Thursday, June 13, 2024

Cảm Hứng Từ Sư Thích MinhTuệ

https://vanviet.info/nghe-thuat/cam-hung-tu-thch-minh-tue-1/ https://vanviet.info/tho/giai-dieu-thot-phm/ Giai Điệu Thoát Phàm

Saturday, June 8, 2024

ĐỂ CÓ BÌNH AN VÀ HẠNH PHÚC

ĐỂ CÓ BÌNH AN VÀ HẠNH PHÚC Thiện Quang lược dịch Làm sao có được hòa bình và hạnh phúc trong thế giới đầy biến động và nghi kỵ như hiện nay? Sau đây là chia sẻ của Đức Dalai Lama, người được trao tặng giải Nobel Hòa bình năm 1989, một vị Thầy được nhiều người trên thế giới yêu quý. Buổi sáng, khi thức dậy, tôi bắt đầu suy ngẫm về con người và những cảm nhận chung của chúng ta khi bắt đầu sự sống này trong tình yêu thương vô vàn của người mẹ; đây là điểm chính khiến tôi cảm nhận được sự đồng nhất của tất cả mọi người. Nếu chúng ta luôn ấp ủ, nuôi dưỡng trong tâm cảm giác được yêu thương vô điều kiện từ mẹ mình, và mong muốn đem tình thương đó để chia sẻ với mọi người thì chúng ta sẽ không có lý do gì để cãi nhau với bất kỳ ai. Tuy nhiên, thay vì nghĩ về những điểm chung, chúng ta lại có xu hướng tập trung vào sự khác biệt giữa mình và mọi người. Bất cứ nơi nào tôi đến, tôi chỉ nghĩ mình là một con người bình thường ở đó và mỉm cười với mọi người xung quanh. Tôi không nghĩ mình là Dalai Lama hay có gì khác biệt cả. Bất cứ khi nào gặp một người mới quen, tôi cảm thấy họ cũng giống như tôi. Chúng tôi có thể mang tên họ khác nhau, màu da hay mái tóc cũng khác, nhưng những điều đó chỉ là thứ yếu. Tất cả đều là con người, đều là anh, chị, em của tôi. Khi còn rất nhỏ, tôi sống ở vùng Đông bắc Tây Tạng và chơi đùa với những đứa trẻ ở vùng lân cận, tôi chỉ nghĩ rằng họ cũng giống như tôi. Sau đó, tôi mới biết rằng nhiều đứa trẻ đến từ các gia đình Hồi giáo và gia đình tôi là Phật tử. Nhưng điều đó không thể chia rẽ được chúng tôi. Chúng ta phải nhớ một điều là tất cả chúng ta đều là con người. Đôi khi quên đi những giá trị cơ bản nhất, như sự rộng lượng và lòng từ bi, khiến chúng ta bị rơi vào định kiến hoặc sự phân biệt đối xử tiêu cực. Bất kể tôn giáo, văn hóa hay sắc tộc của chúng ta là gì, thì ở cấp độ căn bản nhất, chúng ta đều là những con người giống như nhau. Phật giáo là một truyền thống tâm linh, chú trọng vào thực hành và mối liên hệ giữa bản thân và người khác. Nếu bạn phát triển một cái nhìn tích cực hơn theo cách này, bạn sẽ thấy bình an hơn đối với chính mình, và mối quan hệ của bạn với những người khác sẽ trở nên tự nhiên và tốt đẹp hơn. Nếu so sánh bản thân tôi với người tiền nhiệm của mình, Đức Dalai Lama thứ 13, thì tôi có thể kết nối với người khác dễ dàng hơn. Có lẽ điều này liên quan đến trải nghiệm của riêng mỗi người. Một điều quan trọng nữa là bạn nên trân trọng những sự tử tế và tình yêu thương mà mọi người dành cho bạn. Gần như tất cả các vấn đề đều xuất phát từ sự thiếu quan tâm đến người khác. Thực ra, tình yêu thương và sự quan tâm căn bản không liên quan đến tôn giáo, đó là những phẩm chất tự nhiên của con người. Một số phương pháp thực hành của Phật giáo có thể giúp chúng ta nuôi dưỡng và phát triển cảm giác yêu thương trực quan của chính mình. Nếu chỉ để tình yêu thương ở trạng thái tự nhiên, thì sự tử tế của chúng ta đối với người khác sẽ bị lệ thuộc vào cách mà họ đối xử với chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta có thể rèn luyện, trau dồi và mở rộng nó đến cho những người mà chúng ta không kết nối trực tiếp. Đối với một người Phật tử, thì câu nói “nguyện cho tất cả chúng sinh đều được an lành” thực sự có sức ảnh hưởng rất mạnh mẽ. Bởi vì có trí tuệ, nên con người chúng ta có một lợi thế, đó là có thể hiểu được sức mạnh và giá trị của sự kết nối cũng như sự tử tế là gì. Điều quan trọng là cách chúng ta kết nối với nhau trong tình đồng loại. Tất cả chúng ta đều muốn sống trong một thế giới hòa bình hơn, nhưng nếu chúng ta không kết nối với nhau thì sẽ không có cơ sở cho hòa bình tồn tại. Khi chúng ta quan tâm đến người khác thì ý thức về hòa bình của bạn sẽ càng được nuôi dưỡng. Rõ ràng là ở đâu có ít tình thương và sự tử tế thì ở đó sẽ xuất hiện nhiều vấn đề hơn. Đó là lý do tại sao thế giới này cần nhiều tình yêu thương hơn nữa. Chỉ có giáo dục mới có thể tạo nên sự khác biệt và khiến cho chúng ta mở rộng tâm ra. Nếu không thì vị trí của một người càng cao, họ càng trở nên hẹp hòi và ích kỷ. Một trong những đặc điểm của giáo dục là có thể giúp mọi người có được góc nhìn rộng mở hơn. Đối với thế hệ trẻ đang được đào tạo để trở thành những nhà lãnh đạo trong tương lai, các bạn nên ý thức rõ ràng rằng lòng từ bi có vai trò rất quan trọng đối với việc kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn. Chúng ta đều mong muốn hạnh phúc, đây là điểm chung của tất cả mọi người. Tuy vậy, nhiều hệ tư tưởng chính trị lại nhấn mạnh và quá xem trọng sự khác biệt giữa “chúng ta” và “họ”. Như vậy là trái với bản chất và tình cảm của mỗi cá nhân. Đến Ấn Độ với tâm thế của một người đã từng đi đây đó khắp thế giới, tôi hiểu rằng con người chúng ta, dù là ai hay ở bất kỳ nơi đâu, cũng đều giống nhau, đều có hạnh phúc và khổ đau như nhau. Nhận ra được điều này khiến tôi cảm thấy hạnh phúc và bình an. Bởi khi ta thấy người khác cũng giống như mình, thì tình yêu thương và lòng trắc ẩn đối với họ sẽ đến một cách dễ dàng và tự nhiên. Ngược lại, nếu chỉ chăm chăm vào sự khác biệt về tôn giáo hoặc chính trị, thì chúng ta chỉ làm tăng thêm cảm giác xa lánh, chia rẽ và bực bội trong tâm mình. Chúng ta phải cùng nhau kiến tạo một thế giới hòa bình và tốt đẹp hơn. Hãy tìm cách lan tỏa và chỉ cho người khác thấy rằng chỉ tập trung vào bản thân là một góc nhìn rất hạn hẹp, chỉ khi quan tâm đến mọi người thì tâm mới có thể trở nên thênh thang và rộng lớn hơn. Ngay cả từ góc độ lịch sử, hầu hết các vấn đề trên thế giới đều bắt nguồn từ sự ích kỷ. Vì vậy, quan tâm đến người khác là chìa khóa để giải quyết vấn đề này. Hãy trở thành một người hạnh phúc để xây dựng một thế giới bình an. Tất cả tám tỷ người chúng ta phải sống và giúp đỡ lẫn nhau nhiều nhất có thể. Vì vậy, hãy tu tập và rèn luyện để có hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ, và hơn hết, hãy nghĩ về người khác như thể họ là anh, chị, em của chính mình.

Saturday, June 1, 2024

Hạnh Ðầu-đà (Khổ Hạnh) (Dhutanga-niddesa)

Trích "Thanh Tịnh Ðạo - Visudhi Magga", Phần I, Chương II.. Thanh Tịnh Ðạo là một bộ sách tu học dựa trên giáo lý nguyên thủy, do Luận sư Buddhaghosa (Phật Âm) trước tác vào thế kỷ 5, TL -oOo- Hạnh Ðầu-đà (Khổ Hạnh) (Dhutanga-niddesa) 1. Khi một thiền giả theo đuổi con đường giới, vị ấy nên khởi sự thực hành khổ hạnh để kiện toàn các đức đặc biệt ít muốn, biết đủ v.v... nhờ đó giới, như đã mô tả, được thanh tịnh. Vì khi Giới của vị ấy đã được thanh lọc khỏi các cấu uế bằng những thứ nước thiểu dục, tri túc, viễn ly, độc cư, ở những trú xứ vắng, tinh cần, ít nhu cầu, thì giới sẽ trở nên hoàn toàn thanh tịnh, vị ấy sẽ thành tựu, tất cả những ước nguyện của mình. Và khi toàn thể con người đã được thanh lọc bằng công đức giới và nguyện vào đã an trú trong ba thánh tài đầu tiên, vị ấy bây giờ có thể xứng đáng đạt đến gia tài thứ tư gọi là "sự hân hoan trong tu tập" (Tăng chi ii, 27). Bởi vậy, chúng ta sẽ khởi sự giải thích các khổ hạnh. Mười ba khổ hạnh 2. Ðức Thế Tôn đã cho phép thực hành 13 khổ hạnh cho những thiện nam tử đã từ bỏ những chuyện xác thịt và không kể thân mạng, mong muốn tu tập phù hợp với cứu cánh giải thoát. Mười ba khổ hạnh là: 1) hạnh phấn tảo y 2) hạnh ba y 3) hạnh khất thực 4) hạnh khất thực từng nhà 5) hạnh nhất tọa thực 6) hạnh ăn bằng bát 7) hạnh không để dành đồ ăn (không nhận đồ ăn sau khi đã ăn xong) 8) hạnh ở rừng 9) hạnh ở gốc cây 10) hạnh ở giữa trời 11) hạnh ở nghĩa địa 12) hạnh nghỉ chỗ nào cũng xong 13) hạnh ngồi (không nằm) 3. Sau đây sẽ trình bày về: (1) ý nghĩa; (2) đặc tính; (3) thọ giới, chỉ dẫn, cấp bực, sự phạm giới và những lợi ích của mỗi hạnh; (4) ba tánh; (5) phân biệt "người khổ hạnh", "người thuyết giảng khổ hạnh", "các pháp tương ưng với khổ hạnh", "các khổ hạnh" và khổ hạnh thích hợp với hạng người nào; (6) theo nhóm; và (7) riêng biệt.. 4. (1) Trước hết là ý nghĩa: i) Gọi là phấn tảo (pamsukùla - bụi bặm) vì nó được tìm ở những đống rác bên đường, nghĩa địa, đống phân (midden), nó thuộc về đồ bỏ tại các nơi ấy. Hoặc nó đang tiến đến một tình trạng tồi tệ như đồ bỏ (Pamsu viya kucchita-bhàvamulati) cho nên gọi là phấn tảo y. ii) Ba y là áo khoác ngoài gồm những miếng vải chắp nối lại, thượng y và hạ y. 5. iii) Sự để rơi (pàta) những mẩu đồ ăn (pinda) gọi là khất thực, pindapàta. Thu nhặt đồ khất thực từng nhà, gọi là ăn đồ khất thực. Hoặc vị ấy phát hiện thu lượm (patati: nhặt - nghĩa này không có trong tự điển của hội Pàli Text) những miếng ăn (pinda) nên gọi là người thu nhặt đồ ăn, hay người khất thực (pindapàtin). Sự thực hành này gọi là hạnh khất thực để sống. 6. iv) Hạnh thứ đệ khất: khe hở hay khoảng trống gọi là avakhandana hay dàna. Dời khỏi chỗ trống (apeta: dời khỏi ) hoặc không chỗ trống, không hở, là apadàna. Người đi từ nhà này đến nhà khác không chừa một nhà nào khoảng giữa, gọi là sapadànacàrin, tức là hạnh khất thực từng nhà, thứ đệ khất. 7. v) Ăn một lần mà thôi, đứng lên rồi, không ngồi xuống ăn lại, gọi là hạnh nhất tọa thực (ăn ngày một bữa) vi) Chỉ ăn những gì đã xin được trong bát, không nhận thêm bát thứ hai, gọi là người ăn bằng bát, (pattapindika). 8. vii) "Khalu" có nghĩa từ chối, không nhận. Ðồ ăn mà vị ấy nhận được sau khi đã ăn xong gọi là tàn thực (pacchàbhatta). Người không ăn đồ ăn như thế gọi là khalu- pacchàbhattika, không nhận đồ ăn sau khi ăn xong. Nhưng trong Luận nói: "Khalu là tên một giống chim khi mổ một trái cây để ăn, mà trái ấy rớt thì thôi ăn. Vị tỳ-kheo này cũng vậy. 9. viii) Vị ấy quen sống ở rừng nên gọi là hạnh ở rừng. 10. ix) Sống dưới gốc cây nên gọi là hạnh ở gốc cây. x-xi) Ở ngoài trời và ở nghĩa địa, cũng thế. xii) Những gì được phân phối (cho mình) gọi là "như được phân phối" (yathà-santhata). Ðây là một từ ngữ chỉ chỗ nghỉ ngơi được phân phối cho vị tỳ kheo. Người nghỉ ở chỗ được phân phối cho mình gọi là một người sử dụng đồ nằm như được phân phối (yathàsanthatika) người theo hạnh này gọi là hạnh nghỉ chỗ nào cũng được. xiii) Vị ấy có thói quen ngồi mà ngủ, không nằm gọi là hạnh ngủ ngồi. 11. Tất cả những hạnh kể trên gọi là hạnh (anga) cùa một tỳ kheo theo khổ hạnh (dhuta, đầu-đà) bởi vì vị ấy đã rũ bỏ (dhuta) cấu uế bằng cách thọ trì một trong những khổ hạnh ấy. Gọi là "đầu-đà" (dhuta) vì nó rũ sạch (niddhunana) chướng ngại, gọi là hạnh ( anga ) vì nó là con đường (patipatti). Trên đây là trình bày ý nghĩa. 12. (2) Tất cả 13 khổ hạnh trên đều có đặc tính là ý nguyện thọ trì. Luận nói: "Người thọ giới là một con người. Cái nhờ đó nó thọ giới được là tâm và tâm sở. Chính ý chí trong hành vi thọ giới gọi là hạnh đầu-đà. Tất cả 13 hạnh đều có công dụng là loại trừ tham dục và hiện tứ của chúng là vô tham. Nguyên nhân gần của chúng là những đức thiểu dục... 13. (3) Trong thời Phật tại thế, tất cả khổ hạnh đều phải được thọ trì trước mặt đức Thế Tôn. Sau khi Ngài nhập Niết-bàn, phải thọ trước một vị đại đệ tử của Ngài. Khi không có vị này, phải thọ trước một người đã đoạn tận lậu hoặc, một bậc Bất hoàn, Nhất lai hay Nhập lưu, hoặc một người thông hiểu 3 tạng hoặc 2 tạng hoặc 1 tạng hoặc 1 người thông hiểu 1 trong 5 bộ Nikàya, 1 luận sư Nikàya. Không có 1 người như vậy thì phải thọ trước 1 vị đang hành 1 khổ hạnh. Nếu không có 1 vị như vậy thì nên quét dọn sạch sẽ điện thờ rồi ngồi mà thọ giới một cách kính cẩn như đang ở trước mặt đấng Ðạo sư. Như thế, có thể thọ giới đầu-đà một mình. Ở đây có thể nhắc lại câu chuyện người anh trong 2 anh em vốn là 2 trưởng lão ở tu viện Cetiyapabbata, để biết thế nào là thiểu dục trong đầu đà hành đạo. Vị này theo khổ hạnh ngủ ngồi một mình mình biết. Một đêm kia, nhơn một làn chớp lóe, người em trông thấy ngài đang ngồi thẳng trên giường và hỏi: "Bạch đại đức, thế ra ngài theo khổ hạnh ngủ ngồi à?" Vì thiểu dục, không muốn để ai biết khổ hạnh của mình, vị ấy bèn nằm xuống (Vô ngại giải đạo 77). Ðiều này áp dụng cho mọi khổ hạnh. 14. Bây giờ, ta sẽ tiếp tục bàn về sự thọ giới , những chỉ dẫn, các cấp bực, sự phá giới, và lợi ích của từng khổ hạnh. i) Ðầu tiên là hạnh phấn tảo y: nó được thọ trì bằng cách thốt lên một trong hai lời nguyện này: "Tôi từ chối những y do gia chủ cúng" hoặc "tôi nguyện giữ khổ hạnh phấn tảo y". Ðây là sự thọ giới. 15. Một người đã thọ giới này nên mặc một y thuộc một trong những loại sau: vải lấy từ nghĩa địa, từ cửa hàng, từ đường cái, từ hố phân, từ giường trẻ, vải tẩy uế, vải từ chổ tắm, vải đi về nghĩa địa, vải bị cháy, bị gia súc ăn, bị kiến ăn, bị chuột ăn, vải rách ở biên, rách ở đầu, vải làm cờ, vải bỏ từ điện thờ, y của nhà khổ hạnh, vải từ cuộc lễ, vải do thần thông biến hóa, vải trên xa lộ, vải gió bay, vải do thiền thần bố thí, vải trôi giữa biển... Lấy một trong những thứ vải này vị ấy nên xé bỏ những mảnh rách nát, giặt sạch những mảnh lành lặn để làm thành một cái y. Vị ấy có thể dùng nó sau khi xả bỏ áo do thí chủ cúng. 16. "Vải từ nghĩa địa" là vải rơi rớt ở nghĩa địa. "Vải từ cửa hàng" là vải rớt trước quán hàng. "Vải từ đường cái" là thứ vải mà những kẻ kiếm công đức thường ném qua cửa sổ xuống đường. "Vải từ hố phân" là vải bỏ thùng rác. "Vải ở giường trẻ" là vải bỏ sau khi lau những bất tịnh của sản phụ. Mẹ của đại thần Tissa lau những bất tịnh bằng một mảnh vải đắt giá, nghĩ rằng những nhà khổ tu mặc phấn tảo y sẽ lượm, và quăng nó trên đường Tàlaveli. Các tỷ kheo lượm vá y. 17. "Vải tẩy tịnh" là vải mà những vị phù thủy bắt bệnh nhân dùng để tắm rửa từ trên đầu trở xuống rồi vứt đi như vứt một sự xui xẻo. "Vải từ chỗ tắm giặt" là những giẻ rách vứt bỏ ở chỗ tắm. "Vải đi về nghĩa địa" là vải bỏ sau khi đến nghĩa địa, trở về tắm rửa. "Vải bị cháy" là vải vì cháy một ít mà người ta vứt đi. "Vải gia súc ăn, chuột ăn" v.v... nghĩa đã rõ. "Vải làm cờ": những người xuống tàu ra khơi thường tung lên một cái cờ rồi mới đi. Khi tàu đi khuất, có thể lượm cái cờ này. Lại nữa, khi hai bên quân đội đã đi khuất, có thể lượm cờ đã được tung ra giữa chiến địa. 18. "Vải từ điện thờ" là một tấm vải cúng phủ trên tổ kiến. "Vải của nhà khổ tu" là y của tỳ kheo. "Vải từ một cuộc lễ" là vải vứt bỏ ở chỗ làm lễ tấn phong vua. "Vải do thần thông hóa hiện" là tấm y do phép Phật biến hóa lúc Ngài nói "Thiện lai tỷ kheo" (Ehi bhikkhu). Trong một vài trường hợp lúc Phật còn tại thế, Ngài chứng minh sự xuất gia của một người bằng cách chỉ nói mấy tiếng "Lại đây, tỷ kheo". Do công đức đời trước của vị ấy, pháp phục tự nhiên xuất hiện một cách mầu nhiệm trên người ông. "Vải từ xa lộ" là vải rơi rớt giữa đường. Nhưng nếu vì sơ ý mà chủ nhân làm rớt, thì phải chờ một lúc mới được phép nhặt lên. "Vải gió bay" là vải theo gió bay một đỗi xa mới rớt xuống, được phép lượm nếu không thấy chủ. "Vải do chư thiên cúng" là vải chư thiên cúng cho tỷ kheo như trường hợp tôn giả Anuruddha. "Vải trôi giữa biển" là vải sóng biển đánh tắp vào bờ. 19. Một tấm vải được cúng với lời nói "Chúng tôi cúng cho chư tăng", hoặc do người đi xin vải kiếm được, thì không phải vải bỏ. Vải do một tỷ kheo tặng, vải do nhận được trong lễ dâng y do một tỷ kheo tặng lại, vải do thí chủ cúng cho một vị ở trú xứ nào đó, đều không phải vải phế thải. Vải bỏ là thứ vải được từ một người cho đã không sở hữu nó với những cách nói trên. Vải do một thí chủ đặt dưới chân tỷ kheo, rồi tỷ kheo này đem cho người lập hạnh mặc y phấn tảo bằng cách để vào tay vị ấy, gọi là chỉ thanh tịnh một chiều. Hoặc thí chủ để vào tay một tỷ kheo, tỷ kheo đem đặt dưới chân vị khổ hạnh, cũng gọi là chỉ thanh tịnh một chiều. Vải đặt dưới chân tỷ kheo, tỷ kheo đem đặt dưới chân nhà khổ hạnh, gọi là thanh tịnh hai chiều. Vải mà người cho đã nhận được bằng tay, nhà khổ hạnh cũng nhận bằng tay, thì không phải là hạnh phấn tảo y chặt chẽ. Như vậy, nhà khổ hạnh cần sử dụng y sau khi biết rõ những loại vải. 20. Và đây là những cấp bực. Có ba hạng: hạng chặt chẽ, trung bình và thường. Người lượm vải ở nghĩa địa gọi là hạng chặt chẽ. Người lượm vải do một người bỏ ra với ý nghĩ "một tỷ kheo sẽ lượm " gọi là hạng trung bình. Và người lấy vải do một tỷ kheo cho mình bằng cách đặt dưới chân, là hạng thường. Lúc nào người ấy bằng lòng nhận một tấm y từ gia chủ, thì hạnh phấn tảo y của ông bị phá. Ðây là phá giới ở trường hợp này. 21. Và đây là những lợi ích. Vị ấy làm đúng theo hạnh. Tùy thuận, như câu: "Xuất gia bằng cách tùy thuộc vào y phấn tảo" (Luật i 58,96) ; vị ấy an lập trong thánh tài thứ nhất (Tăng chi ii, 27); không có sự đau khổ do phải giữ gìn; vị ấy sống không tùy thuộc vào người khác; không sợ trộm cướp; không có thèm muốn liên hệ đến y phục; đó là một điều kiện thích hợp cho một ẩn sĩ; được Thế-tôn tán thán vì "không giá-trị, dễ kiếm, và không lỗi" (Tăng chi ii, 26) nó làm cho người ta tin cậy; nó phát sinh những hậu quả ít muốn, biết đủ v.v...; chánh đạo được tu tập; làm tấm gương cho hậu lai. 22. Khi nỗ lực đánh bạt đạo quân Tử-thần, nhà khổ hạnh quấn y bằng giẻ rách lượm từ đống rác, vẫn sáng chói như tướng sĩ lâm trận mặc giáp sắt. Y phấn tảo này chính đấng Thiên Nhân Sư cũng mặc từ bỏ hàng Kàsi quý giá cùng những thứ khác. Vậy, ai mà không nên mặc Y bằng giẻ lượm từ đống rác? Nhớ lời đã phát nguyện khi ra đi sống kiếp không nhà Hãy hân hoan mặc y phấn tảo như người ta trang sức xiêm y mỹ lệ. Ðấy là thọ giới, chỉ dẫn, cấp bực, sự phạm giới, và những lợi lạc trong khổ hạnh phấn tảo y. 23. ii) Kế tiếp, hạnh ba y. Giới này được thọ trì bằng cách nói: "Tôi không nhận cái y thứ tư" hoặc "Tôi giữ giới mặc ba y". Khi một người thọ giới này được vải để làm y, vị ấy có thể giữ nó trong thời gian vì thiếu sức khỏe không thể may y, hoặc vì chưa tìm ra người giúp, vì thiếu kim, v.v... thì cất giữ vải không có lỗi. Nhưng khi y đã được nhuộm thì không được cất giữ vải. Ðó là khổ hạnh bịp. Ðây là sự chỉ dẫn. 24. Về hạnh ba y cũng có ba cấp bậc. Người theo khổ hạnh ba y một cách nghiêm nhặt thì trong lúc nhuộm, trước phải nhuộm hoặc y trong hoặc thượng y, nhuộm cái này xong, quấn nó ngang lưng mà nhuộm cái khác. Xong, vắt nó lên vai mà nhuộm y khoác ngoài bá nạp. Nhưng vị ấy không được quấn y bá nạp quanh thất lưng. Ðây là luật khi ở một trú xứ tại xóm làng, nhưng ở rừng thì có thể nhuộm, giặt cả ba y một lượt nhưng phải ở gần để nếu thấy người thì có thể kéo một tấm mà đắp lên mình. Ðối với người theo cấp bậc trung bình thì có thể dùng một tấm vải vàng để trong phòng nhuộm đắp lên mình trong khi giặt nhuộm. Ðối với người theo cấp bực ba (lỏng lẻo) thì có thể mặc hay khoác y của tỷ kheo trong hòa hợp chúng (nghĩa là, vị nào không bị phạt v.v...) để giặt nhuộm.Một tấm vải trải giường bỏ không, cũng có thể dùng song không được mang theo. Vị này cũng có thể thỉnh thoảng sử dụng y của tỷ kheo trong hòa hợp chúng. Người theo khổ hạnh ba y còn có thể dùng một tấm vải vàng che vai kể như y thứ tư, không được rộng quá một gang, dài quá chiều dài 3 bàn tay. Lúc nào người theo một trong ba cấp-bực khổ hạnh ấy tự động nhận một tấm y thứ tư, thì khổ hạnh bị hỏng. Ðây là sự phá giới trong trường hợp này. 25. Khổ hạnh ba y có những lợi lạc như sau. Vị tỷ kheo thọ trì khổ hạnh này xem y phục chỉ như vật che thân. Vị ấy đi đâu cũng chỉ mang theo ba y như chim mang đôi cánh (Trung i, 180); kiện toàn các đức như ít vật dụng, không tích trữ vải, sống đạm bạc, từ bỏ tánh tham y phục, sống viễn ly, tiết độ ngay cả đối với những gì hợp pháp, phát sinh tính ít muốn biết đủ v.v... 26. Không lo sợ tích trữ Không giữ quá ba y Bậc trí thưởng thức được Hương vị của hỉ túc Du hành không chướng ngại Như chim bay hư không Chỉ mang theo hai cánh Tỷ kheo nên hoan hỉ Hạnh đạm bạc ba y. 27. iii) Hạnh khất thực được thọ trì bằng cách thốt lên như sau: "Tôi không nhận đồ ăn để dành (tàn thực)" hoặc: "Tôi thọ trì hạnh khất thực hàng ngày". Người đã thọ giới này không được nhận 14 thứ thực phẩm như sau: bữa ăn cư sĩ cúng dường cho chư tăng, bữa ăn cúng cho một số tỷ kheo đặc biệt, bữa ăn do người ta mời, bữa ăn được mời bằng một phiếu ăn, bữa ăn vào ngày lễ Trai giới Uposatha (bố-tát), bữa ăn vào ngày nửa tháng, bữa ăn vào ngày đầu nửa tháng, bữa ăn dành cho khách, bữa ăn cho kẻ lữ hành, bữa ăn cho người bệnh, bữa ăn cho kẻ nuôi bệnh, bữa ăn cúng cho một trú xứ nào đó, bữa ăn được bố thí tại một ngôi nhà chính, bữa ăn cúng theo thứ tự. Nếu, thay vì nói "Xin thỉnh đại đức dùng một bữa ăn cúng cho chư tăng" thí chủ lại nói "Chư tăng đang khất thực tại nhà tôi, đại đức có thể đến khất" thì có thể nhận lời. Những phiếu tăng chúng phát ra không phải về thực phẩm mà về các vật khác (thuốc men v.v... ) hoặc một bữa ăn được nấu trong một tu viện, nhà khổ hạnh đều được dùng. 28. Giới này cũng có ba bực. Người khổ hạnh cấp một (khắt khe) nhận đồ ăn do người ta đem lại từ phía trước mặt và sau lưng (đi quá rồi thí chủ mới chạy theo cúng), và đưa bát cho thí chủ rồi đứng chờ ngoài cổng. Vị ấy cũng nhận đồ ăn mang lại cúng dường tại nhà ăn nhưng vị ấy không nhận đồ khất thực bằng cách ngồi đợi người ta mang đến. Người khổ hạnh cấp hai thì ăn đồ ngồi đợi mang đến (trong ngày hôm đó) nhưng không ăn đồ người ta hứa mang lại cúng hôm sau. Người theo khổ hạnh cấp ba bằng lòng ăn đồ ăn được hứa mang đến hôm sau, và hôm sau nữa. Cả hai hạng sau đều mất cái thú hưởng một cuộc đời độc lập. Ví dụ có thể có một buổi thuyết- pháp về Thánh tài ở một thôn ấp nào đó (Tăng chi ii, 28). Người cấp một bảo hai hạng kia: "Chư hiền, chúng ta hãy đi nghe pháp". Một người bảo: "Bạch đại- đức, tôi đã được một thí chủ bảo ngồi đây đợi". Người cấp hai bảo: " Bạch đại đức, tôi đã nhận lời mời ăn đồ khất thực ngày mai". Bởi thế cả hai vị này đều mất mát. Còn vị đầu tiên thì cứ đi khất thực vào buổi sáng, rồi đi thẳng đến chỗ nghe pháp, thưởng thức pháp vị. Lúc một trong ba hạng ấy bằng lòng với một lợi dưỡng ngoài phạm vi nói trên, nghĩa là ăn đồ cúng cho chúng tăng, v.v... thì khổ hạnh bị phá. 29. Hạnh khất thực có những lợi lạc như sau. Vị ấy làm đúng như Luật dạy, "xuất gia tùy thuộc vào sự nuôi sống bằng khất thực"; vị ấy an lập trong thánh tài thứ hai; Sự sống của vị này không lệ thuộc vào kẻ khác, và Thế Tôn đã ca ngợi đồ ăn khất thực là "không giá trị, dễ kiếm và không lỗi" (Tăng chi ii, 26); sự phóng dật được trừ khử, mạng sống được thanh tịnh, việc thực hành những học pháp thuộc tiểu giới được viên mãn; vị ấy không do một người khác nuôi sống (không nhờ vào, lệ thuộc vào một người nào) vị ấy giúp đỡ mọi người, từ bỏ kiêu mạn, lòng tham vị ngon được chế ngự, không phạm những học giới liên hệ đến ăn. Ðời sống vị ấy phù hợp với những nguyên tắc thiểu dục tri túc v.v... tu tập chánh đạo, thương tưởng đến những đời hậu lai. 30. Tỷ kheo vui khất thực Ðời sống không lệ thuộc Tham dục không chân đứng Giải thoát như hư không Tinh cần, không giải đãi Mạng sống không lỗi lầm Bởi vậy người có trí Không khinh thường khất thực. Vì kinh dạy: "Nếu tỷ kheo có thể tự nuôi bằng khất thực Sống không tùy thuộc vào sự giúp của riêng ai Không màng đến danh dự Lợi dưỡng chẳng đoái hoài Thì đến cả chư thiên cũng thèm số phận Người". (Phật tự thuyết 31) 31. iv) Hạnh khất thực từng nhà được thọ-trì bằng cách phát nguyện: "Tôi không làm một vòng khất thực tham ăn" hoặc:"Tôi theo hạnh khất thực từng nhà". Người tuần tự khất thực này dừng lại ở cổng vào làng, nên biết chắc sẽ không có gì nguy hiểm. Nếu có nguy hiểm tại một con đường hay một làng nào, vị ấy được phép gạt bỏ nơi ấy để đi khất thực chỗ khác. Khi có một cái nhà, một con đường hay một khu làng nơi đó vị ấy thường xuyên không được thứ gì, thì có thể bỏ qua chỗ đó. Nhưng nơi nào có xin được chút đỉnh, thì sau đó không được bỏ qua chỗ ấy. Vị ấy nên đi vào làng sớm, để có thể bỏ ra ngoài những chỗ bất lợi và đi chỗ khác. Nếu có thí chủ đang cúng thức ăn cho chùa, hoặc đang đi giữa đường, lấy cái bát vị ấy để đặt thức ăn vào, vị ấy được phép nhận. Trên đường đi, không được bỏ qua khu làng nào. Nếu không xin được gì ở đấy hoặc rất ít, thì nên tuần tự khất thực ở các làng kế tiếp. 32. Hạnh này cũng có ba bực. Hạng khất thực tuần tự một cách chặt chẽ thì không nhận đồ ăn mang đến từ trước mặt hoặc từ sau lưng, hoặc mang đến cúng tại nhà ăn. Nhưng vị ấy chìa bát tại một cửa nhà; vì trong khổ hạnh này, không ai sánh bằng trưởng lão Ðại Ca-Diếp, thế mà Ngài cũng có lần chìa bát như đươc thuật (Phật tự thuyết 29). Vị theo khổ hạnh cấp hai nhận đồ ăn đem đến từ trước, từ sau lưng, và tại nhà ăn, và vị ấy chìa bát tại một cửa nhà, nhưng không ngồi mà đợi đồ ăn khất thực. Như vậy, vị ấy làm đúng luật của người ăn đồ khất thực một cách chặt chẽ. Người khổ hạnh cấp ba thì ngồi đợi đồ ăn mang đến nội nhật hôm ấy. Khổ hạnh của ba hạng nói trên bị phá khi họ khởi sự làm vòng khất thực tham ăn (bằng cách chỉ đến những nhà bố thí đồ ăn ngon lành ). Ðây là sự phạm giới trong khổ hạnh khất thực. 33. Những lợi ích như sau. Vị ấy luôn luôn là một người khách lạ tại các nhà giống như mặt trăng (Tương ưng ii, 197); vị ấy từ bỏ sự tham lẫn và những gia đình; có lòng từ mẫn một cách bình đẳng; vị ấy tránh được những nguy hiểm của sự được ủng hộ bởi một gia đình duy nhất, vị ấy không thích thú trong sự mời ăn, không hy vọng đồ ăn được mang đến; đời sống vị ấy thích hợp với hạnh thiểu dục tri túc v.v... 34. Tỷ kheo tuần tự khất như trăng chiếu ngàn nhà nhìn luôn luôn mới mẻ không tham, giúp mọi người thoát khỏi mối nguy hiểm vì lệ thuộc một nhà Muốn từ bỏ tham thực để du hành tùy thích khi đi mắt nhìn xuống trước mặt một tầm cày Tỷ kheo hãy thận trọng từng nhà tuần tự khất. 35. v) Khổ hạnh nhất tọa thực được thọ trì bằng cách lập nguyện: "Tôi không ăn nhiều lần" hoặc "Tôi nguyện theo hạnh nhất tọa thực". Khi người theo khổ hạnh này ngồi xuống trong phòng ăn, thì phải ngồi đúng chỗ dành cho mình. Nếu giáo thọ sư hay y chỉ sư của vị ấy đến trong lúc bữa ăn chưa xong, vị ấy được phép đứng lên để chào. Nhưng Trưởng lão Tam tạng Cìla-abhaya nói: "Vị ấy nên ngồi mà ăn cho xong, hoặc nếu đứng lên thì phải bỏ đồ ăn còn lại" (để khỏi vi phạm khổ hạnh). 36. Khổ hạnh này cũng có ba bực. Người theo cấp một (nghiêm nhặt) không được ăn nhiều hơn những gì mình đã lấy một lần vào bát. Nếu có người mang thêm bơ v.v..., có thể dùng làm thuốc chữa bệnh, chứ không để ăn. Người theo cấp hai có thể nhận thêm, nếu trong bát chưa hết, vì vị này là người "ngừng ăn khi đồ ăn trong bát đã sạch". Người theo cấp ba có thể ăn bao lâu chưa rời chỗ, vị này là người "ngừng ăn theo nước" vì ăn cho đến khi lấy nước để tráng bát hoặc ngừng ăn theo chỗ ngồi, vì vị ấy ăn cho đến khi nào đứng dậy. Khổ hạnh của cả ba hạng này bị phá khi họ ăn hơn một lần. Ðó là sự phá giới trong hạnh nhất tọa thực. 37. Khổ hạnh ấy có những lợi lạc này: vị ấy ít bịnh, ít não, thân thể nhẹ nhàng, có sức khỏe, có một đời sống hạnh phúc, không vi phạm những học giới về ăn, loại trừ lòng tham vị ngon và sống thiểu dục tri túc. 38. Không có bịnh do ăn Tỳ kheo nhất tọa thực Khỏi hy vọng vị ngon Bỏ phế cả đạo nghiệp Vị ấy được hạnh phúc Tâm tư thật trong sáng Thanh tịnh và viễn ly Hưởng hiện tại lạc trú. 39. vi) Hạnh ăn một bát: Ðược thọ trì với một lời nguyện: "Tôi từ chối bát thứ hai" hoặc "Tôi giữ hạnh ăn bằng bát". Khi ăn cháo, người theo khổ hạnh này được dùng cà-ri để trong một cái dĩa, vị ấy được phép hoặc ăn cà ri trước hoặc uống hết nước cháo trong bát rồi bỏ cà ri vào, vì nếu bỏ cà ri vào bát trộn chung với cháo thì sẽ rất khó ăn (lợm). Nhưng nếu đồ ăn không lợm thì phải để vào trong bát mà ăn. Khi lấy đồ ăn, nên lấy vừa phải lượng cần dùng bởi vì vị ấy không được lấy bát thứ hai. 40. Khổ hạnh này cũng có ba bực. Cấp 1 thì trừ mía, không được ném bỏ rác bẩn trong khi ăn hoặc bẻ nhỏ các miếng ăn. Rác bẩn phải được vứt bỏ, đồ ăn phải được bẻ nhỏ trước khi ăn. Người theo cấp 2 được bẻ nhỏ đồ ăn trong khi ăn, vị ấy là "khổ hạnh ăn bằng tay". Cấp 3 gọi là "khổ hạnh ăn bằng bát", bất cứ gì để vào bát, vị ấy đều được phép trong khi ăn, bẻ nhỏ ra (cơm cục v.v...) bằng tay hoặc bằng răng (đường thốt-nốt, gừng v.v...). Khi 1 trong 3 người nói trên bằng lòng nhận một bát thứ hai thì khổ hạnh của họ bị phá. 41. Khổ hạnh này có những lợi lac sau: lòng tham nhiều vị được trừ khử, mong cầu thái hóa được từ bỏ, vị ấy thấy rõ mục đích và lượng thức ăn vừa đủ, không bận tâm mang theo soong chảo, đời sống vị ấy phù hợp với nguyên tắc thiểu dục tri túc, v.v... 42. Vị ấy khỏi hoài nghi Về những thức ăn khác Nhìn bát ăn trang nghiêm Dứt sạch lòng tham vị Hài lòng tính tự nhiên Chánh ý tâm hoan hỉ Người khổ hạnh một bát Ðược tư cách như trên. 43. vii) Khổ hạnh không ăn đồ tàn thực (đồ nhận được sau khi đã ăn xong) được thọ trì bằng cách phát nguyện: "Tôi từ chối đồ ăn thêm" hoặc "Tôi thọ giới không ăn tàn thực". Khi vị giữ hạnh này chứng tỏ mình đã ăn đủ thì không được nhận thức ăn để ăn. 44. Có ba bực. Ở đây không có gì chứng tỏ vị ấy đã ăn vừa đủ với miếng đầu tiên, song khi đang nuốt miếng ấy mà từ chối, thì có sự chứng tỏ đã ăn đủ. Bởi thế, người theo cấp 1, khi đã chứng tỏ mình ăn vừa đủ thì không thể nhận miếng thứ hai để ăn sau khi nuốt miếng thứ nhứt. Người theo khổ hạnh cấp 2 thì cứ vẫn ăn sau khi đã nói thôi. Người theo cấp 3 có thể tiếp tục ăn cho đến khi rời khỏi chỗ. Lúc nào 1 trong 3 người ấy ăn thêm sau khi đã ăn xong thì khổ hạnh bị hỏng. Ðây gọi là phá giới trong trường hợp này. 45. Khổ hạnh này có những lợi ích như sau: Vị ấy khỏi lỗi liên hệ đến đồ ăn tàn thực, khỏi bị bội thực, khỏi cất giữ thức ăn, khỏi tìm kiếm thêm đồ ăn. Vị ấy sống đúng theo hạnh thiểu dục, tri túc v.v... 46. Không ăn đồ tàn thực Khỏi tìm kiếm nhọc công Khỏi cất chứa đồ ăn Và cũng không bội thực Muốn tránh những lỗi này Thì nên theo hạnh ấy Ðược Thế Tôn ca tụng Vì tăng trưởng hỉ túc. 47. viii) Hạnh ở rừng được thọ trì với một lời nguyện: "Tôi không ở một trú xứ trong xóm làng" hoặc "Tôi lập hạnh sống ở rừng". 48. Người lập nguyện này phải rời bỏ trú xứ trong xóm làng để vào rừng lúc bình minh. "Trú xứ trong làng" có nghĩa là khu làng và phụ cận. "Làng" có thể gồm 1 hay nhiều nóc nhà tranh, có thể được bao quanh bằng tường hay không, có thể có người ở hay không, cũng có thể là một khu trại có người ở trong khoảng hơn 4 tháng. "Phụ cận" của làng là phạm vi một hòn đá rơi xuống do người có tầm vóc trung bình đứng ở cổng làng ném ra, nếu làng có cổng. Theo các Luật sư thì phụ cận là tầm ném đá của một thanh niên luyện cánh tay bằng cách ném đá. Theo luận sư căn cứ vào kinh, thì chỉ là tầm ném đá khi người ta đuổi quạ. Nếu làng không có tường ngăn ranh giới thì "phụ cận của nhà" là tầm nước rơi do một người đàn bà đứng từ cửa nhà ở bìa, bưng đổ hắt ra. Từ điểm nước rơi, tầm ném đá theo cách vừa kể gọi là làng. Từ chỗ này, trong phạm vi ném hòn đá thứ hai, là phủ cận làng. 49. "Rừng", theo định nghĩa của Luật là "Trừ làng và phụ cận, tất cả đất còn lại là rừng" (Luật iii, 46). Theo A-tỳ-đàm thì "Ra khỏi trụ mốc ranh giới làng gọi là rừng." (Phân biệt luận 251). Nhưng theo kinh, thì đặc điểm của rừng là "Một trú xứ ở rừng là khoảng cách 500 độ dài của cái cung" (Luật iv, 183). Có nghĩa là phải đo bằng cung của người dạy bắn cung từ cột trụ cổng làng nếu có, hoặc từ một tầm đá ném nếu làng không cổng, cho đến bức tường của trú xứ tự viện ở rừng. 50. Nhưng nếu tự viện không có tường thì theo các Luật giải, đo bằng cách lấy cái nhà ở đầu tiên làm ranh giới, hoặc lấy nhà ăn, chỗ họp, cây bồ đề, chánh điện làm ranh, dù cách xa nhà ở trong tự viện. Nhưng Luận Trung bộ nói bỏ vùng phụ cận của viện và của làng, khoảng cách phải đo là giữa hai tầng đá rơi. 51. Ngay cả khi làng ở gần kề, có thể nghe tiếng người từ trong tự viện, tự viện ấy vẫn được xem là trú xứ ở rừng nếu khoảng giữa có những mỏm đá, sông v.v... ngăn cách không thể đi thẳng đến và độ dài khoảng cách đường thủy là 500 cung. Nhưng nếu người nào cố ngăn bít chỗ này chỗ kia trên đường vào làng, làm cho nó dài ra để có thể bảo rằng mình làm đúng luật thì đó là khổ hạnh bịp. 52. Nếu y chỉ sư hay giáo thọ sư của hành giả bị bịnh và ở rừng không thể kiếm được những gì cần cho bịnh, thì có thể đưa thầy đến một trú xứ ở làng để săn sóc nhưng phải rời làng đúng lúc để trở lại rừng vào lúc rạng đông. Nếu cơn bịnh gia tăng vào lúc trời gần sáng thì hành giả phải lo cho vị thầy chứ không được bận tâm về sự giữ gìn khổ hạnh của mình. 53. Khổ hạnh này cũng có ba bực. Cấp 1, người ấy phải luôn luôn trở về rừng vào lúc bình minh. Cấp 2, có thể cư trú tại 1 khu làng vào bốn tháng mùa mưa. Cấp 3, có thể ở làng luôn cả mùa đông. Nếu trong thời gian đã định, 3 hạng nói trên rời rừng để đi nghe pháp tại một trú xứ ở làng, khổ hạnh của họ không bị hỏng nếu trở lại rừng đúng lúc bình minh, hoặc trên đường về vào lúc bình minh. Nhưng nếu giảng sư đã đứng lên mà vị ấy nằm 1 lát rồi ngủ quên khi mặt trời đã mọc, hoặc ở lại cố ý, cho đến khi mặt trời mọc, thì khổ hạnh ở rừng bị phá. 54. Và đây là những lợi lạc trong khổ hạnh ở rừng. Một tỳ kheo ở rừng tác ý vào lâm tưởng (Trung, kinh 121) có thể đạt được ngay trong hiện tại định tướng chưa đạt, hoặc duy trì định tướng đã đạt. Bậc Ðạo sư hài lòng về vị ấy, như kinh nói: "Này Nàgita, ta hài lòng về vị tỳ kheo sống ở rừng" (Tăng chi iii, 343). Khi sống tại một trú xứ xa vắng, tâm hành giả không bị dao động bởi những sắc pháp không thích đáng v.v... Vị ấy khỏi những lo âu, từ bỏ bám víu vào đời và thưởng thức lạc thú độc cư. Hạnh đầu-đà khác như phấn tảo y v.v... dễ dàng tu tập đối với vị ấy. 55. Ðộc cư nơi xa vắng Làm cho tâm hân hoan Ðấng Ðạo sư hài lòng Vị độc cư rừng thẳm, Người vui hạnh ở rừng Lại được hưởng hương vị Còn hơn cả giá trị Hạnh phúc của vua trời. Áo giáp y phấn tảo Tung tăng trong rừng già Lâm tuyền dễ thực hiện Bao nhiêu hạnh đầu đà. Tỳ kheo ấy chắc chắn Làm quần ma kinh hoảng Bởi thế người có trí Nên vui hạnh ở rừng. 56. ix) Hạnh ở gốc cây: Ðược thọ trì bằng cách thốt lời nguyện: "Tôi từ chối một mái nhà" hoặc "Tôi theo khổ hạnh ở gốc cây". Vị theo khổ hạnh này nên tránh những loại cây như sau: cây gần chỗ biên giới, cây có thờ cúng, cây cao su, cây ăn trái, cây có nhiều dơi, cây có lỗ hổng, cây đứng giữa một tự viện. Vị ấy có thể chọn một gốc cây ở phía ngoài một ngôi chùa. Ðây là chỉ dẫn. 57. Khổ hạnh này cũng có ba bực. Cấp 1 không được phép quét dọn sạch sẽ gốc cây đã chọn, mà chỉ có thể dùng chân để hất đi những lá rụng trong khi ở. Người theo cấp 2 có thể nhờ 1 người nào đi ngang quét dọn gốc cây. Cấp 3 có thể sai những chú tiểu trong chùa quét, san bằng đất, rải cát, làm rào quanh gốc cây với một cái cổng vào. Ðến ngày lễ lạc, người ở gốc cây nên ngồi vào một chỗ nào khuất nẻo. Lúc nào một trong ba hạng nói trên có trú xứ dưới một mái che thì khổ hạnh bị phá. 58. Những lợi lạc là, vị ấy làm đúng theo Luật nói: "Xuất gia bằng cách tùy thuộc vào một trú xứ gốc cây" (Luật i, 58) được đức Ðạo sư tán thán, vì "không có giá trị, dễ kiếm và không lỗi" (Tăng chi ii, 26); tưởng về vô thường được khơi dậy khi thấy lá cây luôn thay đổi, sự tham chỗ trú và ưa xây cất không có mặt nơi vị ấy, vị ấy sống cộng trú với chư thiên, phù hợp nguyên tắc ít muốn, v.v... 59. Ðức đạo sư ca tụng Một trong những tùy thuộc Chỗ nào bằng gốc cây Cho người ưa tịch tĩnh? Ðộc cư dưới gốc cây Ðược chư thiên hộ vệ Vị ấy sống chơn tu Không tham về trú xứ. Nhìn lá cây xanh non Trở màu đỏ lục vàng Lần lượt đều rơi rụng Hết tin ở trường tồn. Ðức đạo sư phú chúc Gốc cây nơi vắng vẻ Không người trí nào chê Vì dễ quán sinh diệt. 60. x) Hạnh ở ngoài trời: Ðược thọ trì bằng cách thốt lời nguyện: "Tôi từ chối mái nhà và gốc cây" hoặc "Tôi tu hạnh ở giữa trời". Người theo hạnh này được phép đi vào nhà Bố-tát để nghe pháp hoặc bố-tát. Nếu trong khi vị ấy đang ở trong nhà mà trời mưa, vị ấy có thể chờ hết mưa rồi đi ra. Vị ấy có thể vào nhà ăn, nhà bếp để làm phận sự hoặc vào dưới một mái che để hỏi những thượng tọa tỳ-kheo về một bữa ăn, vào để dạy hay học, để khuân vác đồ đạc từ ngoài. Nếu đang đi mang theo đồ dùng của các thượng tọa mà trời đổ mưa thì được vào một chỗ trú cho nhanh, nhưng nếu không mang gì cả thì phải đi với tốc độ bình thường vào chỗ trú. Luật này cũng áp dụng cho người ở gốc cây. Ðây là chỉ dẫn. 61. Có ba cấp bực. Cấp 1 không được ở gần một gốc cây, mỏm đá hay nhà. Phải dùng một tấm y làm lều mà ở giữa trời. Cấp 2 được ở gần một gốc cây, tảng đá, nhà, mà không ở dưới đó. Cấp 3 thì có thể ở dưới một hốc đá không có ống máng (đục để ngăn mưa lọt), dưới lều bằng cành cây, dưới một tấm lều vải được hồ cho cứng và dưới một cái lều của người canh ruộng bỏ không. Lúc họ đi vào dưới một mái nhà hay một gốc cây để ở thì khổ hạnh bị phá. Những vị tụng Tăng chi bộ bảo, khổ hạnh của họ bị phá khi một trong ba hạng cố ý ở dưới một gốc cây... vào lúc mặt trời đã mọc. 62. Có những lợi lạc như sau: Khỏi có những chướng ngại do chỗ trú gây ra, trừ được hôn trầm biếng nhác. Hạnh của vị ấy xứng đáng lời ca tụng "như thú rừng, tỳ kheo ấy sống không ràng buộc và không nhà" (Tương ưng i, 199). Vị ấy thong dong, muốn đi đâu cũng được, sống phù hợp với nguyên tắc ít muốn, biết đủ ... 63. Nhờ ở nơi khoảng trống Tỳ kheo thêm tinh cần Dễ kiếm, tâm bén nhạy Như con nai giữa rừng Hết hôn trầm biếng nhác Dưới vòm trời đầy sao Trời trăng làm ánh sáng Thiền định đem hân hoan. Hương vị độc cư lạc Vị ấy sẽ tìm được Khi sống giữa đất trời Người trí hãy yêu thích. 64. xi) Hạnh ở nghĩa địa được thọ trì với 1 lời nguyện: "Tôi từ chối chỗ trú không phải nghĩa địa" hoặc "Tôi tập hạnh sống tại nghĩa địa". Người ấy không được ở một nơi chỉ có cái tên là "đất nghĩa trang" vì chỗ nào không có 1 tử thi được đốt thì không phải nghĩa địa. Nhưng khi có 1 tử thi đã được đốt ở đấy, thì chỗ ấy trở thành nghĩa địa, dù có bị bỏ phế đã hơn 10 năm. 65. Một người sống ở nghĩa địa không được sai làm sẵn những đường đi, lều trại ... đặt sẵn bàn ghế giường, nước rửa, nước uống và giảng pháp, vì khổ hạnh là việc trọng đại hơn vị ấy phải tinh cần và phải báo cho các bậc trưởng lão hoặc chính quyền địa phương biết để ngăn ngừa sự lôi thôi. Khi đi kinh hành, nên vừa đi vừa nhìn giàn hỏa (để thiêu tử thi) với nửa con mắt. Trên đường đi đến nghĩa địa, vị ấy phải tránh những chính lộ và theo con đường mòn. Cần nhận kỹ những sự vật ở đấy vào lúc ban ngày để về đêm, khỏi tưởng ra những hình thù ghê sợ. Ngay cả lúc phi nhân (ma) có đi vất vưởng vừa đi vừa rú lên, vị ấy cũng không được ném vật gì vào những hồn ma ấy. Không được bỏ công việc đi đến nghĩa địa dù chỉ một ngày. Những vị tụng đọc Tăng chi bộ kinh bảo, sau khi trải qua canh giữa tại nghĩa địa, hành giả được phép rời khỏi vào canh cuối. Không được ăn những thứ như bột mè, bánh bao, cá, thịt, sữa, dầu ... những thứ ma ưa thích. Không được đi vào những gia đình. Ðây là chỉ dẫn. 66. Khổ hạnh này cũng có 3 bực. Cấp 1 phải sống tại những nơi luôn luôn có việc thiêu đốt, tử thi và tang lễ. Cấp 2 được phép sống ở nơi chỉ có 1 trong 3 điều ấy. Cấp 3 có thể sống tại 1 nơi chỉ có những đặc tính của 1 nghĩa địa như đã nói trên. Khi 1 trong 3 hạng người ấy có trú xứ tại 1 nơi không phải nghĩa địa thì khổ hạnh bị phá. Những vị tụng đọc Tăng chi bộ thì bảo khổ hạnh bị phá vào ngày nào mà 1 trong 3 hạng ấy không đi đến nghĩa trang. 67. Những lợi ích như sau: Hành giả được sự tưởng niệm về cái chết, sống tinh tấn, tưởng bất tịnh luôn hiện tiền, tham dục biến mất vì luôn luôn thấy được thực chất của thân thể. Vị ấy có tỉnh giác cao độ, từ bỏ 3 kiêu mạn về sự sống, tuổi trẻ và vô bịnh, chinh phục sợ hãi khiếp đảm, phi nhơn tôn trọng vị ấy. Vị ấy sống đúng theo hạnh tri túc thiểu dục... 68. Hành giả ở nghĩa địa Ngủ cũng thường tinh tấn Tử tưởng luôn hiện tiền Tham dục nào bén mảng Ý thức đời phù du Tận trừ mọi kiêu mạn Với người hướng Niết-bàn Hạnh này nhiều lợi lạc. 69. xii) Khổ hạnh nghỉ đâu cũng được thọ trì bằng cách phát nguyện: "Tôi từ bỏ lòng tham đắm sàng tòa" hoặc "Tôi giữ hạnh nghỉ đâu cũng được". Người lập hạnh này phải bằng lòng với bất cứ chỗ nghỉ nào mình có được, khi người phân phối bảo: "Chỗ này thuộc về ông" vị ấy không được bảo người nào dời chỗ. 70. Có 3 cấp bực. Cấp 1 không được hỏi thăm về trú xứ dành cho mình, như: "Có xa không?" hoặc "Có quá gần không?" hoặc "Chỗ ấy nóng không?" hoặc "Chỗ ấy lạnh không?". Cấp 2 được phép hỏi nhưng không được đi quan sát trước. Cấp 3 thì được đi quan sát trước và nếu không thích, có thể chọn một chỗ ở khác. Khi lòng tham đối với trú xứ khởi lên trong tâm những vị này, thì khổ hạnh bị hỏng. Ðây là phá giới ở khổ hạnh này. 71. Có những lợi lạc như sau: vị ấy làm đúng lời khuyên "Vị tỳ kheo nên hỷ túc với những gì mình có được" (Luật iv, 259), có tâm nghĩ tưởng đến những người đồng phạm hạnh, từ bỏ so đo cao thấp, bỏ tâm thuận nghịch, đóng cái cửa tham muốn, sống theo hạnh thiểu dục tri túc... 72. Người ở đâu cũng được Hài lòng cái mình có Ngủ nghỉ trong an lạc Dù trên đệm cỏ khô. Không ham cầu chỗ tốt Không ghét chỗ thấp xấu Giúp đỡ bạn đồng tu Tỳ kheo còn ngơ ngáo. Bởi vậy người có trí Hỷ túc với sàng tòa Ðây hạnh đáng yêu mến Ðược Thế Tôn khen ngợi. 73. xiii) Khổ hạnh ngồi được thọ trì bằng cách phát nguyện: "Tôi sẽ không nằm" hoặc "Tôi giữ hạnh ngồi không nằm". Hành giả có thể đứng hoặc đi bất cứ giờ nào trong đêm vì chỉ cấm nằm. Ðây là chỉ dẫn. 74. Có 3 cấp bực. Cấp 1 không được dùng 1 chỗ tựa lưng hay dây vải băng ngang người hoặc nịt lưng (phòng khi ngủ bị té). Cấp 2 được dùng bất cứ thứ nào trong 3 loại ấy. Cấp 3 được dùng 1 chỗ tựa, 1 băng vải, 1 nịt lưng, 1 gối dựa, 1 "cái 5 chân" và 1 "cái 7 chân". Cái 5 chân là dụng cụ gồm 4 chân và chỗ dựa lưng (ghế dựa). Cái 7 chân là dụng cụ gồm 4 chân, chỗ dựa lưng và 2 bên có chỗ tỳ cánh tay (ghế bành). Tương truyền cái ghế như vậy đã được chế cho trưởng lão Pìthàbhaya (Abhaya ngồi ghế). Vị này chứng chứng quả Bất hoàn trước khi viên tịch. Khi 1 trong 3 hạng người ấy nằm thì khổ hạnh của họ bị phá. 75. Những lợi ích như sau: xiềng xích trói buộc tâm, như "Vị ấy say mê lạc thú nằm dài, nghỉ ngơi, biếng nhác" bị cắt đứt, dễ chú tâm vào đề mục thiền định, dễ tinh cần tinh tấn, phát triển hạnh tu. 76. Ẩn sĩ ngồi kiết già Bàn chân trên hai vế Lưng thẳng ngồi bất động Làm kinh động ác ma. Không ưa thú nằm dài Sa đọa trong biếng lười Tỳ kheo ngồi an nghỉ Sáng chói khổ hạnh lâm Hỷ lạc siêu thế gian Tuôn phát từ hạnh ấy Người có trí do vậy Yêu mến khổ hạnh ngồi. Trên đây là luận về thọ giới, chỉ dẫn, cấp bực, sự vi phạm và những lợi lạc trong khổ hạnh ngồi. 77. Bây giờ, hãy luận về những điểm kế tiếp (xem Ðoạn 3): 4, 5, 6, 7. 78. (4)Về phương diện Ba tánh: Tất cả khổ hạnh của hữu học, phàm phu và A-la-hán đều có thể thiện hay bất định, chứ không khổ hạnh nào bất thiện (bất định là trường hợp A-la-hán). Nhưng nếu có người bảo cũng có khổ hạnh bất thiện vì kinh nói: "Người có ác dục, làm mồi cho dục, trở thành một vị sống ở rừng" (Tăng chi iii, 219)... thì nên trả lời: "Người nào có trú xứ trong rừng thì gọi là người ở rừng, nhưng vị ấy có thể là người có ác dục hay thiểu dục. Nhưng như đã nói (Ðoạn 11), những khổ hạnh ấy sở dĩ được gọi là đầu đà (dhuta) vì hành giả đã rủ sạch (dhuta) cấu uế bằng cách thọ trì một trong những khổ hạnh ấy. Không ai gọi là khổ hạnh vì người bất thiện có thể hành trì, mà đã bất thiện thì không thể rủ sạch được thứ gì để có thể gọi hạnh của kẻ đó làm là khổ hạnh. Và cái gì bất thiện thì không thể vừa rũ sạch lòng tham (y phục)... vừa trở thành lối thực hành của đạo. Do đó, có thể bảo, không khổ hạnh nào là bất thiện. 79. Những người cho rằng khổ hạnh là ở ngoài ba tánh (không thuộc thiện hay bất thiện hay bất định), thì không có khổ hạnh kể về ý nghĩa. (Chú thích: ám chỉ những vị ở Abhayagiri tại Amuràdhapura. Họ cho rằng khổ hạnh là một khái niệm chỉ có danh tướng (nàma- pannatti), mà như vậy thì cũng không thể có nghĩa rũ sạch cấu uế, hay khả tính về sự thọ trì, vì theo ý nghĩa tối hậu, chúng phi hữu, vì khái niệm là phi hữu - Hết phần chú thích). Do rũ sạch cái gì, mà một cái vốn phi hữu có thể được gọi là khổ hạnh? Vậy mà vẫn có câu "Bắt đầu thọ trì những khổ hạnh" (Luật iii 15) do đó thành mâu thuẫn. Cho nên thuyết này (cho rằng khổ hạnh không ở trong ba tánh) không thể chấp nhận. 80. (5) Kế tiếp, có sự phân biệt giữa ý nghĩa "người tu khổ hạnh", "người nói về khổ hạnh", "các pháp khổ hạnh", "các khổ hạnh" và hạng người nào cần thực hành khổ hạnh. 81. Người tu khổ hạnh là người đã rũ sạch cấu uế. Người giảng nói về khổ hạnh: có người tu khổ hạnh mà không giảng về khổ hạnh, có người giảng về khổ hạnh mà không phải là người tu khổ hạnh, có người không giảng cũng không tu, có người vừa giảng vừa tu. 82. Một người đã rũ sạch những cấu uế nhờ một khổ hạnh, nhưng không khuyên dạy kẻ khác thực hành khổ hạnh, là hạng thứ nhất, như trưởng lão Bakkula (Bạc-câu-la). Người bản thân chưa tẩy sạch những cấu uế, mà chỉ khuyên dạy kẻ khác tu khổ hạnh, là như trưởng lão Upananda. Người không tu khổ hạnh cũng không dạy khổ hạnh, như đại đức Làludàyin. Người vừa tu khổ hạnh vừa dạy tu khổ-hạnh, như bậc tướng quân Chánh pháp là tôn giả Xá-lợi-phất. 83. Những pháp khổ hạnh: là 5 pháp câu hữu với khỗ hạnh: ít muốn, biết đủ, viễn ly, độc cư, và cái có được nhờ các thiện pháp ấy. (Tăng chi iii, 219) 84. Ít muốn và biết đủ là vô tham. Ðộc cư và viễn ly là: viễn ly thuộc về vô tham, độc cư thuộc vô si. "Cái có được nhờ các thiện pháp ấy" là trí, cái trí nhờ đó một người thực hành khổ hạnh, và kiên trì trong các đức tính khổ hạnh (idamatthità: imehi kusaladhammehi atthi: idam-atthi). Ở đây, nhờ vô tham mà một người rũ bỏ tâm tham đối với những vật bị cấm chỉ. Nhờ vô-si, vị ấy rũ bỏ cái mặt nạ lừa dối khoác ở ngoài những vật ấy để che lấp sự nguy hiểm của chúng. Và nhờ vô tham, vị ấy rũ bỏ đam mê khoái lạc giác quan khi sử dụng những vật dụng hợp pháp. Nhờ vô si, vị ấy rũ bỏ sự say mê khổ hạnh khi thực hành khổ hạnh. 85. Những khổ hạnh là 13 hạnh đầu đà nói trên. 86. Hạng người nào nên tu khổ hạnh: Khổ hạnh thích hợp cho những người nhiều tham và si. Vì sao? Vì việc tu khổ hạnh vừa là một tiến trình khó khăn, vừa là một sự trú trong viễn ly, do khó tiến, mà tham giảm thiểu; do tinh cần trong viễn ly, si giảm thiểu. Hoặc hạnh ở rừng và ở gốc cây thích hợp cho người nhiều sân, vì sân giảm thiểu nơi một người ở những nơi không vướng vào xung đột. 87. (6) và (7). Theo nhóm và riêng biệt: (6) Theo nhóm, thì những khổ hạnh chỉ gồm có tám: ba chính và năm lẻ. Ba chính, là khất từng nhà, nhất tọa thực, và ở ngoài trời. Hạnh khất thực từng nhà bao gồm luôn cả hạnh ăn đồ khất thực; ăn bằng bát, và không ăn tàn thực bao gồm trong hạnh nhất tọa thực. Và một người đã ở ngoài trời thì cần gì phải thọ giới ở gốc cây, hay giới nghỉ chỗ nào cũng được? Bởi vậy, chỉ có ba khổ hạnh chính này, cùng với năm khổ hạnh riêng biệt là ở rừng, mặc y phấn tảo, hạnh ba y, hạnh ngồi và hạnh ở nghĩa địa làm thành tám khổ hạnh mà thôi. 88. Lại nữa, chúng gồm bốn: hai liên-hệ y phục, năm liên hệ thực phẩm, năm liên hệ trú xứ, và 1 liên hệ đến sự tinh cần (khổ hạnh ngồi). Lại nữa, các khổ hạnh rút lại chỉ gồm hai: 12 hạnh thuộc về tứ sự, và một về tinh cần. Và gồm hai, xét theo cái gì nên tu tập cái gì không nên. Khi một người tu khổ hạnh thấy đề tài quán tưởng của mình được tiến bộ, thì nên tu khổ hạnh, nhưng nếu không tiến mà còn thối, thì không nên tu. Khi vị ấy thấy dù khổ hạnh hay không, thiền- quán vẫn tiến, thì nên tu khổ hạnh vì lòng thương tưởng đến hậu lai. Và khi vị ấy thấy, dù tu khổ hạnh hay không, đề tài thiền quán vẫn không tiến bộ, thì vị ấy vẫn nên tu khổ hạnh, để tạo một thói quen tốt cho tương lai. Do đó mà nói tất cả khổ hạnh chỉ gồm hai thứ. 89. Và tất cả khổ hạnh đều thuộc một loại, là tư tâm sở. Vì chỉ có một khổ hạnh, đó là cái ý chí, chí nguyện thọ-trì. Sớ giải nói: "Chính tư tâm-sở gọi là khổ hạnh". 90. (7) Riêng biệt, thì có 13 khổ hạnh cho tỷ kheo, 8 cho tỷ kheo ni, 12 cho sadi, 7 cho sa di ni và tịnh nữ, 2 cho nam, nữ cư sĩ. Như vậy tất cả có 42. 91. Nếu có một nghĩa địa ở khoảng trống phù hợp với khổ hạnh ở rừng, thì một tỷ kheo có thể đồng lúc thực hiện cả 13 khổ hạnh. Nhưng 2 khổ hạnh ở rừng và không ăn tàn thực thì Luật cấm các tỷ kheo ni thực hành. Và cũng khó cho những vị này thực hành 3 khổ hạnh ở giữa trời, ở gốc cây và ở nghĩa địa, vì tỷ kheo ni không được ở 1 mình không có bạn ở chung, mà thực khó tìm được 1 người đồng một khuynh hướng thích ở 1 nơi như vậy và cho dù có 1 người, thì hành giả cũng không thoát khỏi tình-trạng phải sống chung với 1 người khác. Bởi thế, việc tu khổ hạnh của họ không đi đến đâu. Do vậy, khổ hạnh dành cho tỷ kheo ni rút lại còn 8, vì một số khổ hạnh không thể áp dụng cho nữ. 92. Trừ khổ hạnh ba y, 12 khổ hạnh kia dành cho sa di, 7 khổ hạnh (8 khổ hạnh tỷ kheo ni trừ khổ hạnh ba y) dành cho sa di ni và tịnh nữ. Hai khổ hạnh nhất tọa thực và ăn bằng bát là đặc biệt thích hợp cho nam nữ cư sĩ. Với cách ấy, có hai loại khổ hạnh. 93. Ðến đây, chấm dứt luận về những khổ hạnh được thọ trì để viên mãn các đức đặc biệt (ít muốn, biết đủ, v.v...) nhờ đó phát sinh thanh tịnh giới, như được tả trong thanh tịnh đạo, đạo lộ được chỉ rõ trong bài kệ dưới ba đề mục Giới, Ðịnh và Tuệ: Người trú giới có trí Tu tập tâm và tuệ Nhiệt tâm và thận trọng Tỷ kheo ấy thoát triền. -- (Tương ưng, i, 13) Chương này được soạn để làm hoan hỷ những người lành. -oOo- Chân thành cám ơn Tỳ kheo Giác Ðẳng đã có thiện tâm gửi tặng phiên bản điện tử (Bình Anson, 10-2000) https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbkin138.htm

Monday, May 27, 2024

Carebot

Carebot Trần Mộng Tú Bà Hishako ngồi trong một chiếc ghế khá to, chung quanh thân hình mỏng manh, bé tí, của bà bao nhiêu là gối, chăn, chèn, chắn để những cái xương của bà được bọc êm ái không chạm vào thành ghế cứng. Bà nhìn qua khung cửa kính, mảnh vườn nhỏ cuối thu ngoài kia đã bắt đầu trống trải, xơ xác, lá rụng hết rồi. Những cái cành khẳng khiu vươn ra như những cánh tay gầy không mặc áo, chúng đang chờ mùa đông tới. Ông Kentaro chồng bà, ngồi trên một chiếc xe lăn, không xa bà mấy. Tóc ông rụng gần hết, mấy sợi còn lại trắng như cước dính sát vào da đầu. Cái kính ông đeo trễ xuống chỏm mũi, ông cũng chẳng cần sửa lại. Ngoài kia có cái gì đáng ngắm đâu. “Mùa thu đã hết” - ông lẩm bẩm trong miệng. Bà không nghe thấy, mà thật ra bà cũng chẳng để ý, ông nói đến lần thứ ba, bà mới nghe rõ, bà chỉ gật đầu đáp lại. Mùa thu đã hết, mùa phơi hồng cũng chấm đứt. Bà mơ màng nhớ lại thời trẻ của hai ông bà. Chao ôi sao mà đẹp thế. Ông bà có vất vả thật. Hết làm ruộng đến trồng rau, qua làm rau thì đến đợt phơi hồng. Làm ruộng thì nhà cũng chỉ có ba sào, trồng rau thì khoảng ba mươi chiếu (*), hồng thì nhà có năm cây cổ thụ, mỗi cây cho từ hai trăm tới ba trăm trái. Ông bà có việc làm quanh năm, nhờ thế mới có tiền cho ba đứa con ăn học. Bà nhớ hồi nhỏ các con cũng phụ với ông bà xếp những trái hồng đã phơi khô vào thùng để bỏ mối. Nói đến hồng bà lại nhớ hình ảnh ông lúc còn khỏe, còn trẻ, một ngày ông hái cả ngàn quả hồng và ông luôn luôn nhớ không bao giờ hái hết, phải chừa lại một ít quả trên cây như một niềm tin cần thiết cho mùa thu hoạch năm tới được tốt đẹp, (người Nhật gọi là Kimorigaki) và để cho những chú chim ruồi mejiro có thức ăn trong mùa đông nữa. Bà nhớ là khi hai vợ chồng làm ruộng hay trồng rau, luôn luôn phải để dành một luống không gặt hết lúa, không cắt hết rau cho những con chim, con chuột đồng, con sâu, cái kiến được no lòng. Ngay cả những thân cây khô, những đống củi cũng là nơi trú ẩn cho những sinh vật nhỏ bé như con ong, con sâu, ông bà cũng không bao giờ nỡ đuổi chúng đi. Cái văn hóa tốt đẹp này của người Nhật được cả thế giới ngưỡng mộ. Bây giờ ông 88 tuổi rồi, bà kém ông 3 tuổi. Cả hai cùng mong manh yếu đuối. Kết quả của mấy chục năm làm việc đồng áng trong nắng, trong tuyết, bốn bàn tay gầy guộc co quắp lại. Cả hai ông bà không còn cầm được cái gì cho vững chắc trên tay nữa, di chuyển cũng trên cái ghế có bánh xe. Ba người con lên tỉnh học, lập gia đình rồi ở lại. Họ không thể về quê sống, vì không có công việc thích hợp với những chuyên môn kiến thức của họ. Họ cũng không mang ông bà đi được vì nhà cửa ở tỉnh chật hẹp và đắt đỏ. Ông bà vẫn sống trong căn nhà của sáu mươi năm về trước, ngôi nhà từ hồi ông bà lấy nhau. Các con có sắm sửa một ít đồ đạc cho tiện nghi đời sống như tủ lạnh và máy giặt, bếp điện. Đấy là từ mười năm về trước khi ông bà còn tự chăm sóc cho mình được. Bây giờ thì phải có người để dùng những đồ đạc tiện nghi và văn minh đó. Con cái những ngày lễ, ngày nghỉ phép thay nhau thỉnh thoảng về thăm, ở một vài ngày rồi đi. Mấy đứa cháu chơi với ông bà vài ngày cũng chán vì nhà và vườn không còn gì hấp dẫn khi không có người săn sóc và ông bà càng ngày càng chậm, đi không vững, nghe không rõ. Ba người con cùng thương cha mẹ nhưng họ không biết làm gì khác hơn. Họ cũng có thuê người mang thức ăn tới, nhưng lại không đủ tiền mướn một người làm tất cả các việc lặt vặt và ở luôn trong nhà. Cuối cùng họ chung nhau tiền mua cho ông bà một anh carebot. Anh carebot này rất giỏi, anh làm gần như đủ mọi việc, anh có thể bế ông bà từ ghế vào giường, từ giường vào nhà tắm. Anh biết sửa soạn bữa ăn cho ông bà, miễn là trong tủ lạnh hay trên kệ có sẵn thức ăn đã nấu hay đồ hộp. Bà Hishako và ông Kentaro mới đầu buồn tủi lắm, khi thấy mình được (hay bị) săn sóc bằng người máy, nhưng dần dần họ phải miễn cưỡng chấp nhận thôi. Ngoài thức ăn một tuần hai lần có người giao tới nhà, bỏ tủ lạnh cho. Tất cả các công việc khác từ hâm nóng thức ăn, bế vào giường, làm vệ sinh nhà cửa, giúp giặt giũ, tắm rửa hoàn toàn trông vào carebot. Từ ngày có carebot con cháu của ông bà hình như đến thăm ít hơn. Bà nghĩ chúng bận làm, bận học. Nhưng ông thì không nghĩ thế, ông nói : - Chúng nó giao bà với tôi cho người máy rồi. Bà an ủi ông : - Nhưng ông không thấy người máy cũng biết ôm ấp à. Thỉnh thoảng Sato (tên ông bà đặt cho carebot) chẳng ôm tôi là gì. Cứ như vậy đã ba, bốn mùa hồng đi qua, hình ảnh con cháu mờ dần trong hai cặp mắt già nua. Những mảnh đất lâu năm không ai trồng trọt, tự nó đã mọc đầy cỏ dại, những cây hồng không ai hái, trái rụng, chết mục khắp mặt đất. Hai ông bà như hai con chim già trong một cái lồng bắt đầu xiêu đổ. Ông Kentaro ra hiệu cho Sato đến đùn chiếc ghế lại gần vợ. Ông đưa bàn tay khẳng khiu của mình sang nắm bàn tay khô mốc của vợ; bà biết ông sắp muốn nói điều gì, bà nghiêng đầu dựa sát vào vai ông để nghe cho rõ. Ông nói vào tai vợ : - Tại sao văn hóa của người Nhật đối với thiên nhiên tốt đẹp như thế ! Họ chia mùa màng cho chim chóc, muông thú, sự quan tâm tối đa. Sao họ lại để cho những mảnh kim loại, những thiết bị điện tử săn sóc cha mẹ họ. Khi các con còn nhỏ tôi với bà thay nhau bế ẵm, thay nhau cho con bú mớm. Con khỏe mạnh mình cười, con ốm đau mình khóc. Mình có giao cho ai đâu, thậm chí con chó, con mèo chơi với con cũng phải ngay bên cạnh mình. Bây giờ tôi với bà có chết trong nhà này thì anh Sato chắc là chạy chung quanh mình kêu bíp bíp… Anh ta sẽ kêu hoài như thế cho tới khi chị Junko mang thức ăn tới, có thể là ba hay bốn ngày hôm sau. Bà im lặng nghe ông nói, không biết trả lời thế nào. Bà nhớ khi anh con trai trưởng mang Sato tới cho ông bà, anh có nói : - Cha mẹ đừng lo sợ gì, có carebot là như có con ở bên cạnh, anh ta làm hết được mọi việc, có khi còn giỏi hơn con nữa. Mà cha mẹ có biết không, bây giờ thanh niên Nhật họ lười cưới “vợ người” lắm, họ chỉ cần mua một cô vợ robot về là được đủ việc và chỉ tốn tiền có một lần thôi. Họ sẽ không cần phải làm việc nhiều để nuôi gia đình như con bây giờ đâu. Bà nhớ là bà đã hốt hoảng nhìn xem cô con dâu có đứng gần đó không ? Cô đó nhạy cảm lắm, nghe được thì gia đình sẽ mất vui. May quá, cô ấy đang chuyện trò gì đó với hai đứa con. Khi con cháu ra về hết để lại anh Sato, ông bà cũng mất cả tuần lễ mới quen với cách đi đứng, cách chăm sóc của anh. Bây giờ dù muốn hay không ông bà cũng phải chấp nhận sự hiện diện của anh. Không như chồng, lúc nào cũng than phiền là anh ta bằng máy, những va chạm của anh cứng ngắc, anh ta không có cảm xúc khi chăm sóc mình. Bà Hisako mỗi lần nhận được điều gì của anh, bà cố hình dung ra anh là người bằng xương bằng thịt. Thậm chí khi anh bế bà từ ghế vào giường bà nghe được cả hơi thở và nhịp tim anh đập. Bà có tưởng tượng thái quá không ? Chị Junko mang thức ăn nấu sẵn tới như thường lệ, chị cất thức ăn vào tủ lạnh rồi đi tìm Sato. Chị cũng có bổn phận kiểm soát lại Sato mỗi khi chị đến, xem chức năng phục vụ của anh có cần điều chỉnh lại không ? Căn nhà im ắng quá, thật ra cả ba người này có bao giờ gây tiếng động to nào đâu. Chị đi từ nhà ngoài vào tận buồng ngủ của ông bà mới gặp cả ba người. Trên hai chiếc giường nhỏ kê song song cạnh nhau. Bà Hisako và ông Kentaro nằm như ngủ, nằm rất thẳng thắn trên gối và chăn đáp ngang ngực. Sato đứng gập người, như cúi lạy dưới chân giường của hai người. Chị đến gần, áp mặt mình vào mặt bà, rồi lại áp sang mặt ông. Cả hai đều không còn thở nữa. Chị chạm tay mình lên vai Sato, anh ta không có phản ứng nào, không phát ra tiếng động nào, hình như anh cũng đã “chết”. Junko lặng lẽ đi ra khỏi nhà, khép rất nhẹ cánh cửa lại sau lưng mình. Hành động của chị như một người máy. Trần Mộng Tú

Why Caravaggio was as shocking as his paintings

https://www.bbc.com/culture/article/20161010-why-caravaggio-was-a-shocking-as-his-paintings Why Caravaggio was as shocking as his paintings 11 October 2016 By Alastair Sooke,Features correspondent
https://ichef.bbci.co.uk/images/ic/1024xn/p04blqx2.jpg.webp Michelangelo Merisi da Caravaggio/Wikipedia Caravaggio’s revolutionary style influenced everyone from modern photographers to Scorsese – but his life was just as provocative as his paintings, writes Alastair Sooke. Is any artist’s biography more compelling than the life of the Italian painter Michelangelo Merisi da Caravaggio (1571-1610)? He has a reputation, of course, as the rebellious, hot-tempered punk of art history, pitching up in Rome in the final decade of the 16th Century, and electrifying the art world as much for his quarrelsome antics as his unconventional pictures. According to one early biographer, the Flemish writer Karel van Mander, Caravaggio used to work intensively for a fortnight and then “swagger about for a month or two with a sword at his side … from one tennis-court to the next, ever ready to engage in a fight or an argument, with the result that it is most difficult to get along with him”. In the early years of the 17th Century, he was brought to trial on at least 11 occasions Not half: in the early years of the 17th Century, he was brought to trial on at least 11 occasions. The charges included swearing at a constable, penning satirical verses about a rival painter, and chucking a plate of artichokes in a waiter’s face. And then, in 1606, he was forced to flee Rome, after killing a man during a brawl sparked by a dispute over a game of tennis. He spent the rest of his life on the run, before he collapsed and died, in the summer of 1610, while travelling back to Rome to seek a pardon from the pope.
https://ichef.bbci.co.uk/images/ic/1024xn/p04blr6p.jpg.webp Michelangelo Merisi da Caravaggio/Wikipedia The Calling of St Matthew is one of two large canvasses that turned Caravaggio into a star overnight (Credit: Michelangelo Merisi da Caravaggio/Wikipedia) As for his paintings, well, they were just as provocative as the man who created them. According to Letizia Treves, the curator of Beyond Caravaggio, a new exhibition at the National Gallery in London exploring the dramatic influence of the Italian painter upon 17th-Century art, Caravaggio revolutionised art history in several ways. First, he used models in an unorthodox and novel manner – pulling into his studio people from the streets whom he then painted directly from life. “Artists had always drawn from life,” Treves explains, “but no one posed their models and painted directly from life onto their final canvas. Caravaggio didn’t bother with the academic study of drawing. He skipped that stage because he believed in the importance of looking at nature.” This resulted in paintings remarkable for their striking, in-your-face realism, which captured even the humblest details: if the model had dirty fingernails, for instance, then Caravaggio would paint them.
The National Gallery, London A rose and sprig of jasmine inside a glass vase beside some cherries are placed prominently in the foreground in Boy Bitten by a Lizard (Credit: The National Gallery, London) A corollary of this was that Caravaggio lavished as much attention on inanimate objects as he did on people: look, for instance, at the magnificent still life – a rose and sprig of jasmine inside a glass vase, beside some cherries – placed prominently in the foreground Boy Bitten by a Lizard from the National Gallery’s own collection. “He really elevated still life, which was the lowest genre,” Treves continues. “He is said to have remarked that painting still life requires as much artistry as painting figures. That was really revolutionary.” Light and shade Caravaggio’s second big innovation, meanwhile, was his use of light. “That’s what he’s most famous for,” says Treves. “It’s what the biographers talk about – that he wouldn’t allow anyone to pose in daylight, that he had light shine from above. He used light to capture form, create space, and add drama to otherwise everyday scenes.” The Supper at Emmaus, also in the National Gallery, is a case in point. At supper one evening shortly after the crucifixion, two of Jesus’s disciples suddenly realise that their dinner companion is in fact the resurrected Christ. “It’s a moment of revelation, and the light underpins that narrative,” Treves says. “So Caravaggio uses light in an emblematic way, not just as theatre. It’s very sophisticated.”
https://ichef.bbci.co.uk/images/ic/1024xn/p04bls8k.jpg.webp The National Gallery, London The Supper at Emmaus shows how Caravaggio used light to capture form and add drama (Credit: The National Gallery, London) This combination of realism and dramatic lighting resulted in exceptionally powerful storytelling. “Caravaggio made these Biblical stories so vivid,” Treves says. “He brought them into his own time – and he involves you, so that you don’t just passively watch. Even today, you don’t need to know the story of The Supper at Emmaus in order to feel involved in the drama.” John Ruskin castigated Caravaggio for his ‘vulgarity’, ‘dullness’, and ‘impiety’ Beyond Caravaggio explores the impact of the Italian’s art upon his contemporaries and followers. ‘Caravaggio mania’ raged across Europe in the early decades of the 17th Century, as wealthy patrons competed to buy his pictures, and artists emulated, or simply ripped off, his distinctive style. The National Gallery’s exhibition offers a chance to consider the varying talents of these artists, including the Dutchmen Dirck van Baburen and Gerrit van Honthorst, as well as the French painter Valentin de Boulogne, who are often grouped together as ‘Caravaggists’. The curious thing is that by the middle of the 17th Century, the vogue for painting in the manner of Caravaggio had passed. “There was a real shift in taste back to classicism,” explains Treves. “And the naturalistic way of painting that Caravaggio had introduced was seen as the antithesis of that noble tradition of painting going back to Raphael.” It would take almost three centuries before Caravaggio’s reputation rose again. To give you a sense of how low his stock tumbled, consider The Supper at Emmaus: the only reason that it ended up in the National Gallery in 1839 was because its owner had failed to sell the painting at auction eight years earlier. The important 19th-Century British art critic John Ruskin castigated Caravaggio for his “vulgarity”, “dullness”, and “impiety”, and lamented the fact that the Italian had supposedly overlooked beauty in favour of “horror and ugliness, and filthiness of sin”. Ouch. ‘Hookers and hustlers’ Things changed, though, during the 20th Century, when Caravaggio came back into fashion – largely as a result of a ground-breaking monographic exhibition staged by the art historian Roberto Longhi in Milan in 1951. Following his return to prominence, Caravaggio once more began to inspire artists in various fields. Unsurprisingly, perhaps, his use of light had a big influence upon film-makers and photographers. The photographer David LaChapelle, for instance, has spoken about the “really big impact” that Derek Jarman’s film Caravaggio (1986) had upon him. Inspired to find out more about him, LaChapelle discovered that Caravaggio had painted “the courtesans and the street people, the hookers and the hustlers”. This in turn informed his own photographic series Jesus Is My Homeboy, which featured people from the street dressed in modern clothing.
https://ichef.bbci.co.uk/images/ic/1024xn/p04blrfz.jpg.webp Cinevista Derek Jarman’s film Caravaggio (1986) featured Dexter Fletcher as the young artist – David LaChapelle has sited it as an influence (Credit: Cinevista) Even the film director Martin Scorsese admires Caravaggio. Quoted in Andrew Graham-Dixon’s Caravaggio: A Life Sacred and Profane, Scorsese says: “I was instantly taken by the power of [Caravaggio’s] pictures … You come upon the scene midway and you’re immersed in it … It was like modern staging in film: it was so powerful and direct. He would have been a great filmmaker, there’s no doubt about it.” According to Scorsese, the bar sequences in Mean Streets (1973) were a direct homage to Caravaggio: “It’s basically people sitting in bars, people at tables, people getting up. The Calling of St Matthew [one of two large canvases that Caravaggio painted for the Contarelli Chapel in the church of San Luigi dei Francesi in Rome, which turned him into a star almost overnight], but in New York! Making films with street people was what it was really about, like he made paintings with them.” He would have been a great filmmaker, there’s no doubt about it – Martin Scorcese Visual artists, too, are once again making work directly inspired by Caravaggio. Two years ago, the British artist Mat Collishaw staged Black Mirror, an exhibition at the Galleria Borghese in Rome that responded to its exquisite collection. Three of the works consisted of highly ornate black picture frames surrounding dark mirrors reflecting back the surrounding galleries. Within each mirror it was possible to make out a flickering simulacrum of a famous painting by Caravaggio in the Galleria Borghese.
Alamy According to Scorsese, the bar scenes in Mean Streets are a direct homage to Caravaggio (Credit: Alamy) “I wanted to go back to the moment when Caravaggio was immortalising the humble models in front of him – turning them from living, breathing human beings into icons of Western painting,” Collishaw explains. “Appearing from behind the mirror is this shimmering image of a man or a woman holding a slightly jittery pose, a chimerical spirit-presence coming back to haunt you through the mirror.” This spectral effect imbued Collishaw’s black mirrors with a kind of sinister sorcery. They looked like they should be hanging in a necromancer’s hideaway rather than a gallery. According to Collishaw, the dark backgrounds of Caravaggio’s paintings allowed him to achieve the subtle effects he had in mind. Yet Collishaw also says that Caravaggio has inspired him throughout his life. He passionately believes that Caravaggio still matters in the 21st Century. “He’s one of those artists you don’t need to read about and study because, as a painter, he’s so visceral: he just hits you right there,” he explains. “When Caravaggio was painting, the common people weren’t going to church looking for lessons in aesthetics and art history. They just wanted a relationship with God. And Caravaggio gave it to them in a language they could understand. He’s so brutally real. He doesn’t embellish or decorate things, but gives you life as it is – with dirty feet right in your face.” Today, Collishaw says, Caravaggio’s tempestuous character is almost as important – as the template for the volatile, anti-bourgeois artist – as his art. “It’s not just what he painted but who he was,” he explains. “He was a man of the night. He used to wander around in the shadows with his cutlass hanging from him, drinking and fighting alongside prostitutes and petty criminals. I think of Francis Bacon stalking Soho at night in the ‘50s.” Collishaw pauses. “Who isn’t influenced by Caravaggio? The immediacy of his paintings is something that I and a lot of other artists have responded to. They just seem so contemporary.” Alastair Sooke is Art Critic and Columnist for The Daily Telegraph Related Links: https://www.bbc.com/news/world-europe-56675290
• Caravaggio - whose real name was Michelangelo Merisi - was born in 1571 or 1573 and had a violent and chaotic life, dying in mysterious circumstances at the age of 38. • He pioneered the Baroque painting technique known as chiaroscuro, in which light and shadow are sharply contrasted. • He was famed for starting brawls, often ended up in jail, and even killed a man. • He was allegedly on his way to Rome to seek a pardon when he died, having spent the last few years of his life fleeing justice in southern Italy. More: https://www.bbc.com/news/uk-england-oxfordshire-50131570 The art of hunting down stolen treasures 15 November 2019 By Michael Race,BBC News

Saturday, May 4, 2024

North Korean weapons are killing Ukrainians

https://www.bbc.com/news/world-asia-68933778 North Korean weapons are killing Ukrainians. The implications are far bigger 4 hours ago By Jean Mackenzie,Seoul correspondent On 2 January, a young Ukrainian weapons inspector, Krystyna Kimachuk, got word that an unusual-looking missile had crashed into a building in the city of Kharkiv. She began calling her contacts in the Ukrainian military, desperate to get her hands on it. Within a week, she had the mangled debris splayed out in front of her at a secure location in the capital Kyiv. Ms Kimachuk works for Conflict Armament Research (CAR), an organisation that retrieves weapons used in war, to work out how they were made. But it wasn't until after she had finished photographing the wreckage of the missile and her team analysed its hundreds of components, that the most jaw-dropping revelation came. It was bursting with the latest foreign technology. Most of the electronic parts had been manufactured in the US and Europe over the past few years. There was even a US computer chip made as recently as March 2023. This meant that North Korea had illicitly procured vital weapons components, snuck them into the country, assembled the missile, and shipped it to Russia in secret, where it had then been transported to the frontline and fired - all in a matter of months. "This was the biggest surprise, that despite being under severe sanctions for almost two decades, North Korea is still managing to get its hands on all it needs to make its weapons, and with extraordinary speed," said Damien Spleeters, the deputy director at CAR.

Photos of the Moon

https://ichef.bbci.co.uk/news/1024/cpsprodpb/503f/live/3a0331d0-070a-11ef-bee9-6125e244a4cd.jpg.webp Bruce Carrington: “In this tranquil image of Druridge Bay at low tide, the wet sands shimmer in the reflected moonlight. The lights of Blyth can be seen on the horizon.” https://ichef.bbci.co.uk/news/1024/cpsprodpb/1cc4/live/15dd3260-070a-11ef-b2ce-15f024debdd3.jpg.webp Gary Peck: “Autumn on the Hunter River in New South Wales, Australia. Doing it easy, watching whatever passes by.” https://ichef.bbci.co.uk/news/1024/cpsprodpb/a9d6/live/f3ba2ee0-0709-11ef-82e8-cd354766a224.jpg.webp Dusty Danis: “I waited patiently for the moon to fall to this small gap in the trees. Once it arrived in the location where I wanted, it was time to wait for a vehicle to come down the road. Not many vehicles travel here, so I got lucky with this one.” https://ichef.bbci.co.uk/news/1024/cpsprodpb/5114/live/5dedaee0-070a-11ef-82e8-cd354766a224.jpg.webp Kevin Miller: “Peeking through a stormy night, South Jersey, USA” https://ichef.bbci.co.uk/news/1024/cpsprodpb/bcb3/live/a0055cd0-070d-11ef-b2ce-15f024debdd3.jpg.webp Hannah Hinton: “I took this photo in Manang on the Annapurna Circuit in Nepal, the halfway point of our trek. We were up early in the freezing cold but it was so worth it for views like this.”