Friday, March 15, 2019

Chàng Tuổi Trẻ Goodman Brown (8) Truyện ngắn của Nathaniel Hawthorne (1804-1864)


Chàng không biết Faith có nghe lời chàng hay không.  Nói xong chàng thấy mình đang ở giữa đêm đen tĩnh mịch, đang lắng nghe tiếng gió gầm gừ, nặng nề tan biến vào khu rừng.  Chàng loạng choạng tựa vào tảng đá, và cảm thấy nó vừa lạnh vừa ẩm; khi ấy một cành cây nãy giờ vẫn cháy rắc lên má chàng những hạt sương lạnh giá. 
Sáng hôm sau chàng thanh niên Goodman Brown chậm chạp đi trên con đường làng Salem, trừng mắt nhìn chung quanh chàng như kẻ thất thần.Vị giáo sĩ già hiền từ đang thả bộ dọc theo nghĩa địa để ăn sáng thấy ngon miệng hơn, vừa đi ông vừa nghiền ngẫm bài giảng của mình; khi đi ngang, ông làm dấu ban phước lành cho Goodman Brown.  Chàng vội vàng tránh vị khả kính thánh thiện ấy như tránh kẻ mình không ưa. Vị phó tế Gookin đang hành lễ trong một nhà dân, và người ta có thể nghe những lời cầu nguyện hiền lành của ông vang ra từ cửa sổ.  Goodman Brown nói: “Tên phù thủy đó cầu nguyện Thượng đế nào thế?”  Goody Cloyse, tín hữu Ky Tô  già xuất chúng, đang đứng dưới nắng sớm nơi khung mắc cáo, giảng giáo lý cho cô bé đem bình sữa sáng đến cho bà.  Goodman Brown liền kéo đứa bé đi như thể kéo nó ra khỏi bàn tay ma quỷ. Khi chàng rẽ vào góc đường cạnh bên nhà tụ họp dân làng, chàng nhìn thấy mái đầu của Faith, với những dây nơ hồng, đang lo lắng nhìn về phía trước, và khi thấy bóng chàng, nàng vui mừng quá, liền chạy nhanh ra ngoài đường và suýt nữa nàng đã hôn chàng trước mặt làng xóm. Nhưng Goodman Brown nhìn vào mặt nàng một cách thật ghiêm khắc và buồn bã, rồi đi tiếp mà không chào hỏi nàng gì cả. 

Phải chăng Goodman Brown đã ngủ quên trong rừng và chỉ nằm mơ một giấc mơ ngông cuồng về buổi họp mặt của các phù thủy?  

Nếu bạn đọc muốn, xin cứ nghĩ như vậy; nhưng trời ơi, đối với Goodman Brown đó lại là một giấc mơ về điềm xấu xa tàn ác.  Kể từ đêm nằm mộng thấy điều kinh hoàng đó, chàng bỗng trở thành một người nghiêm khắc, buồn bã, trầm tư một cách bí hiểm, một người không tin ai, nếu không muốn nói là tuyệt vọng.  Vào ngày Sa bát, khi cộng đoàn đang hát bài thánh ca, chàng không thể lắng nghe được bài hát ấy vì một bài đầy tội lỗi khác đã ùa vào tai chàng làm át cả âm điệu thánh ca.  Khi vị giáo sĩ từ trên bục cất tiếng giảng đạo hùng hồn, đầy nhiệt huyết, tay đặt trên quyển Thánh kinh đang mở ra, rao giảng về những sự thật thiêng liêng của tôn giáo chúng ta, về cuộc đời của các vị thánh sống và cái chết của các vị tử đạo, về tương lai tràn đầy ân phúc hay khốn khổ cùng cực, thì Goodman Brown mặt mày tái xanh, nơm nớp lo sợ mái nhà sẽ đổ sập xuống đầu kẻ phỉ báng Chúa già nua kia cùng đám người đang ngồi nghe.  Nửa đêm Goodman Brown thường bất ngờ thức dậy, tránh né người vợ của mình; và vào buổi sáng hay chiều tối, khi cả nhà quỳ gối cầu nguyện, chàng lại cau mày, lầm bầm trong miệng, nhìn vợ một cách nghiêm khắc, rồi quay đi.  Đến cuối đời, khi chỉ là một xác chết già nua được người ta đem đi mai táng, theo sau  là Faith, một người đàn bà luống tuổi, cùng lũ con cháu –một đám tang khá trang nghiêm, có vài người hàng xóm tháp tùng – người ta không hề khắc lên bia mộ của Goodmn Brown một lời hy vọng nào vì ông qua đời vào giờ quỷ ám. 
                                                    
1835                                                  
                                                                                                                                                                  

Monday, March 11, 2019

Chánh Niệm (Sammā Sati)

Chánh niệmghi nhận, là chú tâm đúng, trọn vẹn, toàn diện, chân xác đối tượng, bất kể đối tượng ấy đẹp hay xấu, méo hay tròn, thiện hay ác....Chánh niệm rốt ráo là thả cái thân tâm xuống như nó là ... Chánh niệmtrở lại với thân tâm, là an lập (đặt yên xuống) thực tại thân-thọ-tâm-pháp....chánh niệm đại biểu cho nhóm tâm (niệm, định), và tỉnh giác đại biểu cho nhóm trí (kiến, tư duy). Đôi chỗ đức Phật không cần nói tinh tấn hay tinh cần vì trong niệm và tỉnh giác đã có sẵn “liễu liễu thường tri” nói như Tổ Huệ Khả thì đã có tinh cần rồi. Vậy niệm và tỉnh giác đủ đại biểu cho Đạo Đế, sự thật về con đường diệt khổ.



HIỂU CHÁNH NIỆM CHO ĐÚNG
Hòa thượng Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh).

Từ trước đến nay, trên sách báo, tạp chí, trong nhiều băng giảng, cho đến chư vị thiền sư, nhà nghiên cứu đó đây, ai cũng nói đến chánh niệm, và lại nói nhiều cách khác nhau.


Giả dụ như, có vị nói: Chánh niệmtỉnh thức trong giây phút hiện tại! Nếu lập ngôn như vậy, thì chánh niệm đồng nghĩa với tỉnh thức còn gì? Tại sao họ không để ý rằng, nếu niệm, chú tâm (sati) liên tục, gắn khít nhất điểm liên tục thì nó sẽ đưa đến định? Và định thì đâu thuộc phạm trù của tỉnh thức, tỉnh giácchức năng của tuệ!? Đây là sai lầm thứ nhất.
Trường hợp khác, có người nói: Chánh niệm là biết rõ hơi thở vào ra, dài ngắn như thế nào. Nếu nói như vậy thì chánh niệm đồng nghĩa với tuệ tri, vì tuệ tri là thấy rõ, biết rõ!? Đây là sai lầm thứ hai.
Có người lại nói: Chánh niệm là sự tỉnh giác, không quên niệm, biết rõ các pháp một cách trọn vẹn. Nói như thế thì hóa ra chánh niệm đồng nghĩa với biết rõ - tức là tỉnh giác hay tuệ tri!? Đây là sai lầm thứ ba.
Rồi còn có người nói nghe khá chính xác: Chánh niệmquán thân thọ tâm pháp. Nói vậy thì chánh niệm đồng nghĩa với quán, chức năng của tuệ, của minh sát còn gì? Đây là sai lầm thứ tư.
Có người đi xa hơn: Chánh niệm giúp ta kết nối với mọi người xung quanh. Kết nối như thế nào nhỉ? Kết nối thì phải có một cái tâm khởi đi, nó mới duyên sanh được? Ai biết thì làm ơn chỉ bày giùm cho tôi với, chỗ này tôi chịu. Đây là sai lầm thứ năm.
Có người nói nghe rất “tư tưởng”, rất hay: Chánh niệm giúp nhận diện niềm đau, nổi khổ và chuyển hóa chúng. Nếu nói như vậy thì chánh niệm đồng nghĩa với nhận diện. Nhận diệnchức năng của chánh tư duychánh kiến; lại nữa, chánh niệm chỉ mới để yên thân thọ tâm pháp, chưa làm gì cả, và nó không có nhiệm vụ “chuyển hóa” khổ đau. Chuyển hóa là biến cái này ra cái khác, đây là nỗ lực của hữu vi tâm, nó chỉ có khả năng đối trị tạm thời, tình thế. Còn vấn đề diệt khổ nó lại hoàn toàn khác. Chỉ khi thấy rõ như thực, chức năng của giác trí (bodhiñāṇa) hay tuệ giác (sambodhi) biết rõ như thực nguyên nhân khổ thì khổ mới tự diệt, như ánh sáng đến thì bóng tối tự lui (chứ không thể nói ánh sáng diệt bóng tối). Đây là sai lầm thứ sáu.
Muốn hiểu rõ tất cả những điều ấy, những sai lầm ấy, xin các bạn chịu khó một chút nữa. Chịu khó nghe thêm ngữ nghĩa của chánh niệm.
Chánh niệm được dịch từ sammā sati. Sati là niệm. Niệm do người Tàu dịch, và không biết tại sao họ lại dịch đúng với từ sati trong pháp hiện quán. Niệm, chữ Hán viết, ở trên là bộ kim, ở dưới là chữ tâm. Kim là hiện tại; vậy, niệm là (tâm) ghi nhớ những gì đang xảy ra trong hiện tại. Còn trong nghĩa Pāḷi thì sati có mấy nghĩa tương đối chính xác: Sự nhớ, ghi nhớ, ghi nhận - còn ngoài ra, nhiều nghĩa khác thì đi quá xa.
Thế còn sammā? Ai cũng dịch sammā là chánh, chơn, đúng... Do vậy ai cũng hiểu sammāsati là niệm cái chơn, cái chánh, cái đúng; hoặc ghi nhớ, ghi nhận, chú tâm cái chơn, cái chánh, cái đúng. Nhưng bây giờ chúng ta thử hỏi, cái gì là chơn, là chánh, là đúng trên cuộc đời này? Thế cái xấu, cái ác, cái không phải chánh chơn, người học Phật không ghi nhớ, không ghi nhận hay sao? Thật ra, sammā còn nhiều nghĩa khác nữa mà tiếng Hán, tiếng Việt không nói ra hết được. Sammā không những có nghĩa chánh, chơn, mà còn có nghĩa đúng đắn, một cách đúng đắn, thích hợp, một cách hoàn toàn, toàn diện... Hoàn toàn, toàn diện, trọn vẹn... có nghĩa là nó như thế nào thì chụp bắt trọn vẹn nó như thế, không chia chẻ, phân tích, không đưa xen cảm tính và tư duy chủ quan của mình vào. Vậy đến đây, tạm thời ta có một định nghĩa về chánh niệm tương đối đầy đủ nhất: Chánh niệmghi nhận, là chú tâm đúng, trọn vẹn, toàn diện, chân xác đối tượng, bất kể đối tượng ấy đẹp hay xấu, méo hay tròn, thiện hay ác.
Tuy nhiên dù định nghĩa chính xác cách nào thì nó cũng chỉ là những khái niệm trừu tượng. Làm sao bây giờ? Làm sao ta có thể có ví dụ cụ thể để biết, để thấy chánh niệm nhỉ? Tôi nhớ có lần ở đâu đó, tôi có đưa ví dụ người canh cửa. Người canh cửa thì ai đi vô, đi ra thì anh phải ghi nhớ, ghi nhận. Đúng rồi, chánh niệm là người đứng canh cửa thân tâm. Cái gì, pháp nào đi vô, đi ra thân tâm đều phải đi qua anh chánh niệm, vì anh là người đứng canh cửa. Anh ta chỉ đứng nơi cửa và canh chừng thôi. Anh chỉ việc đứng đấy và ghi nhận, chú tâm trọn vẹn ở đấy. Nhiệm vụ của anh chỉ có vậy - đừng có làm cái phận việc “thấy rõ, biết rõ hoặc phân biệt người này và người kia”.
Tại sao vậy? Vì thấy rõ biết rõ là chức năng của người khác, là bổn phận của anh chánh kiến! Còn phân biệt đàn ông, đàn bà, kẻ xấu người tốt lại là chức năng, bổn phận của anh chánh tư duy! Thấy chưa, các bạn thấy chưa? Ai có phần việc nấy, không lẫn lộn với nhau được.
Ta có thể có một ví dụ khác.
Có người cầm cái kiếng để soi mặt mình. Muốn thấy mặt mình cho rõ ràng thì cái kiếng phải được cầm cho vững vàng, không nghiêng chao thì hình ảnh hiện ra mới chân thực. Vững vàng, không nghiêng chao là phần việc của chánh niệm vì niệm đưa đến định, còn thấy rõ, biết rõ thì mặt kiếng tự phản ảnh chân xác, là của chánh kiến.
Đến đây ta có thể thấy rõ sự thật, là khi có chánh niệmchánh niệm trọn vẹn - thì tức khắc, chánh kiến khởi sanh. Đây là chỗ mà tôi gọi là “chánh niệm rốt ráo” vì nó có luôn cả chánh kiến.
Đến đây, chúng ta đã hiểu rằng: Chánh niệm rốt ráo là thả cái thân tâm xuống như nó là ... Chánh niệmtrở lại với thân tâm, là an lập (đặt yên xuống) thực tại thân-thọ-tâm-pháp.
Tại đây tôi chợt nhớ đến yếu chỉ thiền của Bách Trượng Hoài Hải mà sau này, Vô Ngôn Thông kế thừa:“Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu!”. Thân tâm cứ để yên, thả xuống, để yên như ly nước đặt xuống bàn, đừng khởi tư tác gì cả, thì lúc ấy được gọi là “không”, vì lúc ấy không có tham sân si, không có vô tham vô sân vô si tác động (không có 6 nhân, theo Abhidhamma). Và lúc ấy thì “tuệ nhật tự chiếu”. Không có gì rõ ràng hơn thế nữa.
Khi các đối tượng thân thọ tâm pháp được chánh niệm an lập rồi, chánh kiến xuất hiện, nhìn ngắm như thực, thấy biết như thực, hoặc như tánh tri kiến (yathābhūta ñāṇadassana), mà thiền tông gọi là “kiến tánh” thì tốt xấu, thiện ác, thanh trược đều là thực tánh pháp (paramattha-dhamma), tên gọi khác của Không Tánh (thực tướngvô tướng tất cả tướng) thì những cái gọi là tham sân, thương ghét của chúng ta mới ảo hóa, mộng, đốm “như thực” làm sao!
Nói tóm lại, thưa các bạn, trong Bát Chánh Đạo, khi ta có Ngữ, Nghiệp, Mạng tương đối “đàng hoàng” rồi, ta chỉ cần sử dụng tinh tấn, chánh niệm và tỉnh giác để lên đường thôi. Vì chánh niệm đại biểu cho nhóm tâm (niệm, định), và tỉnh giác đại biểu cho nhóm trí (kiến, tư duy).
Đôi chỗ đức Phật không cần nói tinh tấn hay tinh cần vì trong niệm và tỉnh giác đã có sẵn “liễu liễu thường tri” nói như Tổ Huệ Khả thì đã có tinh cần rồi. Vậy niệm và tỉnh giác đủ đại biểu cho Đạo Đế, sự thật về con đường diệt khổ. Niệm và Tỉnh giác đại biểu cho Bát Chánh Đạo; nó là hành trang, là tư lương để chúng ta trở lại quê nhà.
-------------
Trích: Minh Đức Triều Tâm Ảnh (Sīlaguṇa-Mahāthera), NHẶT LÁ RỪNG XƯA, Tủ sách Huyền Không Sơn Thượng, Huế (Phật lịch 2558 – 2015)
Source: