi thất trận hải chiến, Miền Nam đã lập phi đội tái chiếm Hoàng Sa! Lúc đó không quân Miền Nam làm chủ không phận Hoàng Sa, kẻ xâm lược không có lực lượng không quân ra tới đó. Quả thực lúc đó Miền Nam có thể thiếu đạn cho cuộc chiến trường kỳ, nhưng để chiếm lại Hoàng Sa thì đủ sức. Nếu lúc đó chiếm lại được, chưa chắc Việt Nam phải mất thêm biển đảo về sau. Tiếc thay, việc tái chiếm không tiến hành được vì dân tộc không đoàn kết nhau! Việt Nam lúc đó bị chia hai và đang chiến tranh khốc liệt với nhau! Nếu đứng từ góc độ bảo vệ chủ quyền Tổ Quốc trước Trung Cộng, có phải đây là nỗi tiếc trăm năm? Chừng nào nỗi tiếc mới biến thành quyết tâm học bài học lịch sử? Phải chăng nếu người Việt cộng tác với nhau thay vì là thế lực thù địch của nhau, không đối thủ nào có thể lấn át được Việt Nam? Mà, chúng ta còn thì giờ để đoàn kết không? Mgày 07 tháng 10 năm 2021 Source: http://vanviet.info/van-de-hom-nay/truoc-tran-tc-cau-viet-nam-trung-quoc/