Your vision will become clear only when you look into your heart.... Who looks outside, dreams. Who looks inside, awakens. Carl Jung
Monday, November 10, 2025
CEO Activism
https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/elon-musk-danh-mat-nua-nuoc-my-bai-hoc-nhan-tien/
Khái niệm “CEO activism” – khi lãnh đạo doanh nghiệp công khai lập trường chính trị – thật ra không mới. Nhiều người từng thể hiện tương tự, từ Tim Cook (Apple) đến Howard Schultz (Starbucks). Nhưng họ thường chọn các vấn đề mang tính giá trị phổ quát: quyền con người, môi trường sống, bình đẳng xã hội. Elon Musk đi theo hướng ngược lại: biến chính trị thành sân chơi cá nhân, gắn thương hiệu với một phe, một chiến tuyến. Trong lĩnh vực marketing, đây là điều tối kỵ. Michael Jordan từng nói: “Người Cộng Hòa cũng mua giày thể thao.” Câu nói ấy giờ được trích ngay trong nghiên cứu Yale như một lời cảnh tỉnh: khi thương hiệu chọn phe, nó đánh mất nửa thị trường.
Các nhà nghiên cứu ước tính rằng đến quý I/2025, nếu không có “hiệu ứng tiêu cực Musk,” doanh số Tesla hàng tháng sẽ cao hơn 150%. Ngược lại, doanh số xe điện và hybrid khác sẽ thấp hơn khoảng 25%. Tính tổng cộng, Tesla mất 1.26 triệu xe, trong khi các đối thủ thu về gần tương đương – một “hiệu ứng chuyển dịch hoàn hảo.”
Dù vậy, nhóm tác giả cho rằng đây mới chỉ là khởi đầu. Khi hình ảnh của Musk ngày càng gắn với chính quyền Trump, xu hướng sụt giảm ở các khu vực Dân Chủ tiếp tục tăng tốc – và có thể lan sang các thị trường ngoài Mỹ, nơi “phong cách chính trị” của ông không được ưa chuộng, thậm chí bị khinh ghét.
Bài học lớn cho thời đại thương hiệu cá nhân
Trong nền kinh tế truyền thông xã hội, ranh giới giữa con người và thương hiệu ngày càng mong manh. Elon Musk là hình mẫu thành công nhờ thương hiệu cá nhân nhưng cũng là minh chứng cho nguy cơ khi cá nhân đó bị chính trị hóa.
Tesla trở thành nạn nhân của chính chiến lược mà nó từng hưởng lợi: xây dựng “thần thoại” quanh người sáng lập. Như nhóm tác giả kết luận: “Khi hình ảnh cá nhân trở thành thương hiệu, rủi ro của con người trở thành rủi ro của công ty. Và khi con người sa vào chính trị, công ty sẽ phải trả giá.”
Câu chuyện “hiệu ứng đảng phái” của Musk vượt ra ngoài khuôn khổ kinh tế học. Nó phơi bày cách tiêu dùng và chính trị đang hòa làm một trong xã hội Mỹ phân cực: chọn một sản phẩm cũng là chọn một bản sắc. Elon Musk, trong nỗ lực khẳng định bản ngã, đã chia đôi chính khách hàng của mình. Từ một biểu tượng đổi mới, ông trở thành phép thử trung thành chính trị.
Và Tesla – thương hiệu từng đại diện cho tương lai – giờ bị kẹt trong hiện tại đầy chia rẽ. Trong một thế giới mà niềm tin quan trọng không kém công nghệ, câu chuyện của Musk là lời nhắc lạnh lùng: thương hiệu không thể là chiến tuyến.
Elon Musk ít nhiều đã “né” chính trị từ sau cú ngã đau thấu trời khi lăng xăng “tham chính” nhưng đến nay, những hoen ố gây ra vẫn còn in đậm trên thương hiệu Tesla. Uy tín cá nhân Elon Musk vẫn chưa được khôi phục. Và một thực tế phũ phàng nữa là dân Cộng Hòa nói chung và MAGA nói riêng vẫn chưa bao giờ là nhóm khách hàng ưa thích Tesla, cho dù họ từng khoái chiếc cưa máy của Elon Musk.
What's the difference between hurricanes, cyclones and typhoons?
Hurricanes are tropical storms that form over the North Atlantic Ocean and Northeast Pacific.
Cyclones are formed over the South Pacific and Indian Ocean.
Typhoons are formed over the Northwest Pacific Ocean.
Collectively, these storms are referred to as tropical cyclones.
Tropical cyclones are characterised by very high wind speeds, heavy rainfall, and storm surges - short-term rises to sea-levels. This often causes widespread damage and flooding.
They begin as atmospheric disturbances, external - such as, for example, a tropical wave, an area of low pressure where thunderstorms and clouds develop.
As warm, moist air rises from the ocean surface, winds begin to spin. The process is linked to how the Earth's rotation affects winds in tropical regions just away from the equator.
https://www.bbc.com/news/live/cz7pg0rlw4pt
Sunday, November 9, 2025
Health Care in the USA Compared to Peer Countries
Monday, November 3, 2025
Krasznahorkai László
Music and his intro speech in English then in Hungarian afterwards
41:00 till end of video clip: Reading of excerpts from his works and piano music near the end (~53:00 – 59:00)
105,839 views Streamed live on Dec 7, 2025
The Nobel Prize laureate in literature 2025, László Krasznahorkai, delivered his Nobel Prize lecture at the premises of the Swedish Academy in Börshuset, Gamla stan. Due to technical difficulties, this video of the lecture is incomplete. Read the entire lecture in Hungarian, Swedish, and English at https://www.nobelprize.org/prizes/lit... Live stream terms of use: https://www.nobelprize.org/ceremony/s...
https://tiasang.com.vn/van-hoa/krasznahorkai-laszlo-bac-thay-cua-tan-the/
Nhà văn Krasznahorkai László
Giáp Văn Chung
Oct 30, 2025
Các tác phẩm của ông mang tính dự báo, tiên tri về tương lai của thế giới và xã hội. Các nhà phê bình coi ông sánh ngang với Kafka, Thomas Bernhard, Melville… nhưng ông vẫn giữ được đặc trưng và cá tính riêng biệt….
Sau các chuyến đi Trung Quốc, ông đã hoàn thành tiểu thuyết Az Urgai Fogoly (The prisoner of Urga, 1993) và sau các chuyến đi Nhật Bản, ông đã viết tiểu thuyết Északról hegy, Délről tó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the north by hill, From the south by lake, From the west by roads, From the east by river, 2003).
Krasznahorkai László là một nhà văn có cá tính rất đặc biệt, văn phong độc đáo, một trong số ít những tên tuổi lớn đáng chú ý, một ngôi sao có ánh sáng khác lạ trên bầu trời văn chương đương đại Hungary. Xin trân trong giới thiệu để bạn đọc trong nước có thể tiếp cận với một tác giả được coi là “quái kiệt” của văn chương Hungary
Các tác phẩm nổi bật của ông có thể kể đến: Satantango (Vũ điệu quỷ Satan, 1985); Nỗi buồn của sự phản kháng , 1989; Chiến tranh và Chiến tranh, 1999; Siebolo giáng lâm, 2008; Bá tước Wencheim trở về, 2016; Sự hủy hoại và nỗi buồn dưới bầu trời, 2004 v.v…
Các tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt của Krasznahorkai László: Chiến tranh và chiến tranh (Nhã Nam, Hội nhà Văn, 2017) và Satantango (hay “Vũ điệu quỷ Satan” (Nhã Nam, Văn Học, 2022).
Tới nay, ông đã giành được trên 20 giải thưởng có giá trị của Hungary và quốc tế, tiêu biểu như Bestenliste Prize của Đức (1993); Giải Kossuth (2004); America Award in Literature (2014); Man Booker Quốc tế (2015) và Giải Nobel Văn chương (2025).
Related Link:
https://tiasang.com.vn/van-hoa/doc-laszlo-krasznahorkai-o-viet-nam-tu-mot-trai-nghiem-tren-giang-duong/
Đọc Laszlo Krasznahorkai ở Việt Nam: Từ một trải nghiệm trên giảng đường
Trần Ngọc Hiếu
Nov 02, 2025
Tôi nghĩ Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển có lý khi cho rằng thứ văn chương của Krasznahorkai làm người ta tin vào quyền năng của nghệ thuật. Đó là quyền năng của một thứ văn chương bi quan đến tuyệt vọng nhưng thường thứ văn chương như thế lại có khả năng thấu thị và ít lừa mị con người hơn cả. Điều đó được thể hiện ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông – Vũ điệu quỷ Satan (1985). Cuốn tiểu thuyết được sáng tác và lấy bối cảnh của thời hậu kỳ Chiến tranh Lạnh cách đây 40 năm, mỉa mai thay, chẳng khác mấy thực tại của thế giới đương đại. Với những câu văn cố tình lê thê, rậm rạp, Krasznahorkai đã mô tả cái rệu rã của cả cảnh tượng lẫn con người. Như những khuôn hình cận cảnh trong điện ảnh, lời trần thuật của ông chậm rãi làm nổi bật quá trình mục ruỗng lương năng ở con người vốn bị giam hãm trong một mô hình xã hội đầy ảo tưởng duy ý chí. Không khác gì các nhân vật trong vở Chờ Godot của Beckett, nhân vật của Krasznahorkai chỉ còn sống trong sự chờ đợi một nhà tiên tri giả và để rồi bị bỏ rơi ở trạm quá cảnh lên thiên đường. Cái cơ chế làm cạn kiệt sự chờ đợi của con người vào một tương lai không bao giờ đến và rốt cục bị bỏ mặc mà không hay đầy bất nhẫn ấy thực ra vẫn đang vận hành thế giới mà chúng ta đang sống. Lời cảnh báo của văn chương dẫu vang lên sớm nhưng hình như vẫn luôn được hiểu muộn. Rất muộn….
Văn bản mà tôi lựa chọn vốn được đăng trên mục “Truyện chớp” của tờ The New Yorker và sau này là văn bản cuối cùng của tập The World Goes On (Thế giới tiếp diễn, 2024) của Krasznahorkai nên thường được mặc định là một văn bản truyện. Nhưng thật ra rất khó xếp nó gọn gàng vào một thể loại định hình nào:
Tôi sẽ để lại mọi thứ, những thung lũng, những ngọn đồi, những con đường và những con giẻ cùi trong những khu vườn, để lại những vòi nước và những cha xứ, thiên đường và trần gian, mùa xuân và mùa thu, để lại những lối về, những buổi tối trong căn bếp, ánh mắt yêu thương cuối cùng và mọi con đường rùng rợn dẫn vào thành phố, để lại hoàng hôn dày phủ trên mặt đất, sức nặng, hy vọng, say mê và yên bình, để lại những người thân yêu và gần gũi, mọi thứ cảm động, bàng hoàng, thích thú và thăng hoa, để lại sự cao quý, lòng nhân từ, sự dễ chịu và cái đẹp ma quái, để lại mỗi chồi non, mỗi sự ra đời và tồn tại, để lại câu thần chú, sự bí ẩn, những khoảng cách, sự bất tận và cái ngây ngất của vĩnh cửu: bởi tôi sẽ rời bỏ Trái đất này và những vì sao kia, bởi tôi sẽ chẳng mang theo thứ gì từ nơi này, bởi tôi đã nhìn vào những gì đang đến, và tôi chẳng cần gì ở nơi đây.
(“Chẳng cần gì nơi đây” – bản dịch của Nguyễn Huy Hoàng)
Cách nhìn của Đạo Phật về sự vận hành các pháp ở đời
Jane Goodall and Chimps
Jane Goodall và loài vượn
Lý Lê – 1 tháng 11, 2025
https://saigonnhonews.com/doi-song/the-gioi-quanh-ta/jane-goodall-va-loai-vuon/
https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/11/jane-goodall-1536x1043.jpeg
Jane Goodall (thời trẻ) và các chú vượn. (Hình: Hugo Van Lawick/National Geographic.org)
Bà Jane Goodall, chuyên gia về linh trưởng (primate) và cũng là nhà bảo tồn sinh vật, vừa qua đời, hưởng thọ 91 tuổi. Sự đóng góp của bà được công nhận và tôn vinh như các công trình vĩ đại đã thay đổi thế giới. Rất nhiều người biết đến bà qua các chương trình nghiên cứu, thẩm định và truyền bá kiến thức về tinh tinh (chimpanzee hay “chimp” một giống vượn / khỉ không đuôi).
Jane Goodall sinh ngày 3 Tháng Tư năm 1934 tại London, Anh Quốc, Từ thủa thơ ấu, cô bé Jane đã say mê tìm hiểu cách sinh hoạt của thú vật chung quanh. Rời gia đình năm 18 tuổi, cô gái trẻ làm nhiều công việc để tự lập và khi làm thư ký cho một hãng phim đã mang đến cơ hội sinh sống tại châu Phi. Ở đó, Jane trở thành phụ tá cho nhà nhân chủng học Louis Leakey. Chính ông Leaky đã mở ra con đường giáo dục đặc biệt cho phụ nữ này. Năm 1965, Jane Goodall thụ nhận văn bằng tiến sĩ về ethology, ngành học nghiên cứu sinh hoạt của thú vật trong thiên nhiên từ đại học Cambridge, Anh Quốc. Bà là người đầu tiên đoạt bằng tiến sĩ mà không trải qua chương trình đại học để tốt nghiệp cử nhân (AB). Người chồng, ông Derek Bryceson, đã giúp bà Goodall thành lập Gombe Stream National Park tại Tanzania.
Gombe nơi bà Goodall sinh sống và làm việc, cho đến năm 1975 trở thành nơi huấn luyện của các sinh viên ban cao học, tiến sĩ ngành ethology.
Rời châu Phi, bà Goodall qua Hoa Kỳ sinh sống và thành lập nhiều tổ chức nghiên cứu và giáo dục về ngành học kể trên như Jane Goodall Institute for Wildlife Research, Education and Conservation (hay the Jane Goodall Institute) tại California, Jane Goodall’s Roots & Shoots…
Các khám phá của Tiến Sĩ Goodall đã sửa chữa các thành kiến sai lầm của con người về tinh tinh. Giống vượn ấy ăn thịt và hoa quả, biết chế tạo và dùng dụng cụ cũng như hiểu biết và sinh sống theo tổ chức xã hội phức tạp. Sau nhiều năm quan sát, thử nghiệm, bà Goodall đã ghi chép và phát hành cuốn The Chimpanzees of Gombe: Patterns of Behavior (1986), cuốn sách giáo khoa đầu tiên tạo dựng căn bản kiến thức về tinh tinh.
Khám phá về loài vượn của bà Goodall bắt đầu khi “chung sống” trong rừng với con tinh tinh mà bà đặt tên là David Graybeard. Lần đầu khi lẽo đẽo theo David, Jane Goodall trao cho con vật một hạt đậu thông. David cầm rồi thả rơi hạt đậu nhưng lại nhẹ nhàng nắm tay bà ấy. Thì ra đó là cách tinh tinh trấn an đồng loại. Bà Jane nhận ra khoảnh khắc thân thiện này và tiếp tục trao đổi với con vật qua các cử chỉ.
Ngày qua ngày, Jane Goodall quan sát và ghi nhận những điều mới mẻ khác. Có lần David dùng một cành cây, tước bỏ hết lá rồi chọc cho bể ổ mối và thong thả bốc từng nhóm mối mà ăn. Hoạt động ấy cho thấy rằng tinh tinh biết “chế tạo” và dùng vật dụng, biến cành cây thành que nhọn, và ăn mối như các động vật ăn thịt.
Jane Goodall tiếp tục tìm kiếm, học hỏi qua cách sống quây quần với loài vượn, đặt tên từng con thú thay vì nhìn ngắm từ xa qua phim ảnh thu góp. Cách nghiên cứu vô cùng mới lạ qua kinh nghiệm cá nhân. Tiếp xúc gần gũi với thú rừng để thu nhặt dữ kiện kể cả tìm hiểu cảm xúc của chúng. Những năm 60 của thế kỷ trước, khoa học chưa biết nhiều về thú vật để truyền lại kinh nghiệm học hỏi, và Jane Goodall đã tự học theo phương cách riêng.
Thay vì đánh số, Jane Goodall đặt tên cho mỗi con tinh tinh, ghi chép hành động và cách biểu hiện cảm xúc của chúng rồi công bố các khám phá ấy. Điều dễ hiểu là các nhà khoa học sinh vật ngỡ ngàng rồi phản đối, chê bai vì chưa ai chịu lang thang trong rừng ngày này sang ngày khác. Họ cho rằng phương cách tìm hiểu của bà ấy “sai”, trẻ, ít kinh nghiệm và chẳng tốt nghiệp từ trường học nào nên các khám phá nọ “thiếu căn bản” khoa học (chưa được chứng nghiệm).
Bỏ mặc lời khen chê, bà Goodall tiếp tục công việc nghiên cứu qua những sinh hoạt trực tiếp với thú rừng. Jane Goodall là một trong ba sinh viên được giáo sư Leakey tuyển chọn để tìm hiểu về linh trưởng trong môi sinh của chúng. Jane Goodall chọn vượn tinh tinh, Dian Fossey tìm hiểu về khỉ đột (gorilla) và Birutė Galdikas học hỏi về đười ươi (orangutan). Bộ ba này được đề xướng là “Leakey’s Angels”, ba thiên thần của giáo sư Leaky trong ngành ethology.
Thế giới biết đến bà Goodall qua công trình khám phá của bà ấy vào năm 1963 khi National Geographic đăng tải bài công bố đầu tiên “My Life Among Wild Chimpanzees.”
Sau đó, các công trình khám phá và huấn luyện của Tiến Sĩ Goodall đã được thế giới công nhận qua các giải thưởng cao quý: Dame Commander of the Order of the British Empire (DBE) năm 2003; the Templeton Prize (2021); the Stephen Hawking Medal for Science Communication (2022), và the Presidential Medal of Freedom (2025).
Ngoài các thành quả trong khoa học, công trình khám phá của bà Goodall được tuyên dương như một cuộc cách mạng phá đổ các thành kiến về phương thức nghiên cứu động vật và phá đổ cả hàng rào [vô hình] ngăn cản phụ nữ tiến thân trong xã hội. Các khám phá ấy cho thấy ranh giới giữa con người và thú vật không còn rõ rệt như trước.
Cuộc đời của bà Goodall được ghi chép qua nhiều cuốn phim tài liệu. Trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình NBC năm 2022, bà Goodall mô tả chi tiết về cách hành xử của tinh tinh trong xã hội vượn, tính cách “gia trưởng” của con đực, alpha male, luôn tỏ ra mạnh mẽ và thích dẫn đầu; hung hăng tranh giành và xua đuổi các con vượn không tuân phục… rồi so sánh với cách hành xử của ông Trump, “male chimpanzee”. Các tính cách “gia trưởng” của tinh tinh xem ra không khác với con người cho lắm.
Ngay trong tuổi bát tuần, bà Goodall vẫn tiếp tục cổ võ các tài liệu giáo dục với mục đích xoay chuyển ý nghĩa của con người về thú vật chung quanh, xem chúng như “bạn” và đối đãi tử tế thay cho việc buôn bán để giúp công việc nặng, để giải trí… Bà muốn giúp người trẻ xông pha, nuôi giữ hy vọng và tin tưởng vào xã hội tương lai.
Thế giới bày tỏ lòng thương tiếc quý mến với một con người lỗi lạc, đóng góp nhiều công trình nghiên cứu cho nhân loại khi bà Goodall mãn phần năm nay ở tuổi 91.
Subscribe to:
Posts (Atom)

