Sunday, December 28, 2025

ĐỌC TRUYỆN NGẮN NGUYỄN VĂN SÂM - Nghĩ Về Sương Khói Vô Thường

https://thuvienhoasen.org/a43381/doc-truyen-ngan-nguyen-van-sam-nghi-ve-suong-khoi-vo-thuong-nguyen-giac-phan-tan-hai ĐỌC TRUYỆN NGẮN NGUYỄN VĂN SÂM Nghĩ Về Sương Khói Vô Thường Nguyên Giác Phan Tấn Hải Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử. Quá khứ lịch sử? Đúng vậy. Tác giả Nguyễn Văn Sâm, người nổi tiếng về truyện ngắn và về nghiên cứu văn học chữ Nôm, nhìn thấy có sự tương liên giữa sáng tác văn học và lịch sử. Trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại," nhà văn Nguyễn Văn Sâm giải thích: "Truyện ngắn là bài viết ít sự thực, kế đó là hồi ký, trên cùng là bài viết về lịch sử. Sự thực làm nguồn cho truyện ngắn, bị bóp méo ít nhiều trong hồi ký, được đào xới, phân tích, giải thích trong các bài về lịch sử...." (Lời tác giả trước khi vào truyện Khói Thuốc Cả, trang 244). Nghĩa là, truyện ngắn của Nguyễn Văn Sâm có một phần sự thật, nhiều hay ít. Phải chăng, chính những phần hư cấu sẽ đã sức mạnh để Truyện Kiều trở thành cội nguồn thơ mộng của dân tộc, và để Lục Vân Tiên trở thành kho tàng đạo lý bất tử, và để mối tình Rồng-Tiên đưa dân tộc Việt bay vào huyền sử tình yêu vĩnh cửu? Tuyển tập truyện ngắn “Chiếc Ba Lô Để Lại” của Nguyễn Văn Sâm dày 630 trang, gồm 49 truyện ngắn. Mở đầu tuyển tập là bài “Giao Cảm Nguyễn Văn Sâm và Dòng Chảy Văn Chương Nam Kì Lục Tỉnh” (các trang 5-20) của Hoàng Kim Oanh, viết từ Sài Gòn năm 2016, đưa ra cái nhìn tổng quan về Nguyễn Văn Sâm, từ một học giả có nhiều công trình biên khảo về văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh (Ghi chú về cách viết của Hoàng Kim Oanh, tựa đề viết là “Nam Kì” nhưng trong tiểu đề trong bài lại viết là “Nam Kỳ” – không viết thống nhất, cũng lạ), tới một Nguyễn Văn Sâm viết “truyện ngắn về đất và người Nam Kỳ Lục Tỉnh” (cũng chữ Kỳ với y). Có một điểm dễ nhận ra khi bạn đọc truyện Nguyễn Văn Sâm là một cảm giác an tâm, nhẹ nhàng mà sâu lắng, buồn mà không gay gắt, ngay cả khi nổi giận với cái bất thiện cũng là những dòng la rầy rất nhẹ. Nhưng xuyên suốt trong các truyện là tấm lòng thiết tha của tác giả với quê hương, nơi đất, người và tín ngưỡng dân gian quyện lại thành những sợi tơ huyền thoại từ đời này sang đời kia. Bối cảnh truyện hầu hết là ở quê nhà. Ngay truyện đầu tiên là về mối tình của cô Mỵ với Trị, gắn liền với niềm tin đơn sơ về Ao Bà Om ở Trà Vinh, nơi có huyền thoại là lời thề trong ngôi Chùa Âng của các sư Khmer nơi đây được người dân địa phương tin có sức mạnh linh thiêng, nhưng nhân vật nữ lại ngờ vực. Hay như cuối tuyển tập là truyện “Tiếng Thầm Quê Mẹ” trong đó một băng giang hồ làm đủ thứ chuyện hình sự, kể cả nhập nha (đột nhập nhà để trộm hay cướp) như lời một nhân vật trong truyện kể qua lời ca, “Còng số 8 như vàng mười tám. Anh vào tù như hoàng tử nhập cung. Coi đấm đá như bài ca vọng cổ” (trang 605) nhưng vẫn tin có “bà độ” (trang 608) khi cầm dao búa xung trận, và một nhân vật trùm băng đảng chợt nhớ tới má: “Nó nhớ tới thơ má nó mới gởi về “rán ăn ở nhơn đức. Đừng làm chuyện tổn đức thì Trời Phật sẽ thương cho mẹ con mình đoàn tụ.” Thơ nào cũng vậy. “Ở nhơn đức cả đời ăn không hết. Chuyện gì cũng qua. Cầu gì cũng được”..."(trang 614). Dù vậy, cuộc đời phần lớn là bất như ý đối với nhân vật Mỹ lai này đang chờ ngày qua Mỹ đoàn tụ với mẹ. Cuối tuyển tập truyện ngắn là bài “Thay Lời Bạt: Đôi Dòng Cảm Nghĩ Khi Đọc Truyện của anh Nguyễn Văn Sâm” của nhà văn Nguyễn Khắc Phụng, trong đó đưa ra cái nhìn tổng quan về truyện ngắn của nhà giáo, nhà văn đặc chất Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm: “Bằng một điệu văn đậm chất Nam bộ anh đã ghi lại những biến chuyển trong đời, trên đất nước quê hương, trên mảnh đất tạm dung, những cuộc tình dang dở, những mảnh đời bất hạnh, những hình ảnh êm đềm của những tháng ngày giờ đã xa lắc xa lơ. Nhẹ như gió thoảng, mơ hồ như sương, như khói. Hình ảnh lung linh, đôi khi sáng rực, đôi khi mờ ảo như liêu trai. Hoàn cảnh đã để lại trong anh những nỗi đau vật chất cũng như tinh thần; những bất hạnh ngoài tầm tay cứu chữa. Nhưng trong anh người ta không thấy oán hờn; có chăng chỉ là những lời nhắc nhở dịu dàng. Đâu đó phảng phất âm hưởng sắc-không của Phật giáo, tha thứ, quên đi quá khứ, hướng về tương lai. Truyện của anh như một tấm tranh mosaic. Có lúc là hình ảnh của một người thầy hiểu rộng, biết nhiều, người thầy che chở đám học sinh thơ dại như sự hy sinh của Thầy Lượng, hay lòng ngưỡng mộ của đứa học trò với con chim Hán học cuối mùa. Anh tô điểm bức tranh của anh với những từ ngữ hiếm quý của người Nam bộ đang dần dần thoái hoá. Thêm vào đó những nét chấm phá của chữ Hán, chữ Nôm; pha thêm tiếng hát câu hò Vân Tiên để cho tranh có thêm âm nhạc! Muốn hiểu anh, người đọc không thể đọc lướt các truyện của anh. Đọc rồi, lại muốn đọc thêm truyện khác, như người khát nước đi tìm giọt nước ngọt trong ngày nắng gắt.”(trang 625-626) Văn phong truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm nhẹ nhàng như dòng suối khơi nguồn từ huyền thoại Rồng-Tiên chảy qua miệt Đồng Nai, Gia Định chở theo những niềm vui và nỗi buồn của một dân tộc từng trải qua nhiều đau đớn lịch sử rồi hòa quyện vào dòng Cửu Long ra biển. Và rất đặc chất là hình ảnh, ngôn phong Sài Gòn, Lục Tỉnh đang dần dần trôi vào quên lãng dưới làn sóng đô thị hóa. Thử xem lại truyện “Người Em Xóm Giếng” (trang 372-387), chúng ta thấy tác giả nhắc tới các hình ảnh: Xóm Giếng, phông tên nước (trụ dẫn nước trong xóm), xách nước mướn, hình ảnh bàn thờ ông Thiên (thời xưa, trụ giữa sân trước nhà của dân Miền Nam để thờ trời đất), mả đá vôi, giếng mội, bót Catina, xe traction đen chở lính kín bố ráp Chùa Hoa Nghiêm, các tên đường thời Pháp như Blancsube de CauKho... và sử dụng ngôn phong rất miền Nam như: bù trất, à nhe, cô nào bắt cặp với cậu nào, con gái nhà ai chịu đèn với con trai nhà nào, trật đâu được, tuổi cũng sồn sồn, để tui lo, dợm cẳng bước đi, đợi tôi về nha, buồn buồn trong dạ, trơn lu, trớt quớt, đời cố Hỷ cố Lai nào mà không biết… Cũng truyện “Người Em Xóm Giếng” kể về những giao tiếp nam nữ rất hiếm gặp thời nay, khi nhân vật xưng tôi, thời thơ ấu là chú tiểu Tín đã phải ra đời sau khi sư cụ bị người Pháp bố ráp, dẹp chùa, và chàng Tín này rất khù khờ khi cô gái tên Diễm tới tuổi cặp kê (cuối năm cô sẽ thi Tú Tài I, nghĩa là cô khoảng 16 hay 17 tuổi) đã nói thẳng, khi hai người ngồi trong quán cơm, rằng “anh cù lần và làm kiểu thầy chùa...” Cô nói rằng cô thương chàng từ thời thơ ấu, “Tám tuổi mà em biết yêu anh rồi đó.” Rồi cô nói với Tín rằng anh Tín “hiền như cục bột lò bánh mì, ai muốn nặn sao thì nặn,” vậy mà sao cô không cạy miệng Tín được một lời cho nên duyên trong kiếp này. Tới một lúc, cô nắm tay chàng bóp mạnh, nói, “Anh Tín, có cần phải nghe em nói là em yêu anh anh mới chịu hay sao?” Tín rút tay lại, khi thấy người bồi bàn mang cơm ra. Than ôi, vài chục năm sau, Tín nhớ lại, “Nhưng mà cha mẹ ơi, hai chục năm lính, hai chục năm sống bất như ý, hễ khi trời mưa thì tôi nhớ đến chuyện mình với hai người con gái, chuyện nào cũng lỡ làng...” Thế đó, sâu thẳm trong cõi này là một nỗi buồn, như dường không có lời nào mô tả được. Cõi này như thế, là như thế: cõi này bất như ý. Vui luôn luôn là khoảnh khắc, buồn thường khi là trọn đời người. Đọc truyện Nguyễn Văn Sâm thường khi chúng ta gặp lại nhiều hình ảnh không còn trên cõi đời này nữa. Những chuyện xảy ra rất xưa, như là từ những kiếp xa xưa nào. Thí dụ như truyện “Bà Thũng ở Chợ Cây Điệp” (trang 28-39), ngôi chợ nơi góc Bà Hạt và đường Nguyễn Tri Phương bây giờ đã biến mất, nơi hồi đó mỗi sáng Chủ Nhựt có trò chơi lắc bầu cua cá cọp, mà các tay lắc là gian lận chuyên nghiệp và có liên hệ tới quân đội Bảy Viễn. Tất cả những hình ảnh đó bây giờ đã biến mất, y hệt như một giấc mơ rất xa xưa của tiền kiếp. Truyện “Lòng Mẹ Bao La” (trang 286-293) cho độc giả một cảm giác như dường chuyện thật đời người của tác giả Nguyễn Văn Sâm, có thể nửa phần là hồi ký: xuất thân nhà nghèo, nhân vật xưng tôi học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, từ năm thứ hai khởi tâm muốn nghiên cứu văn học, lấy vợ giàu, bị gọi nhập ngũ, mỗi khi ra trận đều hướng về má, xem má như Bồ Tát bổn mạng, để vái van, may mắn được biệt phái về trường cũ ở Cần Đước để dạy Việt Văn, rồi vượt biên, bốn ngày lênh đênh trên biển, chủ ghe thắp nhang trao cho mỗi người một cây nhang xin mọi người cầu nguyện theo tôn giáo riêng trong khi nước biển theo lỗ thủng không bịt hết đang dâng cao tới hông, tới ngực, và tác giả mơ hồ thấy Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và hình ảnh má hiện ra hòa nhập hai không mặt mẹ hiền vào nhau... Tới cuối đời, nhân vật xưng tôi nhận ra “Phật Bà nói chung là má của tất cả mọi người” (trang 293). Truyện Nguyễn Văn Sâm là một cảm nhận mạnh mẽ về luật vô thường. Điển hình như truyện ngắn "Tiếng hát người tín nữ ni sư" (tuyển tập Chiếc Ba Lô Để Lại, trang 575-586). Truyện viết như hư, như thực. Chúng ta đọc và ngờ ngợ, không rõ bao nhiêu phần thực, bao nhiêu phần hư cấu. Thực tế đời thường, những gay cấn trong cuộc đời như trong truyện dĩ nhiên là có. Mối tình có vẻ như ngang trái, cô gái bán bánh mứt chợ Tết Sài Gòn có tên là Nguyện, xưng hô kiểu Nam Bộ hơi dị thường, tự gọi là "cưng" và gọi người đối thoại (chàng trai tên Song, người mà cô ưa thích) là "mình" -- tự nhiên là xa nhau, khi chàng nhập ngũ (có lẽ vì mấy ai đi mà tin chắc là có ngày trở lại). Truyện ghi lời cô Nguyện nói với chàng Song, theo lời Song kể với tác giả, "Chắc cưng phải đi lấy chồng. Cưng còn ba má già và 6, 7 đứa em nhỏ phải lo. Lông bông hoài ba má rầy rà quá. Mình đi dạy chắc thế nào rồi cũng gặp được cô nào đó dễ thương hơn cưng." Rồi chàng Song suy đoán, nói với tác giả, "Sau đó Nguyện không cho mình gặp nữa. Hình như lấy một ông sắp tốt nghiệp Quân Y!” (trang 579). Tuy nhiên, hơn một thập niên sau, đột nhiên Song thấy một phụ nữ mù, mặt có mấy vết sẹo bị dao chém, đứng hát ngoài chợ, tay cầm tấm bảng mang hình cô Nguyện xinh đẹp với nụ cười hớp hồn. Song cầm một nắm tiền nhờ một thanh niên tới dúi vào tay phụ nữ mù, và cô Nguyện nhận ra ngay là Song, nên gọi nhưng chàng im lặng, lùi xa và biến mất. Một thời gian sau, truyện kể rằng cô Nguyện đã trở thành một vị ni sư già nói chuyện với tác giả. Lời tâm sự của ni sư già với tác giả rất dài, mở đầu bằng những đoạn như mơ như thực, ghi lời một vị trưởng lão râu dài tóc trắng bước ra từ sau lưng tượng Đức Phật, nói với vị ni sư (người khi chưa xuất gia là cô Nguyện) về luật nhân quả, trích: "Tôi đương ngồi đọc kinh trước Phật đài thì thấy một ông lão tóc bạc phơ, dài chấm ót, mặc áo dài trắng, bước ra từ sau lưng tượng Phật, không, hình như là xuất ra từ tượng Phật, gương mặt thiệt quen thuộc nhưng tôi không thể nhớ là ai. Tôi đứng dậy chào ông. Ông tới trước mặt tôi, ra dấu biểu ngồi xuống lại rồi ông chậm rãi ngồi xuống một cái ghế tràng kỷ sau cái bàn trà trước mặt tôi. Tôi hơi ngờ ngợ, bộ tràng kỷ chạm lộng mỗi ngày tôi lau chùi cẩn thận bằng cả tấm lòng mình, được đặt ở khách phòng chớ đâu phải ở trước Phật đài đâu, nhưng sự ngạc nhiên không ở lâu trong trí tôi vì ông lão đã cất giọng ôn tồn hỏi: “Con đọc kinh mà có hiểu không?” “Dạ, con không hiểu nhiều, đọc chỉ mong cho lòng con không dao động mà thôi.” “Con dao động vì xót xa đời con nhiều chướng nghiệp. Ta biết! Nhưng chướng nghiệp người đời ai mà không có đâu con. Chướng nghiệp tới không do con tạo kiếp này thì nên quên nó và tha thứ cho người gây hại; chướng nghiệp tới do con huân tập kiếp nầy thì nên thành tâm sám hối. Không nên dùng kinh kệ để mong quên bất cứ điều gì.” Tôi ngờ ngợ về lời khuyên đó. Vậy thì tôi phải quên bất hạnh xé nát đời tôi do những nhát mã tấu ghen tuông mà người đàn bà đanh ác kia dàn dựng hay sao? Và tôi phải tha luôn tội ác của bà khi quả quyết rằng sự chà lê quết xảm của chồng bà ta ở nhà tôi là do tôi quyến rũ, chớ không phải do lòng ham hố và sự ỷ quyền cậy thế của ông ta?" (trang 582-583) Dĩ nhiên, vị ni sư già không còn oán hận gì cuộc đời khi tin sâu vào luật nhân quả. Tuy nhiên, trả giá luôn luôn là đau đớn. Và xuyên suốt các truyện Nguyễn Văn Sâm là những niềm vui rất ngắn, nhớ thương thì rất dài, và bất như ý là vô tận. Vô thường là sức mạnh làm tan vỡ tất cả những tường thành vững chắc nhất trong cõi này. Như khởi đầu truyện tình "Khói Thuốc Cả" (trang 244-256) về các diễn biến ngỡ như là tình yêu giữa nhân vật xưng tôi và nàng Ngoạn Nguyệt là dòng chữ: "Biểu đừng: Muốn hôn em mà em cứ bảo đừng. Đến bây giờ thì hai đứa đã trở thành người dưng mất rồi..." (trang 244) Xin chú ý: cách dùng chữ "biểu" là văn phong Nam Kỳ (nếu là văn phong Bắc Kỳ thì nói là "bảo"). Tuy nhiên, "hôn" là nói giọng Bắc, trong khi lẽ ra cho thống nhất dòng văn, hẳn là "hun" theo giọng Nam. Nguyễn Văn Sâm viết trong sách tràn ngập chữ giọng Nam, tại sao lại dùng chữ "hôn" nơi đây? Phải chăng vì lúc nhà văn muốn nói kiểu "nghiêm và buồn" cho mối tình trầm trọng thích nghi? Nhân vật tôi kể chuyện gặp cô bé, khi cô bé còn bé tí, cùng gia đình di cư năm 1954 từ Bắc vào Nam đang trú ngụ ở sân một ngôi trường, và nhiều năm sau, gặp lại năm cô học lớp đệ nhất, năm cuối trường nữ trung học Trưng Vương. Nhân vật “tôi” lúc đó là một vị thầy nổi tiếng ở Petrus Ký, được các học sinh sắp xếp cho khiêu vũ với Ngoạn Nguyệt để khai mạc một bữa tiệc. Trong khi khiêu vũ, tới một lúc chàng, bất kể là một người thầy nổi tiếng trong nhiều trường, thì thầm với cô: "Ngoạn Nguyệt cho anh hôn lên tóc nha." Và nàng từ chối... Hóa ra, chúng ta thấy câu này, tác giả văn chương Nam Bộ viết chữ "hôn" là vì nói chuyện với cô gái Bắc. Nhưng sợi dây giữa họ cùng là một nỗi lo về tình hình đất nước, khi nàng Ngoạn Nguyệt nói về một bài thơ trong Giải Phẩm Xuân Trung Học Hoàng Diệu, trong đó cò bài thơ mà Ngoạn Nguyệt, không nhớ của ai, nhưng cô đã học thuộc khi tình cờ đọc tới, và cô khóc khi đọc cho nhân vật tôi nghe: ...Trời vào Thu, trời lớp lớp mưa bay, Tôi 16 tôi vào đời con gái, 16 tuổi yêu không ngần ngại, Người yêu tôi anh thiếu úy không quân. ... Mây có buồn đâu sao mây rũ khăn tang, Trời vào thu trời tiếc thương chàng, Tôi 19 tôi vào đời quả phụ... Truyện rất buồn, y hệt như nhiều truyện khác trong tuyển tập. Trong truyện, tới một lúc, cô Ngoạn Nguyệt nói về tính phù vân trong đời y hệt như những hạt khói được rọi sáng thành làn khói mỏng khi ánh đèn vũ trường lướt qua: "Ngoạn Nguyệt nói trong tiếng thở dài: Khói thuốc cả." Trong một hình ảnh rất dễ gặp trong các truyện truyền kỳ, tác giả kể trong truyện Khói Thuốc Cả về một trò chơi bọn trẻ nhỏ rồng rắn mà đi, vừa ịn chân vào nền đất ẩm, vừa hát nơi sân trường thơ dại, trong đó có những câu hát, trích: "Dưới trời kỳ quái sao cùng/ Chân đâu còn vết ở trong đá này/Ví đem sắc tướng tin đây/ Như Lai chưa dễ thấy ngay được ngài... ...Bể oan lai láng trên đời/ Xưa nay ai vớt hết người trầm luân/Mong cho ngọn nước chảy lần/ Lòng mê ta rửa dần dần tỉnh ra..." (trang 249) Các câu hát trên có vẻ như trích từ Kinh Phật diễn Nôm, hay từ truyện thơ Nôm của một nhà sư nào đó. Cõi này buồn như thế đó. Bể oan không ai làm cạn nổi cho cõi này. Trong khi đó, truyện ngắn “Chiếc Ba Lô Để Lại” (trang 54-) – tựa đề truyện này cũng dùng làm nhan đề tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm – có một cốt truyện vừa xúc động, vừa huyền bí. Nhân vật tôi nói chuyện với một người đàn ông còm cõi phụ vợ bán bánh giò ở một góc đường Sài Gòn. Người này tên Thanh, kỹ lưỡng giữ gìn tư cách, từ chối tất cả các khoản tiền dư mà khách cho. Sau nhiều lần nói chuyện, nhân vật tôi mới được Thanh kể chuyện, rằng anh nguyên là Trung Úy Biệt Động Quân, năm 25 tuổi đánh trận Hạ Lào, bị bao vây, bị lựu đạn nổ mất nửa bàn tay mặt, dự kiến rạng sáng thì trực thăng bốc về hậu cứ, ưu tiên thương binh. Nửa khuya, Trung sĩ Tánh (đệ tử ruột của Thanh) trúng đạn pháo kích rất nặng, máu ra không cầm được, khó sống. Trung sĩ Tánh nhờ Thanh đưa chiếc ba lô về cho vợ Tánh, cô đang có thai được ba tháng. Rạng sáng, trực thăng tới hạ cánh để bốc thương binh, đạn trung liên Bắc quân từ bốn phía bắn như mưa. Trung úy Thanh chỉ huy cuộc di tản, đưa thương binh lên sàn trực thăng, và Thanh là người cuối của nhóm thương binh, được hai người trên trực thăng đang cất cánh nắm hai tay anh kéo lên trong khi đạn bắn sát bên tai. Hai người trên trực thăng tuột cả hai tay Trung úy Thanh, thì một ai đó nắm được quai chiếc ba lô [của Trung sĩ Tánh mà] Thanh đang đeo, kéo lên. Truyện kể lại khoảnh khắc Thanh rơi và ai đó chụp được quai ba lô: “Một người thương binh nào đó đã cố nhoài mình ra nắm được hai cái quai đeo của ba lô. Chắc chắn. Mọi người reo hò khi viên Trung Úy được kéo lọt vô sàn. Bên ngoài đạn vẫn vẽ những lằn đỏ cong cong. Tiếng người phi công nói: "Anh may mắn cùng mình, những trường hợp như vừa rồi một trăm phần trăm là rớt xuống.' Viên Trung Uy lột ba lô ra, cúi xuống vỗ vỗ, nói trong sự ngạc nhiên của những người không biết chuyện Trung sĩ Tánh: *Cám ơn em đã cứu anh, anh sẽ làm tròn lời hứa... chắc chắn như đinh đóng cột." (trang 61) Cái ba lô đã cứu mạng cho Thanh. Thỉnh thoảng, Thanh lại nhớ tới Tánh và mơ thấy hình ảnh cũ, khi Tánh nói, “Em lạnh quá...” Thanh quyết định không nộp đơn đi diện H.O. vì muốn ở lại xem đất nước Việt Nam rồi sẽ bị đẩy đi về đâu. Người ta đã gọi tác giả Nguyễn Văn Sâm bằng nhiều danh hiệu, và lời nào cũng đúng, cũng trang trọng: nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà dịch thuật… Nhưng có một cách gọi khác, Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần từ Paris viết rằng Giáo sư Nguyễn Văn Sâm là người giữ Hồn Nước. Và thực tế, xuyên suốt tất cả những tác phẩm của Nguyễn Văn Sâm là một tấm lòng thiết tha với quê nhà, và viết là để lắng nghe rõ hơn những chữ nghĩa sâu thẳm nhất của tiền nhân. Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần đã nhận định: “…cũng như chữ Hán, chữ Nôm là kho tàng gìn giữ một phần quan trọng văn hóa dân tộc. Muốn tiếp xúc với văn hóa dân tộc, phải biết chữ Hán và chữ Nôm. Muốn học chữ Nôm, phải biết chữ Hán. Nhưng chưa đủ, mà còn phải biết lịch sử, đời sống xã hội, cách cấu tạo chữ Nôm qua các thời kỳ… Cách nay vài năm, cứ mỗi năm vào mùa thu, Giáo sư Hán Nôm Nguyễn Văn Sâm vẫn đều đặn qua Paris một tháng, dành nhiều thì giờ vào thư viện tìm những bản văn Nôm của tác giả xứ Nam kỳ để diễn dịch ra quốc ngữ với thêm chú giải. Cách nay hai năm, vì không kịp đọc tại chỗ, ông in lại hơn 3000 trang ôm về Huê Kỳ đọc và phiên dịch. Ông nói thấy ham quá nhưng bây nhiêu đây cũng phải mất nhiều thì giờ mới làm xong. Năm rồi ông không qua Paris được vì dịch Vũ Hán. Người nghiên cứu, phiên âm, chú giải chữ Nôm ra quốc ngữ để phổ biến là người giữ hồn dân tộc. Giữ Hồn Nước!” Sau đây là vài dòng tiểu sử của Giáo sư Nguyễn Văn Sâm, theo Viện Việt Học. Sanh tại Sài gòn, 1940. Từng dạy ở trường Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, Pétrus Ký, Đại Học Văn Khoa (Sài gòn) và các trường Đại Học Vạn Hạnh, Cao Đài, Hoà Hảo, Cần Thơ. Sang Mỹ từ năm 1979, sống bằng nghề dạy học. Viết cho Văn, Văn Học và các tạp chí Việt ngữ của người Việt. Thành viên Ban Biên Tập Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn. Trưởng ban Văn chương, Viện Việt-Học. Hiện cư ngụ tại California, Hoa Kỳ. Trước 1975 chuyên viết về biên khảo văn học. Đã in: Văn Học Nam Hà (1971, 1973), Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam (1969), Văn Chương Nam Bộ và Cuộc Kháng Pháp (1972). Qua Mỹ viết truyện ngắn vì những thôi thúc phải nói lên sự suy nghĩ của mình về quê hương và thân phận người Việt, ngay trên quê hương, hay lạc loài tha hương. Đã in ở Mỹ: Câu Hò Vân Tiên (1985), Ngày Tháng Bồng Bềnh (1987), Khói Sóng Trên Sông (2000). Gần đây, GS Nguyễn Văn Sâm trở về gia tài cổ của dân tộc bằng cách phiên âm các tuồng hát bội, truyện thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm mà nguyên bản hiện còn đang nằm trong các thư viện lớn ở Âu Châu: Tam Quốc Diễn Nghĩa, Lôi Phong Tháp, Sơn Hậu Diễn Truyện, Trương Ngáo v.v... Độc giả quan tâm, xin liên lạc với tác giả Nguyễn Văn Sâm qua email Trần Ngọc Ánh: ngocanh6955@yahoo.com Được biết, tác giả Nguyễn Văn Sâm cũng vừa in xong bộ nghiên cứu văn học ba tập, lấy nhan đề là: Thày Lay Văn Học I, II, và III. Dự kiến, các sách này sẽ ra mắt vào khoảng tháng 3/2026.
GS Nguyễn Văn Sâm (trái, đang cầm 1 ấn bản tập truyện) và phu nhân là nhà văn Trần Ngọc Ánh hôm 18/12/2025. Dưới đây là toàn văn truyện ngắn "Chiếc Ba Lô Để Lại" (dựa trên bản đăng tải công khai: https://www.namkyluctinh.org/tuyen-tap/nguyen-van-sam/tuyen-tap/truyen-ngan/chiec-ba-lo-de-lai.html): Chiếc Ba Lô Để Lại 1. Sau cơn mưa, đường ngập linh láng như biển. Chiếc xe 14 chỗ ngồi của chúng tôi vừa lội vừa thở phì phò, xém tắt thở nhiều lần mới thoát được vùng ‘biển hồ’ Minh Phụng để quẹo vô đường 3 Tháng Hai. Khúc nầy tương đối ít ngập, chỉ tới nửa bánh, xe cộ vì vậy cũng nhiều hơn. Nước không còn tạt vũ bão ra hai bên hông như trước mà phóng ra với vẽ hiền thục dễ thương. Sau thời gian đụt mưa thiên hạ gấp về, nhiều anh vọt lẹ, lắm khi xẹt qua đầu xe lớn đương ngon trớn mà coi như không, khiến anh tài xế lâu lâu lại chắc lưỡi lắc đầu. Bỗng nhiên có tiếng thắng mạnh.Mọi người bị giựt ngược, tỉnh ngủ. Tài xế mím môi, la lớn: ‘Khiến!’ Rồi anh xuống giọng như nói với mình: ‘Không mau chưn mau cẳng thì bà hú nó rồi!’ Hành khách trong xe nhớn nhác ngó nhau. Hai ba người đàn bà đưa tay vuốt ngực. Chiếc xe gia tốc, chồm tới, cố gắng bắt kịp người thanh niên phóng bạt mạng kia. Đèn đường bật lên đỏ. Cả hai đậu song song chờ. Tài xế quay cửa kiếng xuống, chồm đầu ra ngoài, phun nước miếng cái phẹt xuống đường, nói lớn với kẻ làm anh giựt mình hồi nảy: ‘Mầy đứng lại cho tao lạy mầy mấy cái chớ mầy chạy kiểu đó chắc tao chết vì đứng tim. Mầy tội nghiệp tao với chớ! Tao đâu có muốn vô tù đâu!’ Người thanh niên nhăn răng cười rồi chỉ chờ đèn đường bên kia vừa bật qua màu vàng là phóng thẳng bất kể những chiếc chót của làn lưu thông ngược chiều chưa qua hết khoảng đường trước mặt. Tôi cười thầm. Anh tài xế nầy nói chuyện có văn hóa giao thông ghê. Chẳng bù với tháng trước tôi ngồi trên xe buýt, cũng trường hợp tương tợ, tên nhóc tì phụ xế kiêm bán vé đã ló đầu ra ĐM lia chia rồi tuyên bố một câu xanh dờn: ‘Mấy muốn tự tử thì về nhà mà tự tử, ngon thì vô đồn công an mà tự tử. Mầy nên nhớ mạng mầy chỉ có ba chục triệu thôi không hơn đâu.’ Không khí im lặng nảy giờ trở nên sôi động bằng những lời bàn tán chung quanh chuyện chạy ẩu của xe nầy xe kia. Anh tài xế nói lớn: ‘Làm nghề nầy thấy cái chết của thiên hạ quá thường nên nhàm luôn, trở thành vô cảm trước máu me. Chết vì chạy ẩu xị, chết vì do xe lớn lấn đường, do tài xế mệt mỏi, xỉn xay, ngáo đá, hay do đường xá xấu hư làm lạc tay lái... Muôn ngàn lý do, kề tới mai chưa hêt!.’ Tôi lên tiếng cho vui: ‘Chết vì tài xế mua bằng nữa đó cha nội. Học ba xí ba tú, lái chưa rành, mót tiền quá chạy đi mua bằng, lên xe ngồi điều khiển mà không hiểu luật lại vụng về nên thường làm chết thiên hạ rồi bỏ xe lẫn trốn…. chuyện nầy xảy ra hà rầm.’ Anh tài xế dễ thương tuy nghe nói đụng chạm tới giới của mình nhưng vẫn làm thinh. Tiếng ai đó, giọng của người đứng tuổi: ‘Thét rồi hết muốn ra đường. Sợ quá! Những cái chết nát thây không báo trước. Còn hơn là ngày xưa đi hành quân hay nhảy toán. Đời sống bây giờ thiệt là bất an!’ Không khí trong xe tới đây thì lắng xuống, ai nấy theo đuổi tư tưởng mình. Khi xe quẹo vô đường Nguyễn Kim thì người bạn tôi nói vọng ra sau: ‘Nếu chừng mờ mờ sang đi tới đây, góc Nhật Tảo và Nguyễn Kim nầy, dưới gốc cây dầu bự chảng bên tay trái, thì sẽ gặp một người đàn ông còm cõi đứng phụ vợ bán bánh giò. Đó là người bạn lính trước đây cùng đơn vị của tôi ở Pleiku. Anh ta tên Thanh, bị lựu nổ mất nửa bàn tay mặt, đương chờ giải ngũ thì đứt phim. Lãnh lịch hết gần chục có đầu. Nay gặp lại bạn bè xưa nhiều khi anh làm lơ hay ngồi cho có mặt, thường ngó mông lung. Lạ lắm!’ Tôi ngạc nhiên hỏi lại vì cái chép miệng sau khi xuống giọng của bạn: ‘Chục có đầu sao không đi H.O. mà ở lại cho cực thân.’ ‘Vậy đó!’ Tôi không biết gì thêm từ hai tiếng trả lời gọn lỏn kiểu miền Tây của bạn nhưng biết chắc chắn rằng người đàn ông phụ vợ bán bánh kia là người đặc biệt. Và tôi thấy mình cần phải tìm hiểu anh ta. Vậy mà sau gần cả tháng tôi mới làm thân được với Thanh. Cũng nên kể ra đây lần gặp gỡ của tôi với Thanh. 2. Sáu giờ sang trời còn lờ mờ nhưng thành phố đã thức. Những người lớn tuổi đi bán giấy số bắt đầu đổ xô ra đường. Mấy chiếc xe bán thức ăn nầy nọ đã được đẩy ra vị trí và đốt lò. Tôi thay quần sọt ra đi tới chỗ người bạn tôi chỉ hôm nọ và ngồi xuống một cái ghế nhỏ không thể nhỏ hơn để kế bên hai xửng bánh bao bánh giò của cặp vợ chồng nầy. Người vợ luôn tay lấy bánh bỏ vô bao xốp trao cho khác với nụ cười giao tế. Người chồng lãnh nhiệm vụ thâu tiền. Nụ cười cũng có trao đổi với khách nhưng hơi gượng gạo. Tiếng cám ơn luôn luôn thốt ra mỗi khi anh hoàn thành một dịch vụ. Ngồi câu giờ cố ăn hết một cái bánh bao và một cái bánh giò nóng, tôi liếc chừng chừng quan sát con người đặc biệt kia. Hình như anh ta cũng bắt thóp được ý định của tôi nên thỉnh thoảng đưa mắt ngó. Tôi phóng ra con bài ngoại giao bằng nụ cười và cả cái nheo mắt nhưng anh cố tình làm lơ. Ăn xong ý chừng đã ngồi hơi lâu tôi mua thêm một cặp bánh nữa và đưa cho anh tờ giấy nửa triệu, với câu nói nhỏ: ‘Anh khỏi thối, mình xin phép được chia sẻ với anh.’ Tôi nhận được câu trả lời lạnh băng như là người đối thoại cố tình làm cho mình tức giận: ‘Chúng tôi buôn bán, không ăn xin! Anh cầm tiền thối.’ Tôi vớt vát: ‘Mình cùng cảnh ngộ ngày trước’, tôi thấy mình hay ho tận mạng khi đem ra xài mấy chữ nầy, vừa nói vừa ren rén ngó mau về bàn tay phân nửa của anh ám hiệu rằng cùng là cựu quân nhân.‘Bây giờ khá hơn anh nên xin chia sẻ. Anh nhận để mua quà cho các cháu.’ Người bán hàng đẩy mạnh tay tôi ra với số tiền thối lại, quyết liệt: ‘Chúng tôi không có con. Xin lỗi anh. Anh cầm. Tôi còn phải thối tiền các khách khác.’ Thế mà tôi vẫn kiên nhẫn lập lại lời yêu cầu nầy hai lần tới sau đó nữa. Lần thứ ba thì anh chắc lưỡi, bỏ tiền thối vô xấp tiền anh cầm. Chắc là lần nầy nhờ tôi nhắc tên người bạn chung. Tôi ngồi nán lại để anh dãn khách, nói vài ba câu vô thưởng vô phạt rồi ra về. Hai bên nói chuyện tâm tình bên mấy ly trà nóng một cách tự nhiên những lần sau đó… 3. Tôi ra trường với lon Thiếu Úy lúc 24 tuổi, tình nguyện vô binh chủng cọp ba đầu rằn. Thời chiến chinh, mỗi người làm hết bổn phận mình trong chức vụ mà xã hội phân công, cách nầy hay cách khác, đó là điều bắt buộc. Cam đảm hay hèn nhát gì cũng không bằng hên xui: bà độ hay bà xô vô chỗ tử. Phải giữ vững tinh thần, lương thiện và không nghĩ đến cái chết mới sống đúng nghĩa người trai. Hơn một năm sau khi ra trường tôi về tiểu đoàn sau khi lên Trung Úy. Những lúc rảnh rỗi, ngó lại anh em dưới quyền trong đơn vị, so sánh với cuộc sống lạc điệu của hậu phương, tôi cũng văng tục thầm. Mẹ ơi, hậu phương làm mình giận muốn nổi cơn điên. Cho nên binh sĩ dưới quyền, tôi thương hết biết. Nhiều đứa đi phép về trễ vài ba ngày tôi cũng nạt nộ để tụi nó không lờn nhưng báo cáo hay làm gì đó nặng hơn thì không. Cầm đầu phải làm gương, tôi xông vô nguy hiểm coi như đạn có bổn phận tránh mình. Cũng làm thơ hào hùng kiểu Hồ trường: Ta xông pha hề, trận mạc. Coi tử sinh hề, cỏ rác dưới chân. Thỉnh thoảng hớp ngụm rượu của đàn em rồi sảng khoái ngâm nga tử sinh hề, cỏ rác… vui đời lính, thương đồng đội, quên mình đương ở tuổi cần có bên mình một bóng hồng… Trong trận Hạ Lào năm đó, Tiểu đoàn tụi tôi bị tụi nó cầm chưn. Được bỏ thêm để giải vây cho đồng đội, nhưng chúng tôi bị lún. Chúng pháo kích ngày đêm nhưng tấn công lần nào cũng bị tiêu diệt trọn. Bên mình cũng hao bộn do mỗi lần một ít. Tôi được lịnh là sáng mai lúc trời hơi tan sương mù thì trực thăng bốc, ưu tiên thương binh. Vậy mà chuyện đau lòng xảy ra đêm đó. Thằng Tánh trung sĩ thường trực, đệ tử ruột của tôi bị nạn. Cái thằng cũng trí thức lắm, nó rớt Tú Tài nên đi Trung sĩ. Khuya tôi đương thiu thiu ngủ sau ba ngày trắng dờ con mắt thì nghe báo cáo Tánh bị đạn nặng lắm. Tôi nói nó ngủ trong hầm mà bị đạn cái củ c. gì. Nãy giờ có trái nào nổ gần đâu. Thiệt ra thì khuya thằng con bò ra ngoài đi tiểu. Miểng nhỏ pháo kích từ đâu bay ra cắt đứt mạch máu chủ ở háng. Tôi tới thì anh em đương xúm bên nó, lo lắng. Quân y cố hết sức cầm máu. Thằng Tánh thấy tôi thì mắt sáng lên nói thiệt lẹ, rõ ràng: ‘Em không sao đâu Trung Úy. Chuyện nhỏ! Sẵn dịp lên trực thăng về thăm vợ luôn. Con vợ em đương có bầu ba tháng. Chắc nó cũng nhớ em.’ Tôi đuổi mấy đứa không có phận sự ra chỗ khác. An ủi nó. Nó cứ lập đi lập lại hoài điệp khúc ‘không sao đâu là không sao đâu’. Bác sĩ Quân Y ngó tôi với cặp mắt buồn, nói thiệt nhỏ trong khi thằng Tánh vẫn nói không sao đâu: ‘Không xong, máu ra nhiều quá, vết thương lớn không bịt được.’ Nó thấy mặt tôi buồn chắc là hiểu được điều chúng tôi trao đổi nên trở giọng: ‘Em lạnh quá Trung Úy! Có bề gì thì Trung Úy mang ba-lô em về cho bà xã em. Bả tên Trinh, địa chỉ ở trong đó. Tiền lương tháng nầy với phần còn lại từ trước cũng mấy ngàn. Nó cấn thai được ba tháng. Trung Úy giúp đỡ nó với con em giùm. Tụi em đồng ý đặt tên con là Trần Trinh Thảo Tánh. T tứ thừa đó Trung Úy. Cái tên tụi em nghĩ nát óc mới đặt được đó Trung Úy.’ Thằng Thạch Buôn, từ xa diễu dở bằng mấy tiếng ‘Nôm luôn! Hốt hụi chót!’ Tôi đứng rột dậy, lên cò súng quát lớn: ‘Mầy nói lại một lần nữa đi!’ Thạch Buôn lạy như tế sao rồi chuồn thẳng. Tôi cởi áo trận đắp cho Tánh. Nó run lập cập than lạnh liên hồi. Hai tay tôi nắm hai bàn tay lạnh ngắt của nó nói: Không sao đâu để anh đem ba-lô về cho. Mà chắc không cần nữa, em lo được chuyện đó. Dễ mà! Nó nhắm mắt thì thào: ‘Coi tử sinh cỏ rác dưới chân…’ Tôi vuốt mắt nó, đứng dậy chùi nước mắt của mình. Chúng tôi ở kế nhau cũng hơn một năm. Mến tay mến chưn. Nó đoán biết ý của tôi, không bao giờ làm trái, cũng không sa đà trong chuyện cờ bạc, gái gú mỗi khi ra thị xã… Đạn trung liên của địch bắn liên hồi nhưng chiếc trực thăng bốc quân điêu luyện luồn lách cũng hạ xuống an toàn. Chừng chục thương binh được di chuyển lên sàn phi cơ lẹ làng không thể tưởng. Viên Trung Úy trách nhiệm ra lịnh cho những ai lên trước lên sau sắp hàng thứ tự. Cuối cùng khi phi cơ vừa nhấc mình lên thì cũng là lúc ông chạy ra cố gắng cho phần mình. Cái ba lô nặng làm ông chạy chậm, gió phần phật từ cánh quạt gần như đuổi ông ra xa. Cuối cùng trong lúc gần hụt thì hai tay giơ lên của ông được hai binh sĩ nào đó trên phi cơ chụp dính. Phi cơ bốc lên cao, khỏi ngọn cây. Đạn bắn chéo chéo bên tai và gió thổi vù vù. Viên Trung Úy thấy mình càng lúc càng tuột ra khỏi tay người nắm. Cái chết đã cận kề. Bỗng nhiên ông thấy mình được nắm vững, thân mình ông với cái ba lô trên vai treo tòn teng song song với càng trực thăng. Một người thương binh nào đó đã cố nhoài mình ra nắm được hai cái quai đeo của ba lô. Chắc chắn. Mọi người reo hò khi viên Trung Úy được kéo lọt vô sàn. Bên ngoài đạn vẫn vẽ những lằn đỏ cong cong. Tiếng người phi công nói: ‘Anh may mắn cùng mình, những trường hợp như vừa rồi một trăm phần trăm là rớt xuống.’ Viên Trung Úy lột ba lô ra, cúi xuống vỗ vỗ, nói trong sự ngạc nhiên của những người không biết chuyện Trung sĩ Tánh: ‘Cám ơn em đã cứu anh, anh sẽ làm tròn lời hứa… chắc chắn như đinh đóng cột.’ Tôi không thể nào chịu nổi cảnh người vợ khóc chồng. Cô ta ngã xuống như cái bị rách ai đó liệng xuống đất, đầu úp lên cái ba-lô, hai tay ôm choàng như ôm người tình. Đau lòng như xé ruột tôi muốn bỏ đi nhưng nhà cô ta đơn chiếc quá, chỉ có một mẹ già, bà đương đứng xơ rớ với cặp mắt đỏ hoe, không biết thương cho số phần con cháu mình hay thương thằng rể vắn số. Chừng một giờ sau tôi kiếu, đi chập chạng như về từ đám tang người em ruột thịt của mình, không còn nhớ mình lang thang ngoài đường đã bao lâu. 4. Tôi trở lại căn nhà đó chừng năm lần nữa mỗi khi về phép. Lần nào cũng vậy, tôi cố tình ngồi lại trong thời gian thiệt ngắn. Tôi sợ tình cảm trai gái nẩy nở. Mọi chuyện rồi không biết sẽ về đâu. Đúng hay sai. Con bé T tứ thừa học càng ngày càng giỏi. Mẹ bé cho biết cha bé ngày trước đùa là nếu anh hy sinh thì bất cứ giá nào em cũng xin cho bé vô trường Quốc Gia Nghĩa Tử. Tôi có đến đó hỏi thì được biết phải chờ cho bé xong Tiểu Học mới được. Trường chỉ bắt đầu bằng lớp Sáu thôi. Rồi tôi bị thương ở bàn tay nầy. Chưa kịp báo tin cho ai thì phải đi gỡ lịch. Trong thời gian dài tôi tập sinh tồn bằng cách quên hết mọi chuyện bên ngoài, nhắm mắt trước những bất công và vô lý, tập quên mình là ai. Khi được thả ra thì biết bao nhiêu chuyện đổi thay đã ụp xuống vùng đất thua trận. Nhà cô ta đã đổi chủ hai ba lần. Không ai biết cái gia đình ba người đàn bà ba thế hệ đó trôi dạt về đâu. Ai cô thế mà ở yên được với chánh sách dãn dân vô lý trong thập niên đầu họ từ rừng chui ra? Nhiều khi ngủ tôi chiêm bao thấy lại cảnh thằng Tánh nói ‘Em lạnh quá’ rồi i ỉ ngâm nga ‘Coi tử sanh hề, cỏ rác dưới chân’. Cảnh nầy đan chéo với cảnh cái bàn thờ đơn sơ có tấm hình nó cười, dưới chưn bàn thờ là người đàn bà tóc tai rũ rượi ngồi khóc, kế bên bàn thờ là cái ghế cao cẳng có đặt đứng cái ba lô của nó. Cái ba lô đã cứu mạng tôi. Cái ba lô tượng trưng cho tình yêu của nó và gợi cho mặc cảm của tôi về sự không làm tròn lời hứa. Tôi thấy mình như có lỗi với Tánh và với con bé T tứ thừa. Đó cũng là một lý do khiến tôi không góp đơn ra đi theo dạng H. O. Lý do khác là tôi muốn chứng kiến tận mắt coi người ta đọa đày đất nước nầy tới nước nào. Tôi không phải là người được đào tạo để làm theo cách thế của bất kỳ ai khác dầu cho họ là đám đông khôn khéo tới mức nào, tôi có hệ thống giá trị của riêng mình. Và tôi theo nó tận cùng… Nguyễn Văn Sâm Truyện ngắn này mang giọng văn Nam Bộ chân chất, khắc họa nỗi đau chiến tranh, lòng trung nghĩa và thân phận con người hậu chiến. Nếu bạn đang tìm tuyển tập đầy đủ các truyện ngắn của Nguyễn Văn Sâm, có thể tham khảo các trang như namkyluctinh.org hoặc sites.google.com/site/nkltnguyenvansam, nơi lưu trữ nhiều tác phẩm của ông.