Your vision will become clear only when you look into your heart.... Who looks outside, dreams. Who looks inside, awakens. Carl Jung
Thursday, April 30, 2026
Khái Lược Lịch Sử Việt Nam -- Huyền Sử Khởi Nguyên Của Người Việt- Nhà Nước Đầu Tiên Của Người Việt -Thời Kỳ Tàu Cai Trị (Bắc Thuộc)
HUYỀN SỬ Về Khởi Nguyên Của Người Việt:
Tổng quan: Các dấu tích, câu truyện đầu tiên về nguồn gốc người Việt trong đời sống và qua lời dân gian kể, cùng những tập tục được lưu truyền qua nhiều thế hệ cho thấy từ thời tiền sử đã có người sinh sống tại lãnh thổ ngày nay mang tên Việt Nam. Mãi về sau, vào các thế kỷ 13, 14, 15..., vào đời vua Trần, vua Lê, chúng bắt đầu được các nhà nho học gom góp viết thành văn bản lịch sử; sau đó chúng được thêm bớt nhiều chi tiết và chịu ảnh hưởng nước ngoài như Trung hoa, Chiêm Thành....Nói chung, các huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết này, tuy mang tính lịch sử, nhưng nội dung vẫn chứa nhiều nghi vấn, không phải là sự kiện sử được kiểm chứng rõ ràng.
Họ Hồng Bàng - Nước Xích Quỷ - Nước Âu Việt và Lạc Việt:
https://www.youtube.com/shorts/Ml6mce1KKXg
Xích Quỷ (from https://www.youtube.com/@XinChaoVietNam88/shorts)
2879 TCN / thời gian giữa thời tiền sử và Hùng vương.
TK IV -tkIII TCN các nhóm bộ tộc Việt (Bách Việt) gồm Điền Việt, Nam Việt, Hồ Việt phía Tây và chính giữa gần Động đình hồ thuộc Hồ Nam, Trung hoa ngày nay; Đông Việt, Mãn Việt phía Đông; U Việt phía Bắc; Lạc Việt và Chiêm Việt phía Nam....
Xứ "Nam Cương" gồm 10 bộ tộc: 2 bộ tộc người Tày, 3 bộ tộc người Nùng, 2 bộ tộc người Dao, 1 bộ tộc người sán chảy, 1 bộ tộc người sán dìu, 1 bộ tộc người H’Mong.
Kinh Dương Vương, dòng dõi Thần Nông, là con trai Đế Minh là vua phương Nam. Tục truyền KDV đặt ra tục xâm mình. KDV lấy con gái Long vương ở Động đình hồ sanh ra Lạc Long Quân/Sùng Lãm. SL lấy Âu Cơ sanh ra 100 con, tách ra cát cứ vùng biển và vùng núi, làm tiền đề cho nhà nước Âu Lạc, rồi Văn Lang đời các vua Hùng về sau. Kinh Dương Vương là ông nội của vua Hùng thứ nhất, lên ngôi vào đời Phục Hy bên Trung Quốc (khoảng năm 2879 TCN). KDV lấy Long nữ, con gái Long Vương ở Hồ Động Đình, sanh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. LLQ sau lấy Âu Cơ, sanh ra bọc trăm trứng nở ra trăm người con trai, dựng nên nước Âu Lạc, sau này là nước Văn Lang trải qua 18 đời vua Hùng, đóng đô tại Phong Châu (thời nhà Chu bên Tàu thế kỷ thứ 7 TCN)
[Hồ Động Đình, ở Đông Bắc tỉnh Hồ Nam, Trung hoa ngày nay
https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_%C4%90%E1%BB%99ng_%C4%90%C3%ACnh
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_L%C4%A9nh_Nam_th%E1%BB%9Di_Tr%C6%B0ng_V%C6%B0%C6%A1ng-Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng.jpg
]
CÁC DẤU TÍCH VĂN HÓA
Văn hóa Phùng Nguyên - thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng - tồn tại cách đây chừng bốn ngàn năm. Tuy vậy,trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào. Công cụ bằng đá vẫn còn phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối. Vì thế, các nhà sử học đều thống nhất kết luận rằng xã hội thời văn hóa Phùng Nguyên chưa vượt khỏi hình thái công xã nguyên thủy và do đó không thể khẳng định trước đây bốn ngàn năm dân tộc ta đã bước vào thời đại văn minh, đã có nhà nước.
Tiếp sau Văn hóa Phùng Nguyên là các giai đoạn phát triển Văn hóa Đồng Đậu và Gò Mun. Dù số lượng, chất lượng của công cụ bằng đồng có xu hướng ngày càng tăng, nhưng cũng chưa thấy chứng cớ rõ rệt nào về sự phân hóa xã hội - động lực cần thiết cho sự xuất hiện của nhà nước.
Văn hóa Đông Sơn, giai đoạn phát triển đỉnh cao của thời đại đồ đồng và giai đoạn đầu của thời kỳ đồ sắt. Người Việt cổ có tục xâm mình, nhuộm răng đen, ăn trầu, đã biết kỹ thuật đúc đồng và bắt đầu chế tạo công cụ từ quặng sắt. Các nhà sử học ngày càng thống nhất, chung quan điểm khi cho rằng nhà nước đầu tiên trên đất nước ta chỉ có thể xuất hiện vào thời Văn hóa Đông Sơn. Quan điểm này được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Nhiều công trình lịch sử, xã hội học của các tác giả nước ngoài, đã dùng từ “văn minh” (civilization) thay vì “văn hóa” (culture) khi bàn về Văn hóa Đông Sơn của Việt Nam. Do vậy chỉ có thể dùng niên đại của Văn hóa Đông Sơn làm giới hạn đầu cho thời kỳ lập quốc của dân tộc ta, cách đây chừng 25 - 27 thế kỷ. Nó cũng phù hợp với ghi chép của Việt sử lược - bộ sử khuyết danh nhưng có độ chính xác cao, được biên soạn sớm nhất ở nước ta - theo đó “... Đến thời Trang Vương nhà Chu (696 - 681 TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu, phong tục thuần phác, chính sự dùng nối kết nút, truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”.
[https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/5625/ve-thoi-djiem-lap-quoc-viet-nam.html
Đến thời Trần (1226 - 1400), những huyền thoại, sự tích, truyền thuyết - vốn chỉ lưu truyền trong dân gian - lần đầu được sưu tầm, tập hợp, biên khảo và ghi chép lại trong các tài liệu thành văn, mà đáng chú ý nhất là bộ sách Việt điện u linh (của Lý Tế Xuyên) và Lĩnh Nam chích quái (của Trần Thế Pháp). Sang thế kỷ 15, nhà sử học Ngô Sỹ Liên đã - một cách chính thức và có hệ thống - đưa những tư liệu dân gian ấy vào bộ chính sử quy mô lớn do ông và các sử thần triều Lê biên soạn. Trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư này, Ngô Sỹ Liên dành riêng một kỷ, đặt tên là Kỷ Hồng Bàng, để trình bày những truyền thuyết mà ông thu thập được với diễn biến theo thứ tự thời gian: Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân - 18 đời Hùng Vương. Ngô Sỹ Liên cũng là người đầu tiên nêu ra những niên đại tuyệt đối cho thời kỳ lập quốc đó. Theo ông thì Kinh Dương Vương - ông nội của vua Hùng thứ nhất - lên ngôi vào đời Phục Hy bên Trung Quốc (cụ thể là năm 2879 TCN); còn vua Hùng cuối cùng (thứ 18) chấm dứt sự trị vì của mình vào năm Chu Noãn Vương thứ 57 (tức năm 258 TCN).
Thế nhưng, cũng không ít người nghi ngờ một cách hoàn toàn có lý rằng vua chúa không thể có tuổi thọ của thần thánh, vậy mà trong suốt 2621 năm (2879 - 258 = 2621), chỉ có 20 đời vua (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 18 vua Hùng) nối tiếp nhau, trung bình mỗi vua trị vì... 131 năm! Hơn nữa, những điều Ngô Sỹ Liên đưa vào chính sử đều là huyền thoại và truyền thuyết. Huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết mang tính lịch sử, nhưng không phải là thực tế lịch sử. Do đó không chỉ dựa vào truyền thuyết nói chung để ấn định niên đại tuyệt đối cho các sự kiện lịch sử. Ngô Sỹ Liên trình bày về Kỷ Hồng Bàng với nhiều sự việc, nhiều mốc thời gian khá rõ ràng, nhưng lại không đưa ra những chứng cớ xác đáng để chứng minh. Ngay bản thân ông, sau khi nêu xong những vấn đề trên cũng đành viết: “Hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi”!
Về mặt lý luận, nhà nước thường chỉ ra đời khi cơ sở kinh tế đã phát triển, tạo tiền đề cho những chuyển biến xã hội tới mức có sự phân hóa về địa vị và quyền lực. Thực tế cho thấy, hầu hết các nhà nước đầu tiên trên thế giới đều xuất hiện vào giai đoạn phát triển nhất của thời đại đồ đồng hoặc đầu thời đại đồ sắt. Ngày nay, qua các phát hiện khảo cổ, khoa học lịch sử Việt Nam đã thiết lập được tương đối hoàn chỉnh sơ đồ diễn biến văn hóa vật chất của dân tộc ta, từ sơ kỳ thời đại đồ đồng đến sơ kỳ thời đại đồ sắt, với các giai đoạn phát triển cơ bản theo thứ tự: Văn hóa Phùng Nguyên - Văn hóa Đồng Đậu - Văn hóa Gò Mun - Văn hóa Đông Sơn.
Theo kết quả xác định niên đại bằng phương pháp carbon phóng xạ (C14), văn hóa Phùng Nguyên - thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng - tồn tại cách đây chừng bốn ngàn năm. Như vậy, nếu theo quan niệm phổ biến lâu nay, thì thời điểm nhà nước đầu tiên xuất hiện trên đất nước ta (thời điểm lập quốc) tương ứng với niên đại của Văn hóa Phùng Nguyên. Thế nhưng, trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào. Công cụ bằng đá vẫn còn phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối. Các nhà sử học đều thống nhất kết luận rằng xã hội thời văn hóa Phùng Nguyên chưa vượt khỏi hình thái công xã nguyên thủy và do đó không thể khẳng định trước đây bốn ngàn năm dân tộc ta đã bước vào thời đại văn minh, đã có nhà nước!
Tiếp sau Văn hóa Phùng Nguyên là các giai đoạn phát triển Văn hóa Đồng Đậu và Gò Mun. Dù số lượng, chất lượng của công cụ bằng đồng có xu hướng ngày càng tăng, nhưng cũng chưa thấy chứng cớ rõ rệt nào về sự phân hóa xã hội - động lực cần thiết cho sự xuất hiện của nhà nước.
Sang thời đại Văn hóa Đông Sơn, con người đã thành thạo kỹ thuật đúc đồng và bắt đầu biết chế tạo công cụ từ quặng sắt. Họ đã có thể làm ra những đồ dùng tinh xảo, đòi hỏi trình độ mỹ thuật và kỹ thuật cao (như trống đồng, thạp đồng, ấm đồng...). Nền kinh tế khá phát triển. Nhiều tài liệu, hiện vật khảo cổ cho thấy sự phân hóa giai cấp cũng đã rõ rệt. Ví dụ, trong di chỉ mộ táng Việt Khê (Hải Phòng) - được xác định có niên đại tuyệt đối là 2474 ± 100 năm (tính đến năm 2009), thuộc thời Văn hóa Đông Sơn - các nhà khảo cổ phát hiện bốn ngôi mộ chôn quan tài hình thuyền. Ba ngôi trong số đó hoàn toàn không có hiện vật chôn kèm; còn ngôi thứ tư lại chôn theo 107 hiện vật trong đó có 73 hiện vật bằng đồng (có cả những đồ dùng sang trọng như khay, ấm, thạp, thố, bình, âu...). Sự khác biệt giữa các ngôi mộ thể hiện sự phân biệt sâu sắc về địa vị, vai trò, tài sản... của chủ nhân chúng khi còn sống.
Các nhà sử học ngày càng thống nhất, chung quan điểm khi cho rằng nhà nước đầu tiên trên đất nước ta chỉ có thể xuất hiện vào thời Văn hóa Đông Sơn - giai đoạn phát triển đỉnh cao của thời đại đồ đồng và giai đoạn đầu của thời kỳ đồ sắt. Quan điểm này được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Nhiều công trình lịch sử, xã hội học của các tác giả nước ngoài, đã dùng từ “văn minh” (civilization) thay vì “văn hóa” (culture) khi bàn về Văn hóa Đông Sơn của Việt Nam. Do vậy chỉ có thể dùng niên đại của Văn hóa Đông Sơn làm giới hạn đầu cho thời kỳ lập quốc của dân tộc ta, cách đây chừng 25 - 27 thế kỷ. Nó cũng phù hợp với ghi chép của Việt sử lược - bộ sử khuyết danh nhưng có độ chính xác cao, được biên soạn sớm nhất ở nước ta - theo đó “... Đến thời Trang Vương nhà Chu (696 - 681 TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu, phong tục thuần phác, chính sự dùng nối kết nút, truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”. SƠN HÀ congan.com.vn ]
Việt điện u linh -- Lý Tế Xuyên
https://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_%C4%91i%E1%BB%87n_u_linh_t%E1%BA%ADp
Tập truyện về cõi u linh của nước Việt) là một tập hợp các truyền thuyết về các vị thần linh Việt Nam ở vào thời xa xưa, được viết vào thế kỷ 14.
Theo Đại Việt thông sử và Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí (Văn tịch chí) của Phan Huy Chú, thì Lý Tế Xuyên chính là tác giả cuốn Việt điện u linh tập, xuất bản vào khoảng năm 1329.[1]
Tuy nhiên sau khi nghiên cứu, GS. Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, đã có ý phân vân khi chép rằng: "Việt điện u linh tập, nhất thuyết là của Lý Tế Xuyên, người đời Trần; nhất thuyết là của một tác giả đời Lý, sau Lý Tế Xuyên chỉ viết nối thêm vào".[2] Nói "nhất thuyết là của một tác giả đời Lý" là vì giáo sư đã đọc bài Tựa của Chư Cát thị viết năm 1774, trong đó đoạn (bản dịch): "...tập sách này làm ra từ triều Lý, từ trước sách chép của Lê Văn Hưu, để ghi lại các sự việc... Kịp đến triều Trần, chàng họ Lý (chỉ Lý Tế Xuyên) lại làm nối theo phần cuối, sưu tầm rộng khắp, góp thành tập sách này...(trích trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tr. 1100).
Lý Tế Xuyên, không rõ tiểu sử, chỉ biết ông làm quan (một trong những chức vụ của ông là trông coi việc tế tự) dưới triều Trần Hiến Tông (ở ngôi: 1329-1341, đặt niên hiệu là Khai Hựu).[3]
Việt điện u linh tập mà nhiều người cho rằng ông làm ra, gồm 27 thiên, chia làm 3 mục (Nhân quân, Nhân thần, Hạo khí) kể về công tích 27 vị thần [4] được thờ trong các đền miếu thời Lý -Trần. Sau, có nhiều người ở đời Hậu Lê ra công tục biên, thành ra sách có đến 4 quyển, gồm 41 truyện.[5]
Trong quá trình biên soạn, tác giả có sử dụng và viết lại một số truyện vốn đã được ghi chép trong các sách Báo cực truyện (Tập truyện về lẽ cùng cực của báo ứng), Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, Giao Chỉ ký, Giao Châu ký... Ngoài ra ông còn sử dụng những tài liệu dân gian, những bản thần tích.
Về sau, nhiều nho sĩ ở các đời còn tiếp tục bổ sung; hoặc sửa chữa, thêm bớt cho Việt điện u linh tập. Lược kể một số tên tuổi quan trọng:
• Nguyễn Văn Chất (1422-?), là người ở huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên. Ông đỗ tiến sĩ năm 1448 dưới triều vua Lê Nhân Tông, từng làm đến Tư nghiệp Quốc tử giám và đi sứ sang Trung Quốc. Chính ông là người đã soạn ra phần Tục biên (hay Tục bổ), gồm 3 truyện cho sách (xem phần mục lục).
• Cao Huy Diệu (? - ?), là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm (nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông là nội tổ của danh sĩ Cao Bá Quát. Năm 1707, ông đỗ cử nhân, rồi đỗ tiến sĩ năm 1715 đời vua Lê Dụ Tông. Buổi đầu được bổ làm tri huyện Quốc Oai, sau lần lượt trải chức Giám tu, Thị lang bộ Lại, Đốc học Hà Tiên, Thượng thư bộ Hộ (có sách chép bộ Lại). Khi còn ở chức Giám tu, ông đã ra công viết bổ chú và phần tiếm bình cho sách. Tham gia sửa chữa với ông, còn có người cùng thời là Lê Hữu Hỷ (không rõ năm sinh năm mất), là người làng Liêu Xá, tỉnh Hưng Yên. Ông thi đỗ tiến sĩ năm 1700, làm quan đến Giám sát ngự sử đốc đồng Sơn Tây.
• Kim Miện Muội (? - ?), không rõ lai lịch, chỉ biết năm 1771, ông đã phụng lục và kiểm xét cho Việt điện u linh tập. Bản này hiện còn 2 quyển chép tay mang ký hiệu A. 2879 và B. 1919 thuộc trường Bác Cổ Viễn Đông.
• Gia Cát thị (? - ?), là một danh sĩ ở Hồng Đô, tỉnh Hải Dương, đã từng làm Chủ bạ bộ Lễ đời vua Lê Hiển Tông. Năm 1774, sau khi san định (thêm vào non 20 truyện, bớt đi hoặc viết hẳn lại một số truyện) Việt điện u linh tập, ông đặt lại nhan đề là Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập (Sửa sang, mô phỏng và bình giải mới tập truyện về cõi u linh của nước Việt). Và trong bài Tựa, ông đã cho rằng Lý Tế Xuyên chỉ là người "làm nối theo phần cuối" sách Việt điện u linh mà thôi.[1][6]
Ngoài ra, còn có Lê Tự Chi, Tam Thanh quán đạo nhân (không rõ họ tên, lai lịch), Nguyễn Hầu, Nguyễn Đình Giản, v.v... cũng đã đóng góp ít nhiều cho cuốn sách.
Lĩnh Nam chích quái - Trần Thế Pháp
https://phatphapungdung.com/sach-noi/linh-nam-chich-quai-179406.html
https://phatphapungdung.com/sach-noi/linh-nam-chich-quai-179406.html
sách nói LNCQ
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam_ch%C3%ADch_qu%C3%A1i
Lĩnh Nam chích quái (chữ Hán: 嶺南摭怪; có nghĩa là "Chọn lựa những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam"), là một tập hợp các truyền thuyết và cổ tích dân gian Việt Nam được biên soạn vào khoảng cuối đời nhà Trần.
Tác giả Trần Thế Pháp (? - ?), một danh sĩ đời nhà Trần, là tác giả bộ sách Lĩnh Nam chích quái. Thông tin này đã được ghi trong các sách: Vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm,[1] Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú.
Tiến sĩ Vũ Quỳnh, trong bài "Tựa" của ông, cho biết ông đã tìm được sách Lĩnh Nam chích quái và tiến hành nhuận chính[2] vào năm Hồng Đức thứ 23 (Nhâm Tý, 1492). Tuy nhiên, trong bài Tựa không có câu nào nói về tác giả.[3]
Cùng thời gian đó, tiến sĩ Kiều Phú (1447-?)[4] cũng nhuận chính cho sách, có điều là mức độ sửa chữa theo quan điểm của ông nhiều hơn, so với bản của Vũ Quỳnh. Việc làm này đã được ông nói rõ trong bài Hậu tự đề năm Hồng Đức thứ 24 (Quý Sửu, 1493). Tuy nhiên, trong bài cũng không có câu nào nói về tác giả.[5]
Có tài liệu [6] nói Vũ Quỳnh và Kiều Phú cùng hợp tác để làm việc nhuận chính, nhưng xem hai bài Tựa của hai người thì không thấy nói gì đến sự cộng tác đó.
Sau đó (có lẽ khoảng năm 1679), một người khác là Nguyễn Nam Kim đã làm thêm phần Tục biên gồm 4 truyện.
Năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), Vũ Đình Quyền phụng chỉ soạn thêm 2 truyện.
Năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757), Vũ Khâm Lân cũng có tham gia soạn thêm, vì ở truyện Trành quỷ hiển linh truyện có chỉ rõ là do Vũ Khâm Lân ghi lại.
Đến đời nhà Mạc, có một nho sinh tên là Đoàn Vĩnh Phúc (từng làm việc ở Cục tú lâm, thuộc Viện hàn lâm) cũng tham gia bổ sung cho bộ sách. Đề cập đến việc làm này, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí viết: ...Hai quyển trước là sách cổ truyền, một quyển sau là do người họ Đoàn thời Ngụy Mạc, lấy ở U linh tập mà theo ý mình cắn xén để phụ vào sau.[7]
Văn bản
Tóm tắt đặc điểm bốn bản Lĩnh Nam chích quái hiện có ở Thư viện Khoa học Xã hội (Hà Nội):
• Bản A. 33: Là bản chính đã dùng để phiên dịch sách Lĩnh Nam chích quái xuất bản năm 1960.[8] Bản này chép lại từ một bản cũ đề năm Chính Hòa thứ 18 (1697), có 2 quyển, gồm 22 truyện. Ghi các tên người: Trần Thế Pháp (biên tập), Vũ Quỳnh (hiệu đính), Kiều Phú (soạn dịch).
• Bản A. 1200: Theo mục lục có 45 truyện, nhưng thiếu mất 10 truyện (từ truyện Lý Phục Man [truyện 35] đến truyện Huyền Quang [truyện 45]).
• Bản A. 1300: Mất hẳn phần đầu sách, chỉ còn từ nửa đầu truyện Kim Quy (truyện 13). Bản này có mấy đặc điểm:
- Sách có 3 quyển, chứ không phải 2 quyển như các bản khác. Trong sách có bài Hậu tự của Kiều Phú đề năm Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493).
- Sau Mục lục, có dòng chỉ rõ phần Tục bổ (4 truyện) là của Nguyễn Nam Kim.
- Ở phần Tăng bổ có 2 truyện ghi tên tác giả là Vũ Đình Quyền phụng chỉ vua Lê Hiển Tông làm năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749).
- Ở phần Tục bổ, nơi truyện Trành quỷ hiển linh truyện có chỉ rõ là do Vũ Khâm Lân ghi lại vào năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757).
• Bản A. 2107: Bản này ghi tên sách là Lĩnh Nam chích quái truyện, có ghi rõ là do Kiều Phú làm, nhưng trong sách không có bài Tựa của ông mà chỉ có bài Tựa của Kiều Phú. Một số tên truyện trong tập này có sửa đổi (thêm một hai chữ ở đằng trước) như: Chưng bính truyện, đổi là Lang Liêu chưng bính truyện, Tân lang truyện đổi là Cao Thị Tân lang truyện, Tây qua truyện đổi là Mai thị Tây qua truyện...
Ngoài ra, PGS. TS Nguyễn Đăng Na còn cho biết ở Viện Sử học (Việt Nam) còn có bản Lĩnh Nam chích quái mang ký hiệu HV 486.[9]
Vì lẽ ấy, theo nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp, Lĩnh Nam chích quái không hẳn là sách của một hai tác giả nào, mà là một bộ sưu tập truyền thuyết, truyện cổ tích, do nhiều người nối tiếp nhau sưu tập, cải biên. Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú chỉ là những người đầu tiên làm việc đó. Trong số này, Trần Thế Pháp chỉ là lời "tương truyền", văn bản không có gì chứng minh.[10]
Nội dung
Trong Lĩnh Nam chích quái (bản cổ, gồm 22 truyện) có những truyện thần thoại thời thái cổ như Truyện họ Hồng Bàng, Truyện Tản Viên, Truyện Đổng Thiên Vương...; có những truyện là sự tích thời Bắc thuộc như Truyện Việt tỉnh (Giếng Việt), Truyện Nam Chiếu...; có những truyện là thần tích thời Lý-Trần như Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Hà Ô Lôi... Lại có truyện hoặc gắn với nguồn gốc dân tộc Việt như Truyện họ Hồng Bàng, Truyện Ngư tinh, Truyện Hồ tinh, Truyện Mộc tinh...; hoặc có liên quan với những phong tục tập quán lâu đời của dân tộc Việt như Truyện bánh chưng, Truyện trầu cau...; hoặc có liên quan với những di tích văn hóa cổ đại của dân tộc Việt như Truyện rùa vàng, Truyện hai thần Long Nhãn và Như Nguyệt...; hoặc có liên quan với những nhân vật lịch sử như Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải,...
Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, Lĩnh Nam chích quái chủ yếu có nguồn gốc ở Việt Nam, nhưng do ảnh hưởng của sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, nên có một số truyện có nguồn gốc hoặc chịu ảnh hưởng từ nước ngoài. Như Truyện Giếng Việt chịu ảnh hưởng của truyện Trung Quốc, Truyện Dạ Xoa Vương chịu ảnh hưởng của văn hóa Chiêm Thành... Mặc dù vậy, tác phẩm vẫn có một ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng ý thức quốc gia dân tộc Việt. Đặc biệt, Lĩnh Nam chích quái có nhiều truyện mang những tư tưởng, tình cảm rất phóng khoáng. Quả đây là tấm gương phản chiếu đời sống tinh thần ở một thời kỳ mà mối quan hệ đạo lý giữa người với người còn cởi mở, chưa bị những khuôn sáo, tín điều gò bó quá chặt chẽ. Lại có những truyện chịu sự hạn chế của ý thức hệ phong kiến, nhất là các truyện do các soạn giả đời sau thêm vào. Song nhìn chung, toàn bộ tập truyện vẫn thấm nhuần một tinh thần nhân đạo chủ nghĩa của văn học dân gian. Có thể ít nhiều thấy được ở đó thái độ yêu ghét của nhân dân: yêu chính nghĩa, ghét phi nghĩa, yêu điều thiện, ghét điều ác, đề cao những mối quan hệ tốt đẹp thủy chung giữa người và người.[11]
Mục lục
Dưới đây là mục lục tác phẩm Lĩnh Nam chích quái (bản HV 486 của Viện Sử học Việt Nam, gồm 23 truyện).
• Quyển 1:
1. Hồng Bàng Thị truyện (鴻龐氏傳), chuyện về họ Hồng Bàng thời cổ.
2. Ngư tinh truyện (魚精傳), chuyện về Ngư tinh do Lạc Long Quân tiêu diệt.
3. Hồ tinh truyện (狐精傳), chuyện về một hồ ly tinh do Lạc Long Quân tiêu diệt.
4. Mộc tinh truyện (木精傳), chuyện một loại yêu quái có hình dạng và đặc tính cây từ thời cổ bị tiêu diệt thời Đinh Tiên Hoàng.
5. Đổng Thiên vương truyện (董天王傳), câu chuyện về Phù Đổng Thiên Vương.
6. Tân Lang truyện (檳榔傳), còn gọi là Sự tích trầu cau, giải thích ý nghĩa người Việt dùng trầu cau làm sính lễ khi cưới hỏi.
7. Nhất dạ trạch truyện (一夜澤傳), câu chuyện về đầm Nhất Dạ giữa Chử Đồng Tử và Tiên Dung mị nương.
8. Chưng bính truyện (蒸餅傳), là truyền thuyết về Lang Liêu làm ra Bánh chưng, mô phỏng tâm kế muốn đoạt ngôi trong xã hội Hùng vương thần thoại.
9. Tây qua truyện (西瓜傳), chuyện về sự tích quả Dưa hấu.
10. Bạch trĩ truyện (白雉傳), nói về sự kiện Việt Thường Thị cống chim trĩ trắng thời Chu Công.
• Quyển 2:
1. Lý Ông Trọng truyện (李翁仲傳), câu chuyện về Lý Ông Trọng.
2. Việt tỉnh truyện (越井傳), câu chuyện cái giếng Việt vào khoảng thời Triệu Đà, hình thành cố sự về Ân vương thành (殷王城).
3. Kim Quy truyện (金龜傳), câu chuyện về Rùa thần Kim Quy.
4. Nhị Trưng phu nhân truyện (二徵夫人傳), câu chuyện thần thoại về Hai Bà Trưng theo nhãn quan thời Lý Trần.
5. Man Nương truyện (蠻娘傳), câu chuyện về Phật Mẫu Man Nương.
6. Nam Chiếu truyện (南詔傳), vắn tắt về nước Nam Chiếu.
7. Tô Lịch giang truyện (蘇瀝江傳), chuyện về Sông Tô Lịch.
8. Tản Viên sơn truyện (傘圓山傳), câu chuyện về thần núi Tản Viên.
9. Long Nhãn Như Nguyệt nhị thần truyện (龍眼如月二神傳), câu chuyện về hai vị thần của hai sông Long Nhãn và Như Nguyệt.
10. Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không truyện (徐道行、阮明空傳), câu chuyện đầy sự thần bí về Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không.
11. Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải truyện (楊空路、阮覺海傳), câu chuyện về Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải.
12. Hà Ô Lôi truyện (何烏雷傳), câu chuyện đầy tính kỳ bí về Hà Ô Lôi.
13. Dạ Xoa vương truyện (夜叉王傳), giảng giải về vương quốc Hồ Tôn Tinh trong truyền thuyết. ]
[Thời kỳ hình thành nhà nước đầu tiên từ các bộ tộc hay bộ lạc -- Âu Việt, Lạc Việt
https://www.youtube.com/shorts/Ml6mce1KKXg
Xích Quỷ (from https://www.youtube.com/@XinChaoVietNam88/shorts)
2879 TCN / thời gian giữa thời tiền sử và Hùng vương
Kinh Dương vương con trai Đế Minh vua phương Nam. Vua KDV đặt ra tục xâm mình.
Bách Việt: (Điền Việt, Nam Việt, Hồ Việt phía Tây và chính giữa gần Động đình hồ thuộc Hồ Nam; Đông Việt, Mãn Việt phía Đông; U Việt phía Bắc; Lạc Việt và Chiêm Việt phía Nam...).
KDV lấy con gái Long vương ở Động đình hồ sanh ra Lạc Long Quân/Sùng Lãm. SL lấy Âu Cơ sanh ra 100 con, tách ra cát cứ vùng biển và vùng núi, làm tiền đề cho nước Âu Lạc, rồi Văn Lang về sau.]
Nhà Nước Đầu Tiên Của Người Việt: Nước Văn Lang Với Các Đời Vua Hùng
Vua Hùng thứ nhất là Hùng Hiền Vương tức Lạc Long Quân. Con cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ là . Dưới vua có các lạc tướng, lạc hầu. Nước Văn lang (tk thứ 7 TCN): giáp nước Hồ tôn/Hồ nam; VL gồm 15 bộ lạc; kinh đô tại bộ Văn Lang. Các vua Hùng kéo dài 18 đời (kéo dài 2622 năm; 2879-257/tk thứ ba TCN). Các vua Hùng: Hùng Hiền Vương tức Lạc Long Quân.Hùng Lân Vương con cả của Lạc Long Quân và Âu Cơ; tiếp theo là Hùng Diệp; Hùng Nghi; Hùng Huy (sự tích Thánh Gióng; sự tích Bánh dày bánh chưng),Hùng Chiêu, Hùng Vỹ, Hùng Định,Hùng Hy, Hùng Chinh, Hùng Vũ;Hùng Việt, Hùng Anh;Hùng Chiêu;Hùng Tạo;Hùng Nghị (Quả dưa đỏ); Hùng Duệ (vua Hùng 18) có hai con gái là Ngọc Hoa và Tiên Dung (sự tích Chữ Đồng tử và Tiên Dung; công chúa Ngọc Hoa và sự tích Thủy tinh vs Sơn tinh). Đây là thời kỳ đồ đồng và đồ sắt.
• Nhà nước đầu tiên: Theo truyền thuyết và thư tịch cũ, nhà nước Văn Lang ra đời khoảng tk 7 TCN, đứng đầu là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu (Phú Thọ ngày nay).
Văn lang tk7 TCN: giáp nước Hồ tôn/Hồ nam; VL gồm 15 bộ lạc; kinh đô tại bộ Văn Lang, các vua Hùng kéo dài 18 đời (kéo dài 2622 năm; 2879-257 TCN).
• Văn hóa Đông Sơn (Bắc Trung phần): qua các giai đoạn khảo cổ từ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun đến văn hóa Đông Sơn rực rỡ với trống đồng là biểu tượng.
• Nền kinh tế: Cư dân chủ yếu trồng lúa nước, đúc đồng, và khai thác lâm thổ sản.
• Xã hội: Hình thành liên minh bộ lạc chặt chẽ, có tổ chức xã hội sơ khai.
Thế kỷ thứ ba TCN, cuối đời Hùng Vương thứ 18, An Trị Vương (Thục Chế) có con là Thục Phán. Thục Phán bị vua Hùng thứ 18 từ chối không gả Ngọc Hoa, nên Thục Phán đánh Văn Lang (263TCN-257TCN?): Thục Phán thắng vua Hùng, xưng An Dương vương. Thục Phán chiếm Văn Lang, lên ngôi xưng là An Dương Vương. Âu Việt và Lạc Việt được sát nhập thành Âu Lạc. Ông cho xây thành Cổ Loa, và truyền thuyết nỏ thần về việc xây thành là dấu chứng của sự phát triển kỹ thuật cao về quân sự.
https://www.youtube.com/watch?v=mHFfuffnuG0
Triệu Đà: Nghi án lịch sử ngàn năm và cuộc chiến bản sắc dai dẳng nhất
Bên Tàu, nhà Tần sụp đổ với cái chết của Tần Thủy Hoàng. Ở phương Nam của Tàu, tướng Nhâm Ngao trước khi qua đời trao quyền cho Triệu Đà, tướng lưu vong của nhà Tần ở Nam Hải. TĐ muốn xưng vương một cõi, nhắm vào nước Âu Lạc mới hình thành ở phương Nam của An Dương Vương Thục Phán. TĐ bèn dùng mưu đánh chiếm thành Cổ Loa (truyền thuyết về nỏ thần làm từ móng rùa thần Kim Quy). TĐ xưng đế hiệu là Triệu Vũ Vương, sát nhập nước Nam Việt của ông với nước Âu lạc của ADV, lập ra nước Nam Phương Âu Việt tức Nam Việt, đóng kinh đô ở Phiên Ngung, 207 TCN-202 TCN?.
Triều đại các vua Hùng kết thúc năm 257-208 trước CN (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư; Lĩnh Nam Chích Quái, Tứ Bất tử : Thánh Gióng/Phù Đổng thiên vương, Nguyễn Tuấn/Sơn tinh; Chữ Đồng tử/Chữ Đạo tổ; Tiên Dung/Mẫu Thượng thiên/Mẫu Liễu Hạnh), và Sử ký Tư Mã thiên).
Năm 208 Triệu Đà đánh Âu Lạc của Thục Phán. Triệu Đà lên ngôi xưng là Triệu Vũ Đế, sát nhập nước mình với nước Âu lạc đặt tên là Nam Phương Âu Việt hay Nam Việt, gồm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân đặt kinh đô ở Phiên Ngung, trị vì từ 207 TCN-202 TCN. Sau đó nhà Hán tấn công chiếm Nam Việt năm 111 TCN. Từ đó các triều đình phương Bắc của Tàu lần lượt thay nhau đô hộ người Việt: thời kỳ Bắc thuộc.
THỜI KỲ LỆ THUỘC TÀU (BẮC THUỘC)
https://www.youtube.com/watch?v=BY4lJvG8kJo
https://www.youtube.com/watch?v=zo__BPjcjPg
Tóm tắt nhanh: 1000 năm Bắc thuộc
https://www.youtube.com/watch?v=lOeq8pMtMsc
1000 năm Bắc Thuộc & Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta | Tóm tắt lịch sử Việt Nam. Các cuộc khởi nghĩa chống quân của triều đình phương Bắc thời Bắc thuộc.
Các giai đoạn Bắc thuộc chính:
• Bắc thuộc lần I (179 hoặc 111 TCN - 40): Bắt đầu từ khi Triệu Đà thôn tính Âu Lạc, sau đó nhà Hán đô hộ.
• Bắc thuộc lần II (43 - 541): Nhà Đông Hán, Đông Ngô, Tấn, Tề, Lương cai trị sau khi đè bẹp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
• Bắc thuộc lần III (602 - 938): Nhà Tùy, nhà Đường đô hộ cho đến khi Ngô Quyền giành độc lập.
Đặc điểm nổi bật:
• Chính sách đô hộ: Phương Bắc thiết lập bộ máy cai trị, chia quận huyện, bắt nhân dân cống nạp sản vật quý, và thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa sâu sắc.
• Đấu tranh giành độc lập: Dù bị kìm kẹp, các cuộc khởi nghĩa của người Việt nổ ra liên tục: Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Triệu (248), Lý Bí (542), Mai Thúc Loan (713), Khúc Thừa Dụ (905), Ngô Quyền (938)
• Giữ gìn bản sắc: Người Việt vẫn giữ được ngôn ngữ, phong tục tập quán (như ăn trầu, nhuộm răng) và không bị đồng hóa hoàn toàn.
Triệu Đà (Triệu Vũ Vương) chống đạo quân do Chủ Soái Đồ Thư của Tần Thủy Hoàng Triều Hán cai trị. Triệu Vũ vương qua đời, Triệu Văn vương lên ngôi, vẫn lệ thuộc tức là một phiên trấn thuộc triều đình phương Bắc năm 135-111TCN. Con TĐ kế vị sau đó là: Triệu Minh vương. Triêu Ai vương tên là Hưng. Lữ Gia, tể tướng của nhà Triệu. Vì Thái Hậu gốc nhà Hán, vua TAV còn nhỏ, Lữ Gia bèn làm loạn, phò vua Triệu Minh vương, chống lại thế lực của nhà Hán. Thời ấy có các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Sau khi nhà Hán thắng nhà Triệu, nhà Hán chia Nam Việt thành chín quận, đặt các quan Thái thú cai trị các quận. Lê văn Hưu sử gia nói: triều đại nhà Triệu, người Hoa nắm các vị trí chủ chốt trong triều đình Nam Việt. Như vậy Triệu Đà không thể là vua người Việt, mà là người Hán.
Bắc thuộc (1000 năm): 110 TCN Nhà Hán đổi tên nước Nam Việt thành Giao châu chia thành chín quận:Nam hải, Hợp phố, Cửu chân, Thương ngô, Nhật nam, Châu nhai, Đạm nhĩ, Lĩnh Nam, Uất Lâm.
Các Thái thú: Ít người giúp dân; phần lớn tham lam, tàn bạo. Do đó có nhiều cuộc khởi nghĩa chống sự đô hộ của Tàu.
Thái thú Tích Quang (Giao Chỉ) và Nhâm Diên (Cửu Chân). Năm 30 Tô Định là Thái thú. Thi Sách chồng của Trưng Trắc (Mê Linh), bà có em là Trưng Nhị. Tháng hai năm 40 TT và TN phát động cuộc khởi nghĩa. Hai bà thắng Tô Định, lên ngôi tức Trưng Vương. Nhưng năm 42-43, hai bà bị Mã Viện đánh bại, hai bà nhảy xuống sông Hát tự tử. Năm 44 MV về nước.
https://www.facebook.com/100063628642963/videos/671238403776628?__so__=permalink
Năm 187 Sỹ Nhiếp là Thái thú. Năm 201 Lý Tiến thứ sử Giao châu, Lý Cầm túc vệ của triều đình. Năm 226 Sỹ Nhiếp mất.
Thời kỳ các vua Tàu đời Đông Ngô (Bà Triệu/Lệ Hải Bà vương và anh của Bà khởi nghĩa; Tôn Quyền diệt quân khởi nghĩa), Tấn, Tống, Tề, Lương (Lý Bí khởi nghĩa; Lý Nam đế, Nam Việt vương, Vạn Xuân; Triệu Việt vương, Lý Phật Tử/Hậu Lý Nam đế), Tùy, Đường chia nước ta thành 12 châu để đô hộ. Mai Thúc Loan/Mai Hắc đế năm 722 khởi nghĩa giành quyền tự trị. Phùng Hưng, Phùng An là con tiếp nối.
Năm 905-907 Khúc Thừa Dụ, con là Khúc Hạo thời nhà Hậu Lương đô hộ. Khúc Thừa Mỹ, con KH, năm 917, thua Nam Hán. Kiều Công Tiễn sang cầu cứu Tàu. KCT và Hoằng Tháo bị Ngô Quyền đánh bại dùng cọc đóng ngầm dưới thủy triều trên Bạch Đằng. Cuối năm 938- 939, chiến thắng quan trọng lập quốc độc lập tự chủ, NQ lên làm vua đóng đô ở Cổ Loa.. Sau khi NQ mất dòng họ Ngô cai trị thêm ít năm rồi tiếp theo sau triều Ngô là thời kỳ loạn lạc kéo dài gọi là Thập nhị xứ quân.