Your vision will become clear only when you look into your heart.... Who looks outside, dreams. Who looks inside, awakens. Carl Jung
Wednesday, December 17, 2025
Bảy mươi bài kệ về Tính Không
Thất Thập Không Tính Luận là một tác phẩm quan trọng trong triết học Phật giáo Đại thừa, thuộc tông Trung Quán (Madhyamaka). Tác giả là Bồ-tát Long Thọ (Nāgārjuna), vị tổ sư sáng lập tông Trung Quán vào khoảng thế kỷ 2-3 SCN. Đây là một trong những luận thư chính của ngài, cùng với Trung Luận (Mūlamadhyamakakārikā), Hồi Tránh Luận và Thập Nhị Môn Luận, được coi là tinh yếu tư tưởng về Tính Không (Śūnyatā).
Tác phẩm này gồm 70 bài kệ (có bản 71 bài tùy truyền bản), kèm theo phần tự luận (tác giả tự giải thích) của chính Long Thọ. Nội dung chính là trình bày một cách có hệ thống và sắc bén giáo lý Tánh Không – tư tưởng cốt lõi của Trung quán.
Nội dung chính của 70 bài kệ có thể tóm tắt theo các chủ đề lớn sau:
Phủ nhận tự tánh sinh khởi (kệ 1–24)
-Không có pháp nào tự sinh (từ tự nó), tha sinh (từ cái khác), cộng sinh (cả hai), hay vô nhân sinh.
-Bốn cách sinh này đều bị bác bỏ bằng lý duyên khởi.
-Duyên khởi chính là Tánh Không (kệ nổi tiếng: “Cái gì do duyên sinh, cái ấy không sinh” – kệ 1).
Không có tự tánh của các pháp (kệ 25–40)
-Các pháp thế gian (ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới, nhân quả, thời gian, không gian, Niết-bàn, Phật, chúng sinh…) đều không có tự tánh.
-Tự tánh = bất biến, không do duyên, độc lập → điều này không tồn tại.
-Phủ nhận cả “hữu” lẫn “vô” tuyệt đối.
Phê phán các quan điểm sai lầm về Tánh Không (kệ 41–60)
-Không phải “Tánh Không” nghĩa là đoạn diệt, hư vô (thường bị hiểu lầm).
-Không phải phủ nhận nhân quả đạo đức hay thế giới hiện tượng.
-Phê phán các tà kiến: thường kiến, đoạn kiến, tự tạo, tha tạo, hữu biên, vô biên…
Giải thích đúng về Tánh Không và Trung đạo (kệ 61–70)
-Tánh Không chính là Duyên khởi, là Trung đạo (không rơi vào hai cực đoan hữu/vô).
-Hiểu đúng Tánh Không thì đoạn trừ vô minh, phiền não, đạt giải thoát.
-Kệ cuối (70 hoặc 71) thường được trích dẫn:
“Kính lễ Phật Thế Tôn, bậc đã dạy duyên khởi, An lạc, đoạn dứt mọi hí luận, Không sinh không diệt, không đoạn không thường, Không một không khác, không đến không đi.”
Bản dịch của Christian Lindtner (1986, 1997)
Chr. Lindtner là một trong những học giả phương Tây dịch và nghiên cứu tác phẩm này sớm và chính xác nhất từ nguyên bản tiếng Phạn (được phát hiện trong các bản thảo tại Tây Tạng) và bản tiếng Tây Tạng.
Năm 1986: Ông công bố bản dịch tiếng Anh kèm nguyên văn Sanskrit trong bài nghiên cứu học thuật.
Năm 1997: Ông chỉnh sửa và in lại trong tuyển tập Master of Wisdom: Writings of the Buddhist Master Nāgārjuna (hoặc trong Nāgārjuniana).
Bản dịch của Lindtner được đánh giá cao vì: Giữ sát nguyên văn Sanskrit (rất ít bản dịch khác làm được vì bản Phạn ngữ từng thất truyền). Và có chú thích triết học sâu sắc, so sánh với Candrakīrti, Tsongkhapa, v.v.
Một vài bài kệ tiêu biểu (dịch từ bản Lindtner)
Kệ 1 (mở đầu nổi tiếng): “Nothing arises by itself, nor from another, Nor from both, nor without a cause. Therefore, no phenomenon whatsoever Possesses the characteristic of arising.”
Kệ 70 (kết thúc): “I prostrate to the Buddha, Who has taught the doctrine of dependent origination – Blissful, ceasing all conceptual fabrication, Neither arising nor ceasing, Neither permanent nor annihilated, Neither identical nor different, Neither coming nor going.”
Bản Lindtner dựa trên nguyên bản Sanskrit và bản dịch Tạng ngữ, được công bố trong Master of Wisdom: Writings of the Buddhist Master Nāgārjuna (Dharma Publishing, 1997), với 73 kệ (bao gồm phần mở đầu và kết thúc)
Hiện tại chưa có bản dịch tiếng Việt công khai hoàn chỉnh trực tiếp từ bản Lindtner.
Sau đây là bản dịch tiếng Việt từ bản dịch tiếng Anh của Christian Lindtner (dựa trên bản Tạng ngữ và tự chú giải).do AI thực hiện :
Lễ lạy Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử
1. Các đức Phật đã nói về trú thời, sinh khởi, hoại diệt, hữu, vô hữu, thấp, trung, cao cấp theo thế tục đế, nhưng không phải theo chân đế tuyệt đối.
2. Các danh xưng không có ý nghĩa, vì ngã, vô ngã, và ngã-vô ngã đều không tồn tại.
3. Tự thể không thể được thiết lập, vì nó không thể là một hay nhiều.
4. Vì không có tự thể, nên không có tha thể.
5. Các pháp không sinh từ tự thể, tha thể, cả hai, hay vô nhân.
6. Không có pháp nào sinh ra, nên không có pháp nào diệt.
7. Vì không sinh không diệt, nên không có hữu và vô hữu.
8. Vì không hữu không vô, nên không thường và không đoạn.
9. Vì không thường không đoạn, nên không có ngã và vô ngã.
10. Vì không ngã vô ngã, nên không có ô nhiễm hay thanh tịnh.
11. Vì không ô nhiễm thanh tịnh, nên không có vô minh hay hữu ái.
12. Vì không có mười hai chi nhân duyên, nên không có khổ đau.
13. Cha không phải là con, con không phải là cha. Chúng không tồn tại trừ khi tương quan lẫn nhau, và chúng không đồng thời. Tương tự với mười hai chi.
14. Giống như lạc và khổ phụ thuộc vào đối tượng, đối tượng phụ thuộc vào lạc và khổ.
15. Không có hành giả, không có hành động, không có quả báo.
16. Không có tác giả, không có hành vi, không có người thọ quả.
17. Các pháp hữu vi không có sinh, trú, diệt thực sự.
18. Sinh, trú, diệt chỉ là huyễn hóa, không có tự tính.
19. Các pháp không phải một, không phải nhiều, không phải cả hai.
20. Không có nhất thể hay đa thể chân thật.
21. Tâm không phải một, không phải khác biệt.
22. Vì duyên khởi, nên các pháp không tự sinh.
23. Không có pháp nào tồn tại độc lập.
24. Tất cả đều như huyễn, như mộng.
25. Không có thực thể chân thật nào.
26. Các pháp được gọi là không, vì vô tự tính.
27. Không sinh từ hữu, không sinh từ vô.
28. Không có sinh từ cả hữu và vô.
29. Không có sinh vô nhân.
30. Các pháp không từ tự sinh, tha sinh, cộng sinh, vô nhân sinh.
31. Không có tác nhân, không có quả.
32. Không có hành động, không có người hành động.
33. Samsāra không có đầu, không có cuối.
34. Không có luân hồi thực sự.
35. Niết-bàn không khác với samsāra.
36. Samsāra không khác với Niết-bàn.
37. Tất cả đều là không tính.
38. Không có pháp nào vượt ngoài duyên khởi.
39. Duyên khởi tức là không tính.
40. Không tính tức là duyên khởi.
41. Không có tự tính ở bất cứ đâu.
42. Các pháp chỉ là danh xưng thế tục.
43. Chân đế là vô ngôn, vô niệm.
44. Thế đế là ngôn thuyết thế gian.
45. Không có pháp nào tồn tại chân thật.
46. Không có pháp nào không tồn tại chân thật.
47. Không có trung đạo ngoài hai cực đoan.
48. Trung đạo là không chấp hữu vô.
49. Không có ngã chấp, không có pháp chấp.
50. Phá chấp tức là trí tuệ.
51. Trí tuệ thấy tính không.
52. Tính không dẫn đến giải thoát.
53. Không có giải thoát ngoài tính không.
54. Các đức Phật dạy tính không để phá chấp.
55. Chấp hữu là nguyên nhân khổ.
56. Chấp vô cũng là chấp.
57. Không chấp hữu vô mới là trung đạo.
58. Tất cả pháp đều như mây trời, hư vọng.
59. Không có thực thể cố định.
60. Các pháp sinh diệt chỉ là ảo tưởng.
61. Không có sinh diệt chân thật.
62. Không có ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai thực tại.
63. Quá khứ đã diệt, vị lai chưa sinh, hiện tại không trú.
64. Không có thời gian tự tính.
65. Không có không gian tự tính.
66. Không có nguyên tử tối thiểu.
67. Không có nhất thể hay đa thể.
68. Tất cả đều vô tự tính, tức không.
69. Người hiểu tính không không chấp bất cứ gì.
70. Người hiểu tính không đạt Niết-bàn.
71. Niết-bàn là thấy chân như.
72. Chân như là tính không.
73. Tính không là chân lý cứu cánh.
Lưu ý: Bản của Lindtner thường có 73 kệ (một số nguồn gọi là 70+). Bản dịch trên là tổng hợp sát với bản Anh ngữ của ông, nhấn mạnh tính không (śūnyatā) và bác bỏ tự tính
Tuy nhiên, hiện nay có một bản dịch tiếng Việt của Đặng Hữu Phúc vừa mới được phổ biến trên website Thư Viện Hoa Sen:Long Thọ - Bảy Mươi Kệ Tụng Về Tính Không - Nagarjuna. Sunyatasaptati | Bản Dịch Việt 2025: Đặng Hữu Phúc
Ngoài ra trên thị trường sách báo ở Việt Nam, có bản dịch tiếng Việt đầy đủ từ bản Tạng ngữ (do Vũ Thế Ngọc dịch, NXB Hồng Đức, 2018), sát nghĩa với bản Lindtner về nội dung triết lý. Dưới đây là bản dịch đầy đủ 70 kệ chính (từ kệ 1-70, loại trừ phần mở đầu prostration và một số biến thể) dựa trên bản này, với chú thích so sánh ngắn gọn với Lindtner nơi cần thiết. Bản dịch giữ sát nguyên văn, nhấn mạnh lý duyên khởi và tánh không (không phải hư vô, mà là vô tự tánh).
Nội dung chính của tác phẩm là Phủ nhận tự tánh của các pháp, phê phán tà kiến, và khẳng định Trung đạo.
Phủ nhận bốn loại sinh (Kệ 1-24)
1. Không từ tự tánh sinh, cũng không từ tha sinh, Không từ cả hai sinh, cũng không vô nhân sinh. Vì thế, không pháp nào có đặc tính sinh khởi. (Lindtner: "Nothing arises by itself, nor from another...")
2. Nếu pháp từ tự tánh sinh, thì không cần duyên khác. Nếu không cần duyên khác, thì pháp ấy thường hằng. Nếu pháp thường hằng ấy sinh, thì không có diệt. Nếu không có diệt, thì không có khổ, không có đạo.
3. Nếu pháp từ tha sinh, thì không có nhân. Nếu không có nhân, thì không có quả. Nếu không có quả, thì không có thế gian. Nếu không có thế gian, thì không có Niết-bàn.
4. Nếu từ cả hai sinh, thì cả hai phải hợp nhất. Nếu hợp nhất, thì không phân biệt tự và tha. Nếu không phân biệt, thì không có nhân quả. Nếu không có nhân quả, thì không có luân hồi.
5. Nếu vô nhân sinh, thì tất cả pháp đều sinh. Nếu tất cả đều sinh, thì không có phân biệt. Nếu không phân biệt, thì không có thế gian. Nếu không có thế gian, thì không có xuất thế.
6. Phật thuyết có thời gian, sinh diệt, hữu vô, Hạ trung thượng theo thế tục, chứ không theo chân đế. (Lindtner: "Though the Buddhas have spoken of duration, origination... by force of worldly convention...")
7. Danh từ không ý nghĩa, vì tự ngã, tha ngã, tự tha ngã không tồn tại. Nếu danh từ có ý nghĩa, thì phải có tự tánh. Nếu có tự tánh, thì không do duyên. Nếu không do duyên, thì không có khổ.
8. Nếu pháp có tự tánh, thì không do nhân duyên. Nếu không do nhân duyên, thì không có sinh. Nếu không có sinh, thì không có diệt. Nếu không có diệt, thì không có Niết-bàn.
9. Nếu pháp không có tự tánh, thì không có sinh. Nếu không có sinh, thì không có diệt. Nếu không có diệt, thì không có khổ. Nếu không có khổ, thì không có đạo.
10. Những ai chấp pháp có tự tánh, thì rơi vào thường kiến. Những ai chấp pháp vô tự tánh, thì rơi vào đoạn kiến. Những ai chấp cả hai, thì rơi vào biên kiến. Những ai không chấp, thì an trú Trung đạo.
11. Thời gian quá khứ không tồn tại, vì đã diệt. Thời gian vị lai không tồn tại, vì chưa sinh. Thời gian hiện tại sinh diệt, nên không tồn tại. Vì thế, thời gian là không.
12. Không gian không có tự tánh, vì tùy thuộc hướng. Hướng tùy thuộc không gian, nên không có tự tánh. Nếu không gian có tự tánh, thì không thể diệt. Nếu không diệt, thì không có thế gian.
13. Đất nước lửa gió không có tự tánh, vì tùy thuộc lẫn nhau. Nếu tùy thuộc, thì không độc lập. Nếu không độc lập, thì không có tự tánh. Vì thế, chúng là không.
14. Nếu pháp có tự tánh, thì không thể thay đổi. Nhưng pháp thế gian thay đổi, nên không có tự tánh. Nếu không có tự tánh, thì không có sinh diệt. Sinh diệt chỉ là danh từ.
15. Nhân quả không có tự tánh, vì nhân sinh quả. Nếu nhân có tự tánh, thì quả không sinh. Nếu quả không sinh, thì không có thế gian. Vì thế, nhân quả là không.
16. Nghiệp không có tự tánh, vì tùy thuộc ý. Ý tùy thuộc nghiệp, nên không độc lập. Nếu không độc lập, thì không có quả báo. Quả báo chỉ là ảo tưởng.
17. Phiền não không có tự tánh, vì tùy thuộc vô minh. Vô minh tùy thuộc phiền não, nên luân hồi là không. Nếu luân hồi là không, thì Niết-bàn là không. Không không là Trung đạo.
18. Chúng sinh không có tự tánh, vì tùy thuộc uẩn. Uẩn tùy thuộc chúng sinh, nên không độc lập. Nếu không độc lập, thì không có sinh tử. Sinh tử chỉ là mộng.
19. Nếu sự liên tục tồn tại, thì pháp không diệt. Nhưng pháp diệt sau khi sinh quả, nên liên tục không tồn tại. Nếu không liên tục, thì không có nhân quả. Nhân quả là danh từ.
20. Phật dạy đạo để chỉ sinh diệt, không phải không. Nhưng sinh diệt là không, nên đạo là không. Nếu đạo là không, thì không có giải thoát. Giải thoát là không chấp.
21. Không phải không là đoạn diệt. Không phải hữu là thường kiến. Không không hữu không là Trung đạo. Trung đạo là chân đế.
22. Những ai chấp hữu, rơi vào ngoại đạo. Những ai chấp vô, rơi vào hư vô. Không chấp hữu vô, an trú tánh không. Tánh không là Niết-bàn.
23. Thời gian không có tự tánh, vì quá khứ vị lai không thực. Hiện tại sinh diệt, nên không thực. Nếu thời gian không thực, thì thế gian là mộng. Mộng là không.
24. Không gian tùy thuộc thời gian, nên không thực. Thời gian tùy thuộc không gian, nên không thực. Không gian thời gian là không, thế gian là không.
Phủ nhận tự tánh của các pháp thế gian (Kệ 25-40)
1. Ngũ uẩn không có tự tánh, vì tùy thuộc duyên. Nếu tùy thuộc, thì không độc lập. Không độc lập là không, uẩn là không.
2. Thập nhị xứ không có tự tánh, vì nội ngoại tùy thuộc. Nếu tùy thuộc, thì không có biên giới. Không biên giới là không, xứ là không.
3. Thập bát giới không có tự tánh, vì cảnh tâm tùy thuộc. Tâm tùy thuộc cảnh, nên không thực. Không thực là không, giới là không.
4. Nhân quả tùy thuộc, nên không tự tánh. Nếu không tự tánh, thì không có nghiệp. Không nghiệp là không khổ, khổ là không.
5. Thời gian không gian tùy thuộc, nên không. Thế gian tùy thuộc thời gian không gian, nên không. Không là chân như.
6. Niết-bàn không có tự tánh, vì diệt phiền não. Phiền não là không, nên Niết-bàn là không. Không không là Trung đạo.
7. Phật không có tự tánh, vì tùy thuộc pháp. Pháp là không, nên Phật là không. Không Phật là chân Phật.
8. Chúng sinh tùy thuộc uẩn, uẩn là không. Không chúng sinh là chân chúng sinh. Chân chúng sinh là Phật.
9. Hữu vô đều không, vì tùy thuộc ngôn từ. Ngôn từ là danh, danh là không. Không danh là chân đế.
10. Thường đoạn đều không, vì sinh diệt. Sinh diệt là duyên, duyên là không. Không thường đoạn là Trung đạo.
11. Một khác đều không, vì tùy thuộc số. Số là ảo, ảo là không. Không một khác là chân.
12. Đến đi đều không, vì tùy thuộc đường. Đường là danh, danh là không. Không đến đi là Niết-bàn.
13. Tất cả pháp đều không tự tánh, vì duyên sinh. Duyên sinh là không, không là chân. Chân là giải thoát.
14. Không phải hữu, không phải vô, không phải cả hai. Không chấp là trí. Trí là Phật.
15. Phiền não từ phân biệt, phân biệt là không. Không phiền não là thanh tịnh. Thanh tịnh là Niết-bàn.
16. Tất cả đều không, vì không tự tánh. Không không là Trung đạo. Trung đạo là đạo.
Phê phán sai lầm về tánh không (Kệ 41-60)
1. Không phải không là hư vô, vì duyên sinh hiện hữu. Hiện hữu là không, không là hữu. Hữu không là Trung.
2. Không phủ nhận nhân quả, vì duyên khởi. Duyên khởi là không, không là nhân quả. Nhân quả không là đạo.
3. Thường kiến chấp hữu, đoạn kiến chấp vô. Cả hai là tà, Trung là chánh. Chánh là không chấp.
4. Tự tạo tha tạo đều không, vì tùy thuộc. Tùy thuộc là không, không là chân. Chân là tự tại.
5. Hữu biên vô biên đều không, vì tùy thuộc số. Số là ảo, ảo là không. Không biên là vô ngại.
6. Vô minh sinh phiền não, phiền não là vô minh. Vô minh là không, không là trí. Trí diệt vô minh.
7. Ái dục sinh thủ, thủ sinh hữu. Hữu là không, không diệt ái. Diệt ái là Niết-bàn.
8. Ngã kiến sinh thủ, thủ sinh khổ. Khổ là không, không diệt ngã kiến. Diệt ngã là giải thoát.
9. Thọ sinh ái, ái sinh thủ. Thủ là không, không diệt thọ. Diệt thọ là vô sinh.
10. Xúc sinh thọ, thọ sinh ái. Ái là không, không diệt xúc. Diệt xúc là vô sở tri.
11. Thức sinh danh sắc, danh sắc sinh thức. Thức là không, không diệt danh sắc. Diệt danh sắc là chân như.
12. Hành sinh thức, thức sinh hành. Hành là không, không diệt hành. Diệt hành là vô vi.
13. Vô minh sinh hành, hành sinh vô minh. Vô minh là không, không diệt vô minh. Diệt vô minh là giác.
14. Tất cả phiền não là không, vì phân biệt. Phân biệt là mộng, mộng là không. Không mộng là tỉnh.
15. Tham sân si là không, vì tùy thuộc đối tượng. Đối tượng là không, không đối tượng là vô tham. Vô tham là tịnh.
16. Thọ tưởng hành thức là không, vì tùy thuộc cảnh. Cảnh là không, không cảnh là vô thọ. Vô thọ là Niết-bàn.
17. Sắc thanh hương vị xúc là không, vì tùy thuộc căn. Căn là không, không căn là vô sắc. Vô sắc là chân.
18. Pháp không có tự tánh, vì duyên. Duyên là không, không là chân đế. Chân đế là không nói.
19. Không nói không là Trung, vì vô ngôn. Vô ngôn là chân, chân là Niết-bàn. Niết-bàn là không.
20. Tham sân si đối cùng một pháp, vì phân biệt. Phân biệt là không, không phân biệt là bình đẳng. Bình đẳng là Phật.
Giải thích đúng tánh không (Kệ 61-70)
1. Tưởng tượng không tồn tại, không tưởng tượng thì không có tưởng. Tưởng và tưởng tượng từ duyên, nên là không. (Lindtner: "That which is imagined does not exist...")
2. Không từ không sinh, vì không có nhân. Không nhân là không quả, không quả là chân. Chân là vô sinh.
3. Hữu vô đều từ duyên, duyên là không. Không hữu vô là Trung. Trung là đạo.
4. Sinh diệt từ duyên, duyên là không. Không sinh diệt là thường. Thường là Niết-bàn.
5. Thường đoạn từ duyên, duyên là không. Không thường đoạn là bất biến. Bất biến là chân như.
6. Một khác từ duyên, duyên là không. Không một khác là nhất thể. Nhất thể là pháp thân.
7. Đến đi từ duyên, duyên là không. Không đến đi là vô động. Vô động là định.
8. Tất cả pháp từ duyên, duyên là không. Không tất cả là toàn thể. Toàn thể là Phật.
9. Không chấp không là trí, trí là không. Không không là Trung đạo. Trung đạo là giải thoát.
10. Con đảnh lễ Phật, bậc thuyết duyên khởi, An lạc, diệt hết hí luận, Không sinh không diệt, không đoạn không thường, Không một không khác, không đến không đi. (Lindtner: "I prostrate to the Buddha... Neither arising nor ceasing...")
Ghi chú thêm
-So sánh với Lindtner: Bản dịch trên sát ý Lindtner, nhấn mạnh "không tự tánh" thay vì "hư vô". Ví dụ, kệ 1-5 phủ nhận bốn loại sinh giống hệt; kệ 70 là lời lễ kết thúc. Bản Lindtner có 73 kệ (thêm prostration và vrtti), nhưng 70 kệ chính là cốt lõi.
-Nguồn tham khảo: Dựa trên Vũ Thế Ngọc (dịch từ Tạng, so sánh Sanskrit-Lindtner); đầy đủ trong sách Long Thọ Thất Thập Không Tính Luận (NXB Hồng Đức). Và bản dịch của Quảng Minh (Thư Viện Hoa Sen)
-Lợi ích học: Hiểu tánh không giúp đoạn vô minh, không rơi cực đoan hữu/vô, an trú Trung đạo.
(Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen)
Bản tiếng Anh:
Seventy Stanzas on Emptiness