Chánh niệm là
ghi nhận, là
chú tâm đúng,
trọn vẹn,
toàn diện, chân xác đối tượng, bất kể đối tượng ấy đẹp hay xấu, méo hay tròn, thiện hay ác....
Chánh niệm rốt ráo là thả cái
thân tâm xuống như nó là ...
Chánh niệm là
trở lại với
thân tâm, là
an lập (đặt yên xuống)
thực tại thân-thọ-tâm-pháp....
chánh niệm đại biểu cho nhóm tâm (niệm, định), và
tỉnh giác đại biểu cho nhóm trí (kiến,
tư duy).
Đôi chỗ
đức Phật không cần nói
tinh tấn hay
tinh cần vì trong niệm và
tỉnh giác đã có sẵn “liễu liễu thường tri” nói như Tổ
Huệ Khả thì đã có
tinh cần rồi. Vậy niệm và
tỉnh giác đủ
đại biểu cho
Đạo Đế,
sự thật về
con đường diệt khổ.
HIỂU CHÁNH NIỆM CHO ĐÚNG
Hòa thượng Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh).
Từ trước
đến nay, trên sách báo, tạp chí, trong nhiều băng giảng,
cho đến chư vị
thiền sư, nhà
nghiên cứu đó đây, ai cũng nói đến
chánh niệm, và lại
nói nhiều cách khác nhau.
Giả dụ như, có vị nói:
Chánh niệm là
tỉnh thức trong giây phút hiện tại! Nếu lập ngôn như vậy, thì
chánh niệm đồng nghĩa với tỉnh thức còn gì? Tại sao họ không
để ý rằng, nếu niệm,
chú tâm (sati)
liên tục, gắn khít nhất điểm
liên tục thì nó sẽ đưa đến định? Và định thì đâu thuộc
phạm trù của
tỉnh thức,
tỉnh giác là
chức năng của tuệ!? Đây là
sai lầm thứ nhất.
Trường hợp khác, có người nói:
Chánh niệm là biết rõ
hơi thở vào ra, dài ngắn như thế nào. Nếu nói như
vậy thì chánh niệm đồng nghĩa với tuệ tri, vì
tuệ tri là thấy rõ, biết rõ!? Đây là
sai lầm thứ hai.
Có người lại nói:
Chánh niệm là sự
tỉnh giác, không quên niệm, biết rõ các pháp một cách
trọn vẹn. Nói như thế thì hóa ra
chánh niệm đồng nghĩa với biết rõ - tức là
tỉnh giác hay tuệ tri!? Đây là
sai lầm thứ ba.
Rồi còn có người nói nghe khá
chính xác:
Chánh niệm là
quán thân thọ
tâm pháp. Nói
vậy thì chánh niệm đồng nghĩa với quán,
chức năng của tuệ, của
minh sát còn gì? Đây là
sai lầm thứ tư.
Có người đi
xa hơn:
Chánh niệm giúp ta kết nối với
mọi người xung quanh. Kết nối như thế nào nhỉ? Kết nối thì phải có một cái tâm khởi đi, nó mới
duyên sanh được? Ai biết thì làm ơn chỉ bày giùm cho tôi với, chỗ này tôi chịu. Đây là
sai lầm thứ năm.
Có người nói nghe rất “tư tưởng”, rất hay:
Chánh niệm giúp
nhận diện niềm đau, nổi khổ và
chuyển hóa chúng. Nếu nói như
vậy thì chánh niệm đồng nghĩa với nhận diện.
Nhận diện là
chức năng của
chánh tư duy và
chánh kiến; lại nữa,
chánh niệm chỉ mới
để yên thân thọ
tâm pháp, chưa làm gì cả, và nó không có
nhiệm vụ “chuyển hóa” khổ đau.
Chuyển hóa là biến cái này ra cái khác, đây là
nỗ lực của
hữu vi tâm, nó chỉ có khả năng
đối trị tạm thời,
tình thế. Còn
vấn đề diệt khổ nó lại
hoàn toàn khác. Chỉ khi thấy rõ như thực,
chức năng của giác trí (bodhiñāṇa) hay
tuệ giác (sambodhi) biết rõ như thực
nguyên nhân khổ thì khổ mới tự diệt, như ánh sáng đến thì bóng tối tự lui (chứ không thể nói ánh sáng diệt bóng tối). Đây là
sai lầm thứ sáu.
Muốn
hiểu rõ tất cả những điều ấy, những
sai lầm ấy, xin các bạn
chịu khó một chút nữa.
Chịu khó nghe thêm ngữ nghĩa của
chánh niệm.
Chánh niệm được dịch từ sammā sati. Sati là niệm. Niệm do người Tàu dịch, và không biết tại sao họ lại dịch đúng với từ sati trong pháp
hiện quán. Niệm, chữ Hán viết, ở trên là bộ kim, ở dưới là chữ tâm. Kim là
hiện tại; vậy, niệm là (tâm) ghi nhớ những gì đang xảy ra trong
hiện tại. Còn trong nghĩa Pāḷi thì sati có mấy
nghĩa tương đối
chính xác: Sự nhớ, ghi nhớ,
ghi nhận - còn
ngoài ra, nhiều nghĩa khác thì đi quá xa.
Thế còn sammā? Ai cũng dịch sammā là chánh, chơn, đúng... Do vậy ai
cũng hiểu sammāsati là niệm cái chơn, cái chánh, cái đúng; hoặc ghi nhớ,
ghi nhận,
chú tâm cái chơn, cái chánh, cái đúng. Nhưng bây giờ
chúng ta thử hỏi, cái gì là chơn, là chánh, là đúng trên
cuộc đời này? Thế cái xấu, cái ác, cái không phải chánh chơn, người học Phật không ghi nhớ, không
ghi nhận
hay sao? Thật ra, sammā còn nhiều nghĩa khác nữa mà tiếng Hán, tiếng
Việt không nói ra hết được. Sammā không những có nghĩa chánh, chơn, mà
còn có nghĩa
đúng đắn, một cách
đúng đắn,
thích hợp, một cách
hoàn toàn,
toàn diện...
Hoàn toàn,
toàn diện,
trọn vẹn... có nghĩa là nó như thế nào thì chụp bắt
trọn vẹn nó như thế, không chia chẻ, phân tích, không đưa xen cảm tính và
tư duy chủ quan của mình vào. Vậy đến đây, tạm thời ta có một định nghĩa về
chánh niệm tương đối đầy đủ nhất:
Chánh niệm là
ghi nhận, là
chú tâm đúng,
trọn vẹn,
toàn diện, chân xác đối tượng, bất kể đối tượng ấy đẹp hay xấu, méo hay tròn, thiện hay ác.
Tuy nhiên dù định nghĩa
chính xác cách nào thì nó cũng chỉ là những khái niệm
trừu tượng. Làm sao bây giờ? Làm sao ta có thể có ví dụ
cụ thể để biết, để thấy
chánh niệm nhỉ? Tôi nhớ có lần ở
đâu đó, tôi có đưa ví dụ người canh cửa. Người canh cửa thì ai đi vô, đi ra thì anh phải ghi nhớ,
ghi nhận. Đúng rồi,
chánh niệm là người đứng canh cửa
thân tâm. Cái gì, pháp nào đi vô, đi ra
thân tâm đều phải đi qua anh
chánh niệm, vì anh là người đứng canh cửa. Anh ta chỉ đứng nơi cửa và canh chừng thôi. Anh chỉ việc đứng đấy và
ghi nhận,
chú tâm trọn vẹn ở đấy.
Nhiệm vụ của anh chỉ có vậy - đừng có làm cái phận việc “thấy rõ, biết rõ hoặc
phân biệt người này và người kia”.
Tại sao vậy? Vì thấy rõ biết rõ là
chức năng của người khác, là bổn phận của anh chánh kiến! Còn
phân biệt đàn ông, đàn bà, kẻ
xấu người tốt lại là
chức năng, bổn phận của anh chánh tư duy! Thấy chưa, các bạn thấy chưa? Ai có phần việc nấy, không
lẫn lộn với nhau được.
Ta có thể có một ví dụ khác.
Có người cầm cái kiếng để soi mặt mình. Muốn thấy mặt mình cho
rõ ràng thì cái kiếng phải được cầm cho
vững vàng, không nghiêng chao thì
hình ảnh hiện ra mới
chân thực.
Vững vàng, không nghiêng chao là phần việc của
chánh niệm vì niệm đưa đến định, còn thấy rõ, biết rõ thì mặt kiếng tự
phản ảnh chân xác, là của
chánh kiến.
Đến đây ta có thể thấy rõ
sự thật, là khi có
chánh niệm –
chánh niệm trọn vẹn - thì tức khắc,
chánh kiến khởi sanh. Đây là chỗ mà tôi gọi là “chánh niệm rốt ráo” vì nó có luôn cả
chánh kiến.
Đến đây,
chúng ta đã hiểu rằng:
Chánh niệm rốt ráo là thả cái
thân tâm xuống như nó là ...
Chánh niệm là
trở lại với
thân tâm, là
an lập (đặt yên xuống)
thực tại thân-thọ-tâm-pháp.
Tại đây tôi
chợt nhớ đến
yếu chỉ thiền của
Bách Trượng Hoài Hải mà sau này,
Vô Ngôn Thông kế thừa:“Tâm địa nhược không,
tuệ nhật tự chiếu!”.
Thân tâm cứ
để yên, thả xuống,
để yên như ly nước đặt xuống bàn, đừng khởi tư tác gì cả, thì
lúc ấy được gọi là “không”, vì
lúc ấy không có
tham sân si, không có
vô tham vô sân vô si tác động (không có 6 nhân, theo Abhidhamma). Và
lúc ấy thì “tuệ nhật tự chiếu”. Không có gì
rõ ràng hơn thế nữa.
Khi các đối tượng thân thọ
tâm pháp được
chánh niệm an lập rồi,
chánh kiến xuất hiện, nhìn ngắm như thực, thấy biết như thực, hoặc như tánh
tri kiến (yathābhūta ñāṇadassana), mà
thiền tông gọi là “kiến tánh” thì tốt xấu,
thiện ác, thanh trược đều là thực tánh pháp (paramattha-dhamma), tên gọi khác của
Không Tánh (
thực tướng là
vô tướng tất cả tướng) thì những cái gọi là tham sân, thương ghét của
chúng ta mới
ảo hóa, mộng, đốm “như thực” làm sao!
Nói
tóm lại, thưa các bạn, trong
Bát Chánh Đạo, khi ta có Ngữ, Nghiệp, Mạng
tương đối “đàng hoàng” rồi, ta chỉ cần
sử dụng tinh tấn,
chánh niệm và tỉnh giác để
lên đường thôi. Vì
chánh niệm đại biểu cho nhóm tâm (niệm, định), và
tỉnh giác đại biểu cho nhóm trí (kiến,
tư duy).
Đôi chỗ
đức Phật không cần nói
tinh tấn hay
tinh cần vì trong niệm và
tỉnh giác đã có sẵn “liễu liễu thường tri” nói như Tổ
Huệ Khả thì đã có
tinh cần rồi. Vậy niệm và
tỉnh giác đủ
đại biểu cho
Đạo Đế,
sự thật về
con đường diệt khổ. Niệm và
Tỉnh giác đại biểu cho
Bát Chánh Đạo; nó là hành trang, là
tư lương để
chúng ta trở lại quê nhà.
-------------
Trích:
Minh Đức Triều
Tâm Ảnh (Sīlaguṇa-Mahāthera), NHẶT LÁ RỪNG XƯA, Tủ sách
Huyền Không Sơn Thượng, Huế (Phật lịch 2558 – 2015)
Source: