Sách trắng mới nhất của chính quyền
Trung Quốc về
Tây Tạng,
một lần nữa cho thấy sự thiếu
hiểu biết của Bắc Kinh về
lịch sử Tây Tạng và sự
ngoan cố không chịu
tiếp thu những
ý kiến đóng góp từ bên ngoài. 60 năm qua, Đảng Cộng sản
Trung Quốc (ĐCSTQ) đã một mực
phá hủy môi trường
tự nhiên Tây Tạng.
Báo cáo “
Cải cách dân chủ ở Tây Tạng – chặng đường sau 60 năm,” đã được
công bố ngày 27/3/2019 để kỷ niệm 60 năm
Trung Quốc chiếm đóng cao nguyên và
đàn áp người dân
Tây Tạng.
Với văn phong ngạo mạn mang tính thực dân,
báo cáo đã viết một chương ngắn về hệ sinh thái
Tây Tạng, cho rằng: “
Ở xứ Tây Tạng xưa, với một nền kinh tế cực kỳ kém phát triển, người dân chỉ có thể thuận theo môi trường tự nhiên – họ sử dụng bất cứ gì có thể khai thác được từ tự nhiên.”
Những lời này đã phủ nhận sạch trơn
lịch sử huy hoàng và những
nỗ lực bảo vệ môi trường của người
Tây Tạng trong hàng ngàn năm qua.
Tây Tạng và môi trường thiên nhiên
Trên
thực tế, người dân
Tây Tạng tin tưởng vào sự
linh thiêng của môi trường
tự nhiên, họ
sở hữu những
hiểu biết sâu sắc cùng kỹ năng để chung sống hài hòa với môi trường
xung quanh. Điều này đã góp phần vào
bảo tồn sự nguyên vẹn của cao nguyên cao
nhất thế giới cho tới trước khi
Trung Quốc xâm lược năm 1959.
Trong một bài viết đáp trả lại sách trắng về hệ sinh thái
Tây Tạng của
Trung Quốc do Chính quyền
Tây Tạng Trung Ương (CTA)
công bố vào tháng 12 năm 2018,
tác giả viết “
Suốt chiều dài lịch sử, người Tây Tạng đã bảo vệ và tôn trọng môi trường thiên nhiên của mình. Họ không chỉ thích nghi thành công với những biến đổi khí hậu liên tục của vùng cao nguyên, mà còn phát triển thành một nền văn minh thịnh vượng.”
Rất nhiều
nghiên cứu khoa học trong những năm
gần đây đã khẳng định
đức tin người dân
Tây Tạng vào sự
linh thiêng của những khu vực sinh thái quan trọng có
vai trò rất
tích cực trong
gìn giữ và
bảo tồn tự nhiên.
Theo các ghi chép
trong lịch sử Tây Tạng, những
nỗ lực bảo tồn thiên nhiên được tiến hành trên quy mô lớn từ rất sớm, ngay từ vương triều Tượng Hùng (Shang Shung) xa xưa huy hoàng. Sự
bảo tồn tiếp tục được
củng cố vào thế kỷ thứ 7 trong
thời gian trị vì của vua Songtsen Gompo, vị vua thứ 33 của
Tây Tạng.
Ông đã đưa ra sắc lệnh khiển trách những thần dân làm hại hay giết
động vật. Vị vua khởi đầu vương triều Phách Mộc Trúc Ba (Phagmodrupa) ở
Tây Tạng, Tai Situ Changchub Gyaltsen (1302-1364), cũng đã ban bố một chính sách
tài tình khi
yêu cầu trồng 200.000 cây xanh mỗi năm và
chỉ định một quan viên chuyên
bảo vệ những cây mới trồng.
Tương tự như vậy, những người nắm vương vị ở
Tây Tạng như
Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 và
Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 đều
ban hành những lệnh cấm săn bắt và chặt phá cây cối tại những khu vực sinh thái quan trọng.
Nhưng sau khi
Giải phóng quân của
Trung Quốc (PLA) tiến vào
Tây Tạng sau ba cuộc
đối đầu riêng rẽ ở
biên giới những năm 1950,
Tây Tạng bắt đầu
chứng kiến sự
phá hủy môi trường trên quy mô chưa từng có trước đây. Bài viết này sẽ phân tích ngắn gọn ba
vấn đề môi trường để đưa ra một góc nhìn nhanh về 60 năm
phá hủy môi
trường Tây Tạng của ĐCSTQ.
1. Săn bắn vô tội vạ làm động vật sụt giảm nhanh chóng
Cao nguyên
Tây Tạng, với diện tích 2,5 triệu cây số vuông, được các nhà
thám hiểm ví von là ‘một khu vườn sinh thái vĩ đại’. Một số nhà khoa học đã
so sánh sự đa dạng sinh học của nó với Rừng mưa Amazon.
Văn hóa Tây Tạng, vốn bị
ảnh hưởng sâu đậm bởi
tín ngưỡng Bon và
Phật giáo,
nghiêm cấm việc săn bắt vì
mục đích thương mại trên diện rộng.
Những người nắm quyền ở
Tây Tạng trước đây đã
ban hành các sắc lệnh cấm săn bắt tại một số khu vực sinh thái trong các giai đoạn
lịch sử khác nhau. Trước những năm 1950, có rất nhiều
thương nhân và người
hành hương Tây Tạng kể lại chuyện họ đi ngang qua những đồng cỏ xanh bạt ngàn với nhiều đàn thú hoang lớn.
Nhưng khi Trung Cộng
chiếm đóng, tập tục
tốt đẹp này của người dân
Tây Tạng đã bị phá vỡ. Nhiều người
Tây Tạng lưu vong cao tuổi đã tận mắt
chứng kiến binh lính PLA dùng súng máy
để hạ sát thú hoang.
Linh dương Tây Tạng (chiru) bị săn bắt để lấy lông, vốn có giá thị trường rất cao (Ảnh: Shutterstock)
Một số binh lính của PLA còn dùng thuốc nổ để đánh cá trên sông hồ. Việc này
tiếp diễn cho tới tận những năm 1990 bất
chấp sự phản đối của người dân
bản địa.
Chính quyền ĐCSTQ ở
Tây Tạng đã cấp giấy phép săn bắt các
động vật quý hiếm vì
mục đích thương mại, và rất nhiều quan chức đã lấy việc đi săn để
tiêu khiển.
Thái độ này của chính quyền đã khuyến khích việc săn bắn bất
hợp pháp trên quy mô lớn ở
Tây Tạng vào những năm 1980 đến đầu những năm 1990. Một số kẻ săn trộm bất cần thậm chí đã giết nhà
hoạt động Sonam Dhargay và những
tình nguyện viên
bảo vệ tự nhiên khác trong khu vực.
2. Các công ty lâm nghiệp quốc doanh chặt phá rừng gây nên lụt lớn
Cho đến năm 1949, những khu rừng ở
Tây Tạng che phủ một trong những khu
dự trữ sinh học lâu năm nhất ở
trung tâm châu Á, tập trung chủ yếu ở phía Đông Amdo, Đông Nam Kham và khu vực Kongpo của miền Nam
Tây Tạng. Nhưng sự
xâm lược của ĐCSTQ đã mở toang cánh cửa cho bè lũ phá rừng mang danh công ty nhà nước.
Trung Quốc là một trong những nước
tiêu thụ gỗ lớn
nhất thế giới, và họ đã gây ra nạn phá rừng với quy mô lớn chưa từng có
tiền lệ trên xứ này. Diện tích che phủ rừng của
Tây Tạng giảm từ 25,2 triệu hecta xuống chỉ còn 13,5 triệu hécta,
tương ứng 46%
trong khoảng thời gian từ năm 1950 tới năm 1985, với
giá trị thị trường theo
ước tính năm 2000 là 54 tỷ đôla.
Việc chặt phá rừng khủng khiếp ở một số vùng của
Tây Tạng đã gây ra trận lụt sông Trường Giang năm 1998 và trận lụt Drukchu năm 2010.
A. Trận lụt sông Trường Giang năm 1998
Trận lụt sông Trường Giang năm 1998 ở
Trung Quốc là một trong những trận lụt
tồi tệ nhất
trong vòng 44 năm. Theo các số liệu
chính thức của
Trung Quốc, nó đã giết chết hơn 3.000 người, khiến 15 triệu người mất nhà cửa và
ảnh hưởng tới 223 triệu người khác – chiếm gần 1/5 dân số
Trung Quốc.
Ước tính tổng
thiệt hại lên tới
40 tỷ USD.
Một
nghiên cứu sau thảm họa của các khoa học gia
Trung Quốc đã nêu tên nạn khai thác gỗ ở lưu vực sông Trường Giang,
đặc biệt ở khu vực
Tây Tạng – là một
nguyên nhân chính dẫn đến lụt lớn.
Phá rừng vô tội vạ ở
Tây Tạng cũng là
nguyên nhân chính được
nhấn mạnh trong
Báo cáo Cuối cùng của
Nhóm Điều phối và Đánh giá Thảm họa Liên Hợp Quốc (UNDAC)
công bố tháng 9/1998.
Báo cáo của Liên Hợp Quốc cho rằng
nguyên nhân chính của thảm họa là mưa lớn, tuyết tan
tích tụ trên cao nguyên
Tây Tạng và nạn phá rừng
kinh hoàng ở đầu nguồn con sông phía Đông
Tây Tạng.
Từ năm 1949 tới năm 1998, rừng ở miền Đông Kham đã tạo ra 241 triệu đôla tiền thuế và
lợi nhuận cho các công ty khai thác rừng
Trung Quốc. Việc khai thác gỗ
quá mức và không
bền vững tiếp diễn cho tới thảm họa năm 1998 diễn ra. Tuy vậy, những vụ phá rừng quy mô lớn vẫn
tiếp diễn ở nhiều vùng của Kongpo sau đó.
Điều này có lẽ đã tạo ra một số trận lụt và lở đất
gần đây tại khu vực này. Khai thác gỗ là ngành
sử dụng rất nhiều nhân công ở
Tây Tạng. Tính riêng vùng Kongpo đã có hơn 20.000 lính
Trung Quốc và tù nhân
Tây Tạng tham gia vào việc đốn và vận chuyển gỗ.
Một
báo cáo vào tháng 1/2019
cho biết lượng
tiêu thụ gỗ ở
Trung Quốc đã tăng 18% lên 192,5 triệu m3 gỗ
trong khoảng từ năm 2013 tới năm 2017.
B. Trận lụt Druchu năm 2010
Ngày 8/8/2010, lở đất và dòng bùn đá gây ra do mưa lớn đã
xuất hiện ở vùng Druchuthuộc tỉnh Amdo miền Đông Bắc
Tây Tạng. Theo các số liệu
chính thức của
Trung Quốc, bùn đá đã lấp đầy một khu vực dài 5km, rộng 300mm và sâu 5m với hơn 2 triệu m3 bùn đá chảy xuống thung lũng.
Thảm họa đã
phá hủy nghiêm trọng hệ thống cấp điện, nước và
viễn thông tại khu vực. Bùn chảy đã
phá hủy hơn 300 căn nhà và làm
thiệt hại 700 căn khác.
Người dân
Tây Tạng đã quy kết việc khai thác gỗ
quá mức dọc lưu vực sông của chính quyền địa phương là thủ phạm chính. Đây là
hậu quả của một chính sách mới
ban hành năm 2005
yêu cầu dọn sạch rừng để khai thác sông Druchu và tạo ra 156 nhà máy thủy điện mới dọc con sông này.
Người dân Tây Tạng biểu tình phản đối một dự án của Trung Quốc (Ảnh qua freetibet.com)
Kết luận tương tự cũng
xuất hiện trong một bài báo trên Tạp chí
Nghiên cứu Địa chất năm 2014, cho rằng trận lở đất
kinh hoàng tại Drukchu tháng 8/2010
xuất hiện với các
nguyên nhân chính là mưa lớn,
cộng hưởng với trận động đất
Tứ Xuyên tháng 5/2008 và sự
tổn thất nghiêm trọng của thảm
thực vật tại khu vực.
3. Ô nhiễm nguồn nước từ các chất thải độc hại của ngành khai khoáng
Khai mỏ quy mô lớn và có
hệ thống ở
Tây Tạng bắt đầu từ những năm 1960 cùng với sự bành trướng của
Trung Quốc. ĐCSTQ đã bắt đầu khảo sát các mỏ quặng tại
Tây Tạng ngay sau khi chiếm đóng. Rất nhiều cơ sở hạ tầng ở
Tây Tạng là để
phục vụ mục tiêu đẩy nhanh tốc độ
vơ vét khoáng sản nơi này.
Phương pháp khai khoáng mang tính
phá hủy và
vô đạo đức của
Trung Quốc đã gây ra
biểu tình và bất ổn trên khắp
Tây Tạng. Kể từ năm 2009, đã có hơn 30 cuộc
biểu tình quy mô lớn
phản đối khai mỏ ở
Tây Tạng khi các công ty
Trung Quốc liên tục phá hủy các đồng cỏ và đầu độc các dòng sông.
M
Một khu mỏ của Trung Quốc ở Tây Tạng (Ảnh qua freetibet.com)
A. Ô nhiễm nước vùng Mingyak Lhagang
Một công ty khai thác lithium có tên Ronda Lithium đã xả các chất độc ra sông Lichu ở vùng Minyak Lhagang miền Đông
Tây Tạng, gây ra
ô nhiễm nước
nghiêm trọng và cá chết hàng loạt.
Vụ việc này đã khiến hàng trăm người dân địa phương tràn ra đường
biểu tình ngày 4/5/2016. Chính quyền địa phương
thông báo với người
biểu tình rằng họ đã tạm ngưng các
hoạt động khai thác. Nhưng không lâu sau đó người dân đã phát
hiện ra chính quyền
nói dối – các
hoạt động ấy vẫn
tiếp diễn.
Đây không phải là lần đầu tiên một con sông bị đầu độc. Năm 2013, cũng chính dòng sông ấy đã bị
ô nhiễm bởi các chất thải khai thác lithium, gây ra cái chết của các
động vật dưới nước và
đe dọa nguồn nước
sinh hoạt của
nhân dân địa phương.
B. Ô nhiễm nước làng Dolkar
Trong một vụ việc
tương tự ngày 23/9/2014, tại ngôi làng Dolkar và Zibuk ở huyện Lhundrup gần Lhasa, thủ phủ
Tây Tạng, hơn 1.000 người
Tây Tạng đã
biểu tình phản đối sự
ô nhiễm sông gây ra bởi mỏ khai thác đa kim loại Gyama.
Mỏ này nằm gần một con sông cấp nước cho
sinh hoạt, thủy lợi và chăn nuôi của
nhân dân địa phương.
Đúng như
dự đoán, giới chức địa phương
tuyên bố ô nhiễm đến từ các
lý do tự nhiên chứ không phải từ công ty khai khoáng. Nhưng theo các
nghiên cứu khoa học,
tuyên bố này không
chính xác. Xiang, một nhà khoa học
Trung Quốc khẳng định
chắc chắn rằng rất nhiều mỏ khai thác và khu vực chế biến trên lựu vực sông đã gây ra
vấn nạn
môi trường do có chứa hàm lượng lớn các kim loại nặng như chì, đồng,
kẽm và mangan… Các chất độc sẽ theo nước ngầm vào đất và gây
ô nhiễm cho môi trường địa phương,
đe dọa chất lượng nước ở
hạ lưu.
Một dân làng đã
trả lời Đài Châu Á
Tự Do vào tháng 9/2014 như sau: “
Trong quá khứ, những con sông của chúng tôi trong lành và mát mẻ, những ngọn núi và thung lũng thì tươi đẹp tự nhiên. Nhưng giờ sông suối đều bị ô nhiễm từ các mỏ khai khoáng rồi.” Điều này đã
thể hiện rõ tốc độ
phá hoại nhanh chóng môi trường
tự nhiên tại khu vực này.
Kết luận
Trong khi sách trắng của
Trung Quốc hạ thấp
năng lực của người
Tây Tạng trong việc khai thác
thiên nhiên trước khi
Trung Quốc xâm lược, thì chính sự nông cạn và
vô đạo đức của chính quyền ĐCSTQ đã
phá hủy môi trường
tự nhiên tươi đẹp của người
Tây Tạng.

Một khu mỏ cũ ở
Tây Tạng chỉ còn các
con đường giữa hoang mạc và gió lốc (Ảnh: Shutterstock)
Trung Quốc tuyên bố rằng họ đã chi nhiều triệu đôla cho các
dự án bảo vệ môi trường trong những năm
gần đây, nhưng họ lại kiếm được hàng tỷ từ khai khoáng và
vơ vét các tài nguyên khác của
Tây Tạng.
Ví dụ, một
báo cáo triển vọng sản xuất năm 2019 của
Hiệp hội Vàng Quốc tế
Trung Quốc cho biết: “
Sản xuất đồng từ mỏ Jiama tăng 54% từ 35.844 tấn lên 55.025 tấn trong cùng kỳ năm 2017. Sản lượng vàng tăng từ 47.710 lên 70.262 ounce trong cùng kỳ năm 2017.”
Khảo sát Địa chất
Trung Quốc năm 2007
ước tính Tây Tạng hiện có khoảng 30-40 triệu tấn đồng, 40 triệu tấn kẽm và hàng tỷ tấn quặng sắt. Mỏ đồng Yulong với trữ lượng 7,8 triệu tấn là mỏ lớn
nhất Trung Quốc và thứ hai châu Á.
Trong khi các công ty quốc doanh
Trung Quốc tiếp tục kiếm được hàng tỷ đôla từ khai khoáng, xây đập, chặt gỗ và du lịch trên khắp
Tây Tạng, thì 60 năm qua,
thiên nhiên Tây Tạng đang bị tàn phá với tốc độ chưa từng có
trong lịch sử lâu đời của vùng đất này.
Thiên nhiên cung cấp vật chất cho cuộc sống của
con người,
tín ngưỡng cung cấp điểm tựa tâm linh và
duy trì đạo đức cho
con người.
Phá hủy đi 2 nền tảng đó,
phải chăng ĐCSTQ đang hủy diệt dân tộc
Tây Tạng từ những nền tảng
căn bản nhất?
Theo Green World WarriorsHạ Chi tổng hợp
(Theo trithucvn.net)