Friday, January 11, 2019

THIỀN QUÁN -NỀN TẢNG THÀNH ĐẠO CỦA BỒ-TÁT SIDDHĀRTHA


THIỀN QUÁN
NỀN TẢNG THÀNH ĐẠO CỦA BỒ-TÁT SIDDHĀRTHA

Quảng Tánh
Đêm Bồ-tát Siddhārtha vượt thành xuất gia, cả hoàng thành Kapilavasthu chìm trong im ắng và hoang lạnh. Không khí chia ly buồn thương man mác như bao trùm khắp các ngả đường của kinh thành mỗi nơi ngài đi qua. Bồ-tát Siddhārtha cảm nhận mọi thứ rất rõ ràng dù ngài không hề ngoái lại. Siddhārtha quyết tâm ra đi với tất cả nhiệt huyết của tuổi xuân, quyết tìm ra chân lý để giải quyết vấn đề khổ đau sinh tử cho mình và cho cả muôn loài.
Sau khi vượt sông Anomā, Siddhārtha cởi hoàng bào, cắt tóc trao cho Channa đem về trình báo phụ hoàng, tạm biệt người hầu cận trung thành và ngựa Kanthaka yêu quý, ngài nhắm rừng xanh thẳng tiến. Người thanh niên, vị Đông cung thái tử đã để lại phía sau tất cả dư âm của một đời sống vương giả, hiện thân làm đạo sĩ lang thang trong rừng xanh núi thẳm, với lộ trình phía trước dường như vô định, chưa biết về đâu.
Năm năm tầm sư học đạo, bấy giờ Bồ-tát còn được gọi là đạo sĩ Gotama đã gặp hai vị thầy nổi tiếng đương thời, đó là Ārāḍa Kālāma và Udraka Rāmaputra. Tại đạo tràng của đạo sư Ārāḍa Kālāma, Bồ-tát Siddhārtha đã chứng được Vô sở hữu xứ, một thiền chứng thâm sâu thuộc tầng thứ ba của Tứ không định. Đạo sĩ Gotama được mời ở lại để lãnh đạo, dẫn dắt đồ chúng nhưng ngài thấy rằng: “Giáo lý này không dẫn đến buông xả, không tận diệt ái dục, không dẫn đến chấm dứt, không dẫn đến thanh bình an lạc, trực chứng, giác ngộ và Niết-bàn” nên từ giã ra đi.
Rời Ārāḍa Kālāma, Bồ-tát lần tìm đến với đạo sư Udraka Rāmaputra. Tại đây, đạo sĩ Gotama đã chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thiền chứng cao nhất trong tam giới và trong tất cả các đạo sĩ đương thời. Udraka Rāmaputra cũng thỉnh cầu đạo sĩ Gotama ở lại lãnh đạo đồ chúng nhưng Bồ-tát vẫn thấy rằng thiền chứng này tuy rất thậm thâm nhưng vẫn chưa đạt đến giác ngộ và Niết-bàn, nên cũng giã từ ra đi.
Với thời gian dài đến năm năm, tuy không đạt được giác ngộ tối hậu nhưng Bồ-tát Siddhārtha đã thành tựu kinh nghiệm về thiền định, nhất là thiền Chỉ với các thiền chứng của Tứ không định rất sâu xa tịch tịnh. Lúc rời xa vị thầy Udraka Rāmaputra danh tiếng nhất, kỳ thật Bồ-tát cũng không biết phải nương tựa vào ai. Trong tận cùng của niềm cô độc, tiếng gọi khổ hạnh bỗng trở nên réo rắt gọi mời. Bởi trong tín niệm của các đạo sĩ đương thời, khổ hạnh luôn đề cao, mọi người xem đó là cửa ngõ duy nhất để diệt trừ tất cả tội lỗi cũng như phiền não, mở toang cánh cửa u tối vô minh, thành tựu giải thoát tối hậu.
Những khu rừng xanh tốt và thâm u xứ Uruvelā là thánh địa của những đạo sĩ khổ hạnh. Đạo sĩ Gotama tìm đến để thực hành khổ hạnh cùng với năm người bạn đồng tu, nhóm đạo sĩ Kondanna. Thêm sáu năm trường khổ ải, đạo sĩ Gotama đã tận lực đi theo con đường khổ hạnh, tự đoạ đày. Ngài tinh tấn đến độ vượt thắng tất cả mọi hình thức khổ hạnh của các đạo sĩ đương thời, có thể nói là bậc khổ hạnh đệ nhất và đỉnh cao chót vót là ngấp nghé bờ vực của sự tự huỷ diệt. Trong tình trạng sắp đối diện với cái chết, đạo sĩ Gotama chợt nhận ra rằng: Khổ hạnh không đưa đến giác ngộ. Đời sống vương giả của bậc đế vương hưởng thọ dục lạc là chìm đắm trong sanh tử thì đã đành, nhưng đời sống khổ hạnh đến tận cùng cũng chỉ làm thân thể suy kiệt, tinh thần héo úa và nhất là bế tắc trong việc khai mở tuệ giác, chỉ phí công vô ích mà thôi.
Bồ-tát Siddhārtha tiếp tục trầm tư về con đường đưa đến giác ngộ. Có một đạo lộ nào khác nữa chăng? Nhớ đến thời thơ ấu, trong buổi lễ hạ điền, ngài đã thể nhập Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh. Một ý tưởng sáng chói chợt hiện ra nơi ngài là hướng nội và xả ly. Đạo sĩ Gotama liền quyết định từ bỏ khổ hạnh, thọ dụng bát sữa của nàng Sujata dâng cúng, tắm rửa ở dòng sông Neranjara, bắt đầu một phương pháp thực tập hướng nội và xả ly theo tinh thần Trung đạo, tránh xa hai cực đoan. Sau khi sức khoẻ được hồi phục, tinh thần minh mẫn, định tỉnh trở lại, Bồ-tát Siddhārtha đến cội bồ-đề hạ quyết tâm thiền định.
Trong lúc Bồ-tát phát đại nguyện “dù thịt nát xương tan, nếu chưa giác ngộ thì không rời khỏi cội bồ-đề”, nhóm đạo sĩ Kondanna từ bỏ ngài ra đi. Họ khinh ghét ngài vì đã thối thất, không đi đến tận cùng con đường khổ hạnh. Còn lại một mình trong rừng thiêng nước độc, bốn bề hoang lạnh, đối diện với vô vàn hiểm nguy, Bồ-tát thể nhập thiền định với quyết tâm sắt đá, ý chí kim cương. Bốn mươi chín ngày đêm toạ thiền dưới cội bồ-đề là cuộc chiến hàng phục nội ma và ngoại chướng vô cùng cam go và cuối cùng ngài đã chiến thắng.
Trong đêm cuối cùng, trước khi tuệ giác bùng vỡ, kinh sách ghi rằng Bồ-tát hướng đến giác ngộ tối hậu bằng cách tuần tự nhập Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Trên nền tảng Tứ thiền, Bồ-tát vận dụng “tâm định tĩnh, thanh tịnh, không còn ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ uốn nắn, dễ sử dụng, giác tỉnh, vững chắc và không thể lay chuyển”, hướng tâm ấy về tuệ giác “hồi nhớ những kiếp sống quá khứ”. Ngài liền nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ với đầy đủ các chi tiết. Đó là tuệ giác đầu tiên, Túc mạng minh, Bồ-tát Siddhārtha chứng ngộ vào lúc canh đầu, đêm thành đạo.
Tuệ giác và tịnh lạc đã phát sanh, nhưng Bồ-tát vẫn giữ chánh niệm, tự giác tỉnh, tiếp tục hướng tâm ấy về “sự hiểu biết hiện tượng sanh và diệt của chúng sanh”. Ngài thấy rõ chính hành vi tạo tác của mỗi người là tác nhân đưa họ sanh tử luân hồi trôi lăn trong ba cõi. Bồ-tát chứng Thiên nhãn minh, tuệ giác thứ hai vào canh giữa, đêm thành đạo.
Ngài tiếp tục hướng tâm ấy đến “tuệ hiểu biết sự chấm dứt các lậu hoặc”. Vào canh cuối của đêm thành đạo, lúc sao mai vừa mọc, Bồ-tát chứng được Lậu tận minh. Màn đêm tăm tối của dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu đã bị phá tan và trí tuệ bùng phát. Ngài biết rằng: “Ta đã được giải thoát. Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa”. Ngài chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Từ đây, ngài được tôn xưng là đức Phật với mười danh hiệu: Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.
Trải qua vô lượng kiếp hành Bồ-tát đạo, và trong kiếp hiện tại Bồ-tát Siddhārtha cũng phải bao phen khó nhọc, dám hy sinh cả thân mạng mới có ngày huy hoàng, thành bậc Giác ngộ, Thế Tôn, Phật Thích-ca-mâu-ni dưới cội bồ-đề.
Có thể xem Tam minh (Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh) là nội dung chứng ngộ của Bồ-tát Siddhārtha trong đêm thành đạo. Tam minh là tuệ giác của thiền Quán được đức Phật phát triển và thành tựu dựa trên nền tảng thiền Chỉ của Tứ thiền. Chính sự khám phá này của Thế Tôn, về sau đã trở thành nguyên tắc cơ bản cho sự tu tập và thăng chứng của các Tỳ-kheo đệ tử.
Kinh Đại Sư Tử Hống (Trung Bộ I) tóm tắt lộ trình tu tập của vị Tỳ-kheo bằng cách chứng nhập từ Sơ thiền đến Tứ thiền, rồi từ Tứ thiền chuyên tâm tu tập thiền Quán vô ngã, vô thường, loại trừ mười kiết sử để lần lượt chứng đắc bốn thánh quả và đạt Niết-bàn tối hậu.
Có một đạo lộ khác để thành tựu giác ngộ là từ Tứ thiền, hành giả tiếp tục đi sâu vào Tứ không định. Tuy nhiên, Thế Tôn thường cảnh tỉnh phải xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ để nhập cảnh giới Diệt thọ tưởng định trước khi vào Niết-bàn tối hậu. Tốt nhất là nên dừng lại ở Vô sở hữu xứ, rồi tu tập tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả) để băng đến Diệt thọ tưởng định trước khi vào Niết-bàn tối hậu. (Thích Chơn Thiện, Tăng-già thời Đức Phật, tr.229)
Như vậy, dù Bồ-tát Siddhārtha đã trải qua vô lượng kiếp tu tập Bồ-tát đạo, mang trong mình năng lực và bản nguyện của vị Bồ tát Nhất sinh bổ xứ, nhưng nội dung tu tập và chứng ngộ của ngài thật cụ thể rõ ràng mà hàng đệ tử hậu thế có thể lần theo dấu xưa để thành tựu thánh quả A-la-hán.
Tứ thiền và Tứ không định là những dạng thức thiền Chỉ, nhưng có vai trò rất quan trọng, làm nền tảng cho thiền Quán để phát huy tuệ giác nhằm thành tựu giải thoát tối hậu, chứng đắc Niết-bàn.
Chính thiền Quán với tuệ minh sát có năng lực soi chiếu phá tan si ám về tự ngã, thường hằng để thấu triệt sự thật vô ngã, vô thường của vạn pháp, đồng thời làm sụp đổ những kiết sử căn bản vốn là thành trì của sanh tử luân hồi, nhằm chứng đạt giác ngộ viên mãn, chính là phát kiến vĩ đại của Bồ-tát Siddhārtha.
Có thể xác quyết rằng, nếu không có phát kiến thiền Quán thì Bồ-tát Siddhārtha không thể thành đạo, thành Phật cũng như không có đạo Phật ở thế gian này.
Cho nên, Phật không thành đạo mà chỉ có Bồ-tát Siddhārtha thành đạo. Và thiền định Chỉ - Quán từ ngàn xưa cho đến ngàn sau vẫn là tinh tuý, cốt tuỷ của pháp hành trong Phật giáo có tác dụng chuyển hoá, đưa hành giả từ phàm phu lên thánh vị cho đến toàn giác.
Quảng Tánh
(Thư Viện Hoa Sen)

Tỉnh Thức


“Hỡi Mogharaja, hãy luôn luôn tỉnh thức và nhìn thế giới như rỗng rang, với cái nhìn về tự ngã đã bứng gốc, người đó sẽ vượt qua sự chết. Thần Chết không thể thấy người đã nhìn thế giới này như thế.” 
Phật ngôn
Kinh Sn 5.15 Mogharaja-manava-puccha

Ngoại tức chư duyên,
Nội tâm vô đoan,
Tâm như tường bích,
Khả dĩ nhập đạo.


Bồ Đề Đạt Ma

Dịch: Bên ngoài dứt bặt muôn duyên, bên trong không còn tư lường tăm hơi manh mối gì, tâm y hệt như tường vách, mới có thể vào đạo.

Chàng Tuổi Trẻ Goodman Brown -- (2) Truyện ngắn của Nathaniel Hawthorne (1804-1864)


“Ông bạn à,” Goodman Brown đang đi chậm bỗng chàng dừng lại nói. “tôi đã giữ đúng thỏa thuận sẽ gặp ông tại đây rồi, giờ mục đích của tôi là muốn quay về chỗ của mình.  Tôi ngần ngại không muốn đề cập đến điều ông muốn nói.”
“Ngươi nói thế à?” người đàn ông nói với con rắn, miệng mỉm cười.”Dù sao chúng ta hãy đi tiếp đã, vừa đi vừa nói cho ra lẽ, và nếu tôi không thuyết phục được anh, anh sẽ quay trở lại.  Chúng ta mới đi vào trong rừng có một đoạn ngắn thôi mà.”
“Đi quá xa, quá xa rồi!” Goodman kêu lên, nhưng không ý thức rằng chàng đang bước đi tiếp.  “Cha tôi chưa bao giờ đi vào rừng có việc như thế này, cả ông của tôi trước đây cũng không bao giờ đi như vầy.  Chúng tôi là những người lương thiện, những con chiên ngoan đạo từ thời các vị thánh tử đạo; liệu tôi sẽ trở thành người mang tên Brown đầu tiên và kết...”
“ý anh muốn nói ‘kết bạn với người như vầy, phải không?”người lớn tuổi nhận xét, tìm cách diễn dịch việc mình dừng lại.  “Anh nói phải lắm, Goodman Brown ạ!  Lâu nay tôi quen biết rõ gia dình anh như một người trong nhóm những người theo Thanh giáo;  đấy không phải chuyện nhỏ đâu.  Tôi đã giúp ông của anh, lúc ấy ông là tuần viên (cảnh sát/người giữ trật tự) trong làng, khi ông ấy lấy roi quất người đàn bà theo phái Quaker trên đường làng Salem; và cũng chính tôi đã đem đến cho cha anh bó đuốc làm với thông ba lá thắp từ bếp lửa nhà tôi để đốt cháy một ngôi làng Da Đỏ trong cuộc chiến tranh Vua Philip* dẫn đầu.  Cả hai người, ông và cha anh, đều là bạn tốt của tôi.  Chúng tôi đã cùng nhau đi lại trên lối mòn này nhiều lần, và sau nửa đêm trở về vui vẻ.  Vì họ tôi sẽ vui lòng kết bạn với anh.”

“Nếu những gì ông nói qủa có thật,” Goodman Brown đáp, “tôi lấy làm ngạc nhiên vì cha ông tôi chẳng hề nói cho tôi biết chuyện này; hoặc, thành thực mà nói, tôi sẽ chẳng ngạc nhiên chút nào, vì tôi biết rằng nếu có những lời đồn đãi như thế hẳn ông cha tôi đã bỏ xứ New England này đi lâu rồi.  Chúng tôi là những người biết cầu nguyện, hơn nữa, chúng tôi làm việc đàng hoàng, và không chấp nhận những gì tàn ác như vậy.”

“Tàn ác hay không tàn ác,” người lữ khách với chiếc trượng uốn éo hình con rắn nói, “Tôi quen biết rất nhiều người ở vùng New England này.  Các vị trợ tế của nhiều nhà thờ từng uống rượu hiệp thông với tôi.  Các quan chức trong vùng bầu tôi làm chủ tịch.  Những nhà làm luật cai trị miền thuộc địa theo giáo phái Puritan đều ủng hộ lợi ích của tôi.  Ngay cả Ngài Thống đốc  và tôi –Nhưng thôi đây là chuyện mật của tiểu bang.”

“Sao lại có chuyện như thế?” Goodman Brown trố mắt kinh ngạc nhìn người đồng hành trông thật bình thản của mình.  “ Dù sao đi nữa, tôi chẳng liên hệ gì với ngài Thống đốc và hội đồng làng; họ có cách của họ và họ không có gì để phải nói tới một nhà nông quèn như tôi.  Nhưng nếu tôi tiếp tục đi với ông thế này, làm sao tôi còn dám nhìn vào mắt ông cụ đức hạnh tốt là vị mục sư của chúng tôi ở làng Salem?  Ôi, giọng của cụ ấy sẽ làm tôi run sợ vào ngày Sabbath và ngày học giáo lý.” 
 

(Còn tiếp)
---

Notes:
*King Philip’s War (1675-1676) còn gọi là chiến tranh Narragansett vĩ đại: cuộc chiến giữa thổ dân Mỹ ở New England do tù trưởng Metacom, tức "King Philip,"lãnh đạo, chống lại di dân Anh và đồng minh Da Đỏ của họ, được xem là một trong những cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử Mỹ.  Những người Narragansett là nhóm thổ dân lớn nhất ngụ tại miền nam New England vào thời đó.