CHƯỚNG NGẠI
TRONG VIỆC TU THIỀN
LÀ GÌ?
Thích Nữ Hằng Như
Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo
là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực
tiếp trên Thân và Tâm về những giáo lý nhà Phật mà hành giả đã học từ kinh điển
hay qua sự hướng dẫn của những bậc chân nhân.
Thiền hay sống Thiền là sống trọn vẹn ngay bây giờ và ở đây với cái Biết như
thật về hiện tượng thế gian, không phê phán khen chê, không quay về quá khứ
cũng không hướng đến tương lai hoặc dính mắc với tham dục ở hiện tại.
Giáo pháp của Đức Phật để lại không ngoài mục đích giúp con người Thoát Khổ, Giác
Ngộ, Giải Thoát. Và con đường đi đến Thoát khổ, Giác ngộ, Giải thoát đó phải
thông qua thiền Định.
Theo ngôn ngữ Phật giáo, chữ Thiền thường được kết hợp chặt chẽ với chữ Định
(Samàdhi). Trạng thái ban đầu của Samãdhi trong kinh điển định nghĩa là Nhất
tâm (Citta Ekagaya). Nhất tâm là trạng thái của Thiền chứng ở mức độ tịnh chỉ
(Samatha), Ở giai đoạn này định Nhất tâm chưa hoàn thiện vì còn chịu ảnh hưởng
khuấy động của Tầm và Tứ. Khi Tâm hoàn toàn được ổn định ở mức độ kiên cố,
không còn tán loạn, nghĩa là Tầm và Tứ hoàn toàn yên lặng, thì lúc bấy giờ mới
được gọi là Samãdhi tức Định vững chắc.
Sự thành đạo của Đức Phật được biểu thị qua tiến trình tu chứng bốn bậc Thiền
Định. Đó là Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền, còn gọi là Sơ Định, Nhị
Định, Tam Định hay Tứ Định.
Kể lại kinh nghiệm chứng ngộ Sơ Thiền, trong Kinh Sa Môn Quả, Đức Phật cho biết:
"Tỷ kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng
thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ".
Mức độ thứ hai là Nhị Thiền, Đức Phật dạy tiếp: "Vị Tỳ Kheo ấy diệt tầm
và tứ, chứng và trú nhị thiền, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm
và tứ, nội tĩnh nhất tâm." Nội tĩnh Nhất tâm có nghĩa là Tâm yên lặng
không còn bị Tầm và Tứ khuấy động nên Nhị Thiền này kết quả thù thắng hơn Sơ
Thiền.
Mức độ thứ ba, Đức Phật nói: "Vị Tỳ Kheo ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh
giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc thánh gọi là "xả niệm lạc
trú", chứng và trú tam thiền." Trong kinh gọi tầng định này là
Định Chánh Niệm Tỉnh Giác.
Mức độ cao nhất trong thiền Phật giáo lúc đó là Tứ thiền còn gọi là Định bất
động tức ngôn hành, ý hành và thân hành không động. Đức Phật chia sẻ như sau:
"Vị Tỳ Khưu ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú tứ
thiền, không khổ, không lạc, "xả niệm thanh tịnh" tức kinh nghiệm
trạng thái Tâm hoàn toàn thanh tịnh, do xả sanh .
Muốn kinh nghiệm các tầng Thiền kể trên, bước đầu hành giả phải "Như lý
tác ý" nhằm tẩy trừ các bất thiện pháp: "tham dục, sân hận,
hôn trầm - thuỳ miên, trạo cử - hối quá và hoài nghi" là
nguyên nhân cản trở sự tự chủ nội tâm nơi hành giả gọi là "năm triền
cái".
Như vậy bước đầu tu Thiền là sự tu
tập để đoạn trừ "năm triền cái" và thay thế bằng "năm
thiền chi" tức là năm tâm sở đối nghịch với năm triền cái, đó là: "Tầm,
Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất Tâm."
"NĂM
TRIỀN CÁI" LÀ GÌ ?
Triền tức là trói buộc, trì kéo nặng nề hay là ngăn che. Năm triền
cái là năm thứ trói buộc tâm con người trong phiền não, tạo nhiều nghiệp, phải
chịu sanh tử luân hồi. Chức năng của triền cái là ngăn che trí tuệ khiến con
người bị vô minh che mờ không Giác ngộ được. Đối với người tu Thiền thì năm triền
cái chính là các ác pháp, tà pháp là: "Tham dục; Sân hận; Hôn trầm-Thuỵ
miên; Trạo cử-Hối quá; và Nghi ngờ", làm cho hành giả tu Thiền không thể
đạt được Tâm yên lặng, định tĩnh, là nền tảng phát huy trí huệ đưa đến Giác ngộ,
Giải thoát.
Đức Phật dạy muốn loại trừ năm triền cái: "Tỷ kheo tự mình quán năm triền
cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ,
như con đường sa mạc" để ghê sợ mà viễn ly nó, thì con đường tu Thiền
mới được suông sẻ. Trước hết chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của mỗi triền cái
như thế nào rồi mới áp dụng phương pháp Phật dạy để xa lìa nó.
1) Tham dục: Là sự ham muốn được là tướng nam hay nữ đẹp đẽ, được nghe âm
thanh ngọt ngào, mùi hương hấp dẫn, vị ngon của thức ăn nước uống và những cảm
giác êm dịu đê mê của thân khi xúc chạm.
Nói chung đó là những mong cầu dục lạc qua năm giác quan như sắc dục, thanh dục,
hương dục, tỷ dục, vị dục, xúc dục và những ước muốn không bao giờ biết đủ về
mưu cầu tiền bạc, người đẹp, danh thơm tiếng tốt cũng như uy quyền tột đỉnh của
ý dục. Ngoài ra tham dục còn được kể đến như lòng khao khát ham muốn hưởng thụ
khoái lạc trong những hoạt động tình dục, ăn ngon ngủ kỷ, thích này thích nọ,
không muốn chịu đựng những cảm giác đau đớn, phiền muộn mà muốn luôn được sảng
khoái dễ chịu trong mọi hoàn cảnh. Đó là những đòi hỏi của bản năng con người.
Người đời thường nói ham muốn càng nhiều thì phiền não càng gia tăng. Điều này
thật đúng, nhưng rất tiếc, tuy biết thế nhưnh đa số con người vẫn luôn ngụp lặn
trong tranh giành được mất hơn thua do tham dục đòi hỏi, rồi than đau, than
khổ!
Người tu hành là người tỉnh ngộ muốn thoát ra khỏi cuộc sống dằn vặt bởi những ham
muốn đó. Tu hành pháp môn nào cũng phải biết tri túc thiểu dục, nhất là tu
Thiền lại càng phải đoạn trừ tham dục thì Tâm mới an ổn, vì không còn khởi niệm
ham muốn cái này, ham muốn cái kia, khiến Tâm lúc nào cũng lăng xăng dao động
không đạt được mục đích an tịnh.
2) Sân hận: Nghĩa là Tâm tức giận đối với những hoàn cảnh không vừa ý
hay do người khác làm trái ý mình. Người sân hận là người mang tâm trạng muốn
chống đối, trừng phạt, gây gổ hay tàn phá. Sân hận là trạng thái tiêu cực tiềm
ẩn trong mỗi con người, nó sẽ bộc phát khi gặp điều kiện thích hợp tác động. Cảnh
báo sự độc hại của sân hận, Đức Phật cho biết tham, sân, si là tam độc, nó có
khả năng phá hoại tâm hồn và thể xác con người không chỉ đời này mà còn nhiều đời
sau. Trong kinh còn cho rằng sân hận tàn khốc và nguy hiểm hơn lửa dữ, nó như
là giặc cướp, như là rắn độc, một niệm sân hận dễ dàng đốt cháy cả rừng công
đức, cho nên phải tìm đủ mọi cách để ngăn chận loại trừ nó.
Sân hận có nhiều trạng thái, mức độ biểu hiện khác nhau ví dụ như: Chán ghét, buồn
phiền, bực tức, giận hờn, nổi nóng, oán hận, căm thù. Sân hận biểu lộ qua hành
vi nét mặt, lời nói và trong ý nghĩ. Biểu lộ bằng thái độ như nhăn mặt, nhíu
mày, trợn mắt, nghiến răng. Biểu lộ bằng lời nói như la hét, quát tháo, chửi
bới. Biểu lộ qua cử chỉ hành động như quăng ném đồ đạc, đánh đập, hành hạ, đâm
chém, giết người.... Có khi nỗi sân hận oán thù không biểu hiện ra ngoài
mà giữ kín trong lòng theo kiểu "sống để dạ chết mang theo"
đồng nghĩa "đây là mối thù truyền kiếp" từ đời này qua
đời khác. Sân hận khiến người ta tạo nghiệp xấu qua lời nói, ý nghĩ và hành
động. Nó là nguyên nhân bất thiện đưa tới quả luân hồi sinh tử.
Đối với người tu Thiền, sân hận là sự chán ghét vào chính đối tượng thiền quán
trong lúc toạ Thiền. Nó khiến hành giả dễ dàng bỏ rơi đề mục đang tu tập, chuyển
tâm qua những mục tiêu khác.
3) Hôn trầm-Thuỵ Miên: Là sự mệt mỏi của Thân và sự dã dượi của Tâm. Là trạng
thái nặng nề uể oải của cơ thể và sự mơ màng của tâm thức. Trạng thái đầu tiên
khi hành giả toạ Thiền là đánh mất Chánh niệm, phóng tâm lang thang ra khỏi chủ
đề, sau đó rơi vào trạng thái vô ký nửa mê nửa tỉnh. Đây là trạng thái Tâm
không ngủ mà cũng không thức gọi là hôn trầm.
Tu Thiền là rèn luyện Tâm. Khi Thân uể oải, Tâm ngầy ngật thì ta không có
nghị lực để làm bất cứ chuyện gì. Không có nghị lực sẽ đưa đến hôn trầm. Hôn
trầm làm cho niệm Biết mất đi sự rõ ràng, tiến tới sự rời rạc, yếu ớt và biến
mất. Từ đó đưa đến thuỵ miên là ngủ gục trong lúc toạ thiền mà ta không hay
biết.
4) Trạo cử - hối quá: Trạo cử có hai mặt, trạo cử nơi Thân và trạo cử
nơi Tâm. Thân thì không lúc nào ngồi yên một chỗ, cứ lắc lư thay đổi thế ngồi,
mắt liếc nhìn qua lại. Hoặc do sự tinh tấn hành trì quá sức chịu đựng khiến cho
cơ thể bị rả rời hay đau nhức, dễ đưa đến tình trạng chán nãn lười biếng trong
việc tu tập. Trạo cử của Tâm là trạng thái Tâm bị các niệm lăng xăng xẹt
vô, xẹt ra, chi phối trong lúc hành Thiền. Tâm này trong kinh gọi là "tâm
lang thang" hết suy nghĩ chuyện này sang suy nghĩ chuyện khác như chú
khỉ chuyền cành không bao giờ chịu ngồi yên, hoặc là không hài lòng với đề mục tu
tập nên phóng tâm ra ngoài tìm những đề mục khác hứa hẹn tốt hơn. Tìm những đề
mục khác có nghĩa là hành giả đang bị sự nghi ngờ chi phối.
Hối quá là trạng thái đặc biệt khác của trạo cử thuộc về Tâm. Tâm không yên là
bởi lương tâm cắn rứt hối hận những lầm lỗi đã qua. Đó là nghiệp quả của các
hành động bất thiện trong quá khứ khiến cho Tâm không được an ổn trong lúc hành
Thiền.
5) Nghi ngờ: Trạng thái Tâm luôn do dự, không nhất quyết nhận ra điều
nào thực sự đúng và điều nào thực sự nào sai, nghĩa là trong Tâm còn nhiều thắc
mắc về khả năng tu tập của chính mình, hoặc nghi ngờ pháp học pháp hành không
biết có đúng không? Có khi nghi ngờ khả năng chứng đắc của Thầy mình, hay chưa chắc
chắn tin vào Tam Bảo.
Nghi ngờ cũng có thể xem như là một trạng thái khác của trạo cử, khi trong đầu
có quá nhiều kiến thức, nhiều khái niệm do đó Tâm rơi vào trạng thái lưỡng lự,
không quyết định. Vì thế, những câu hỏi, những thắc mắc trong lúc toạ Thiền cần
phải được giải quyết một cách rõ ràng thấu đáo trước khi thực hành.
Khi quyết định chọn tu Thiền, hành giả phải có niềm tin vững chắc, hiểu rõ phương
pháp kỹ thuật hành Thiền, hiểu rõ đề mục tu tập và hiểu rõ mục đích tu tập này
đi về đâu.
"NĂM
THIỀN CHI" CÓ KHẢ NĂNG LOẠI TRỪ
"NĂM
TRIỀN CÁI"
Đã sanh làm kiếp con người, có ai không ao ước mong muốn hoàn thành điều gì đó
trong cuộc đời của mình. Cái mong muốn đơn giản mà ai cũng có, đó là xây dựng một
đời sống tốt, một gia đình an vui hạnh phúc. Có mong muốn người ta mới cố gắng học
hỏi, mới có nghị lực để làm việc, hầu đạt được mục đích. Nhưng thói thường, sự
mong muốn đơn giản này dần dần sẽ nảy sanh nhiều mong muốn khác. Mong muốn thì
không có hại, nhưng cái gì cũng muốn để phục vụ cho giác quan, cho bản ngã của
mình, thì từ trạng thái mong muốn đã nhảy sang trạng thái tham lam khao khát sở
hữu cái này, sở hữu cái kia. Khi con người vượt qua lằn ranh mong muốn bước
sang vùng đất tham lam không biết dừng, thì con người đã sa vào hố sâu của tham
dục. Càng lặn ngụp trong tham dục thì càng bị cơn xoáy bộc lưu cuốn sâu vào
vùng vô minh đau khổ.
Những ai đã bị tham dục lấn áp rồi, không thể một sớm một chiều mà buông bỏ
được. Những thứ đó giống như những chất ghiền nghiện huân tập trong ký ức khó buông
bỏ, nó biến thành lậu hoặc tập khí. Khi toạ Thiền chúng lần lượt bung lên khuấy
động làm cho Tâm hành giả không thể nào được an tịnh. Vì không đạt được sự an
tịnh trong lúc tu tập khiến cho hành giả bất mãn sinh chán ghét pháp tu, nghi
ngờ pháp tu.
Để chứng ngộ Sơ Thiền, Đức Phật dạy chúng ta cần "ly dục, ly bất thiện
pháp", hay nói cách khác là phải đoạn trừ toàn bộ "năm triền
cái" . Muốn đoạn trừ "năm triền cái" là những pháp bất
thiện, thì bên cạnh việc tu Tâm, hành giả cần tu Tướng. Tu Tướng có nghĩa là hành
giả cần: Có niềm tin vững chắc nơi Tam Bảo, nắm vững pháp học (giáo lý) và pháp
hành (kỹ thuật thực hành) để chế ngự lòng nghi ngờ. Giữ gìn giới luật không
không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không sử dụng
những chất say làm lu mờ tâm trí để chế ngự lòng tham cũng như trạo cử-hối quá
khi ngồi Thiền. Ngoài ra hành giả cần sống tri túc thiểu dục trên mọi mặt để chế
ngự lòng tham lam khao khát. Nuôi dưỡng lòng từ bi, rộng lượng với mọi người và
mọi vật để chế ngự lòng sân hận.
Nhờ sự tu tập hằng ngày chừa bỏ những ác pháp, thực hành những pháp lành, hành
giả có thể ngăn chận "năm triền cái" lúc toạ Thiền. Khi có kinh
nghiệm Định thì "năm thiền chi" xuất hiện lấn áp và làm cho
"năm triền cái" không thể trồi lên được.
"Chi
thiền Tầm và Tứ" có công năng đối trị
"hai
triền cái Hôn Trầm - Thuỵ Miên và Nghi Ngờ"
Tầm tiếng Phạn là Vitakka có nghĩa là "tư duy", là "hướng
tới" hay "tập trung" Tâm vào một đối tượng duy nhất.
Đơn giản và dễ hiểu, Hoà Thượng Thích Thông Triệt giải thích Tầm là "sự
nói thầm" (tư duy, suy nghĩ) trong Tâm. Tứ là "đối thoại
thầm lặng" trong Tâm. Cả hai là tiếng nói thì thầm bên trong Tâm. Nếu
Tầm Tứ không dừng lại thì nó sẽ phát ra âm thanh tức nói ra lời tạo khẩu nghiệp.
Trong kinh ghi chức năng của Tầm là hướng tâm hay tập trung tâm đến đối tượng,
mang lại sự sâu lắng cho Định. Tứ thì gắn chặt và neo Tâm vào đối tượng nghĩa
là duy trì sự định tâm nơi đối tượng đã thành tựu từ Tầm. Trong sự liên hợp này
Tầm-Tứ là hai yếu tố thiết yếu cho sự thành tựu và ổn định của Sơ Thiền.
Khi Tâm của hành giả đang tư duy, hay đang hướng đến, hoặc tập trung vào một
đối tượng tức là "thiền chi Tầm" đang có mặt, thì hành giả
không thể rơi vào trạng thái hôn trầm. Cũng như trong Tâm đang có sự hiện diện
của "thiền chi Tứ" đang làm công việc gắn chặt sự hướng tâm
của Tầm vào đối tượng, thì chứng tỏ rằng hành giả đang tinh tấn tu tập, không
có sự nghi ngờ về pháp học hay pháp hành ở đây.
Như vậy chúng ta có thể nói khi "hai thiền chi Tầm và Tứ"
có mặt trong trạng thái Định thì "hai triền cái hôn trầm và nghi
ngờ" không thể trồi lên được.
Có điều quan trọng, hành giả cần ghi nhớ Tầm và Tứ là hai chi xuất hiện trong Sơ
Thiền, nhưng muốn tiến cao hơn thì hành giả cần phải buông cả Tầm và Tứ, cũng như
không dính mắc với hỷ lạc, thì mới đạt được Định sâu lắng vững chắc ở tầng
Thiền thứ hai.
"Thiền
chi Hỷ và Lạc" có công năng đối trị
"hai
triền cái Sân Hận và Trạo Cử"
Chi thiền thứ ba có mặt trong Sơ Thiền là Hỷ tiếng Phạn là "Pìti".
Hỷ có nghĩa là sự hân hoan, thích thú, vui mừng, hỷ duyệt, hài lòng, phấn khởi
của Tâm. Chức năng của Hỷ là làm cho Thân và Tâm được tươi tỉnh, phấn chấn. Như
vậy "thiền chi Hỷ" trái ngược với sự buồn bực, thù hằn, sẵn
sàng trừng phạt, la hét của "triền cái Sân Hận". Như vậy Hỷ
có khả năng đối trị sự Sân hận.
Chi thiền thứ tư có mặt trong Sơ Thiền là Lạc tiếng Phạn là "Sukha".
Chữ Lạc được dùng như danh từ thì có nghĩa là: Sự dễ chịu, niềm hạnh phúc hay
sự hài lòng. Nếu dùng như tĩnh từ thì Lạc có nghĩa là: trạng thái an lạc, trạng
thái dễ chịu. Lạc biểu thị cảm giác dễ chịu ngược với khó chịu bất mãn là khổ.
Trong lúc toạ thiền mà có kinh nghiệm "dễ chịu, hài lòng" thì trạo
cử không xuất hiện.
"Chi
thiền Nhất Tâm" có công năng loại trừ
"triền
cái Tham Dục"
Nhất tâm là thiền chi thứ năm. Ở mức Sơ Thiền, Nhất tâm có thể hiểu là trạng
thái Samatha nghĩa là tịnh chỉ mọi hoạt động trong Tâm, nhưng vẫn còn Tầm và
Tứ. Khi nào Tầm và Tứ cũng yên lặng luôn thì Nhất tâm được gọi là Samãdhi tức
Định vững chắc.
Nhất tâm ở Sơ Thiền tích tụ một sức mạnh đặc biệt nhờ bốn chi thiền kia hợp
nhất, neo Tâm vào một đối tượng vững chắc được gọi là định căn. Chức năng của Nhất
tâm là ngăn ngừa những ảnh hưởng bất thiện tác động vào Tâm, đặc biệt là tham
dục. Bởi vì nó duy trì một sức mạnh ổn định nên gọi là định lực. Định lực đưa
Tâm đến trạng thái tịnh chỉ, tức trạng thái Samatha. Samatha là nền tảng của
Samãdhi, mà Samãdhi là nền tảng cho tuệ giải thoát phát huy sau này.
Trong lúc hành Thiền, hành giả kinh nghiệm trạng thái Nhất tâm có nghĩa là Tâm hoàn
toàn yên lặng, không còn dính mắc đến thân thể hay hoạt động của năm giác quan,
vì thế tham dục không thể khởi lên.
KẾT
Trên bước đường tu tập, nhất là tu Thiền thì năm triền cái: Tham dục, Sân hận, Hôn
trầm, Trạo hối và Nghi hoặc là những chướng ngại lớn nhất. Khi hành giả bắt đầu
ngồi xuống toạ thiền, thì một trong những triền cái, hay toàn bộ năm triền cái
nổi lên quậy phá, khiến cho hành giả đánh mất chánh niệm, đánh mất sự tỉnh giác,
thả hồn lang thang theo hết hiện tượng này qua hiện tượng khác. Năm triền cái
tựa như một chiếc xe hứa hẹn đưa chúng ta đi vào con đường luân hồi sinh tử.
Chúng tác động vào Tâm khiến chúng ta đánh mất những giới hạnh cao quý, lăng xả
vào dục vọng thế gian, hành xử bất thiện, tạo những nhân xấu trong đời sống
nhiều hơn là nhân tốt. Cho nên muốn hành trì giáo pháp để đi đến Giác ngộ Giải
thoát thì việc đầu tiên là phải đoạn trừ năm triền cái. Đoạn trừ bằng cách nào?
Trước hết là phải "Như lý tác ý" không được "Phi như
lý tác ý".
"Như lý tác ý" nghĩa là khởi ý, tác ý học hỏi và áp dụng thực
hành những chân lý mà Đức Phật đã dạy. Chân lý là những điều thiện lành đúng
đắn không bao giờ thay đổi bởi thời gian và không gian. Thí dụ như chân lý vạn
vật Vô thường, Khổ, Vô ngã; chân lý Tứ Diệu Đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo
đế gồm tám nhánh như Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh
mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định...
Người tu hành không nên "Phi như lý tác ý" nghĩa là không tác
ý thích sống trong tham dục, trong giận hờn, ghen tuông, sân hận ... "Phi
như lý tác ý " ở đây chính là "năm triền cái".
Chúng ta thực hành "Như lý tác ý" để hướng Tâm đến đối tượng
thiện lành. Tâm được huân tập những thói quen tốt, thì khi toạ thiền chúng ta
ít bị triền cái phá rối. Nhưng nếu triền cái có ló dạng thì chúng ta "Như
lý tác ý" buông bỏ liền vì đã biết đó là bất thiện pháp.
Còn "năm thiền chi" chỉ xuất hiện sau khi "năm triền
cái" không có mặt. Lúc bấy giờ công năng của "năm thiền
chi" như là ánh sáng, còn "năm triền cái" như là
bóng tối. Hễ cái này có mặt thì không có cái kia. Nhưng nếu "năm
thiền chi" hiện diện yếu ớt, thì triền cái sẽ có dịp trồi lên. Cho nên
phải có định lực vững chắc thì mới hoàn toàn diệt được "năm triền
cái".
Tóm lại, trong lúc hành Thiền, năm triền cái là chướng ngại khiến cho việc tập trung
Tâm vào đề mục đang hành trì rất khó khăn. Chúng ta cần kiểm điểm xem chúng ta
đã vướng phải triền cái nào: Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Trạo hối hay Nghi
ngờ? Từ đó chúng ta tìm phương cách hoá giải thích hợp để vượt qua hàng rào
ngăn che đó, hầu vượt lên mức Thiền Định cao hơn.
Thí dụ như tham dục quá mạnh thì chúng ta cần quán hiện tượng bất tịnh, vô
thường, khổ, vô ngã của tài, sắc, danh, thực, thuỳ. Áp dụng pháp tu phòng hộ
sáu căn, tiết độ sự ăn uống, ngủ nghỉ v.v...
Nếu như chúng ta dễ dàng nổi sân đối với mọi người thì chúng ta nên chọn đề mục
Thiền từ ái. Quán xét những nghiệp mình gây ra, quán xét bản chất vô thường về tài
sản mình đang sở hữu. Thường xuyên Như lý tác ý làm việc lành, nói lời
lành, tu hạnh bố thí v.v... để tạo thành thói quen trợ giúp cho việc phát triển
tâm Từ và loại bỏ sân hận.
Nếu như thường xuyên bị hôn trầm, chúng ta cần biết lý do của hôn trầm phần lớn
là do ăn uống quá độ, hoặc thiếu ngủ, hay đích thực là cơ thể đang quá mệt mỏi.
Vì thế chúng ta không nên ăn quá no trước khi ngồi thiền, nên ngủ đủ giấc để thân
tâm khoẻ khoắn khi toạ Thiền. Chọn chỗ ngồi Thiền thoáng mát, không quá tối tăm.
Tư thế toạ Thiền cũng rất quan trọng, ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, hai vai ngang
với hai trái tai v.v... Khi buồn ngủ thì không nên nhắm mắt.
Trạo cử, hoài nghi phần lớn do chúng ta chưa có niềm tin vững chắc về pháp tu
hoặc kiến thức của chúng ta quá rộng rãi, nên có nhiều thắc mắc. Để trị hai căn
bệnh này, chúng ta cần tìm hiểu rõ về cuộc đời và đường lối tu tập cũng như sự chứng
ngộ của Đức Phật. Tìm hiểu về giáo pháp của Ngài. Khi đã quyết định trở thành đệ
tử của Phật thì phải thông suốt giới luật, đặt trọn niềm tin nơi Tam Bảo. Lý
thuyết tức pháp học phải vững chắc thì khi thực hành mới không bị trạo cử hay nghi
ngờ.
Nói chung sự đè nén năm triền cái bằng pháp Như lý tác ý ở bước đầu rất cần
thiết để chứng Thiền. Không những giúp cho hành giả chứng Thiền, mà nó còn có
khả năng kéo dài Thiền chứng ấy nữa.
Ở giai đoạn đầu của Nhất tâm, chúng ta có thể nhờ vào định lực đè nén sự nổi
dậy của năm triền cái, nhưng vì chúng ta chưa Chánh Tư Duy rốt ráo và chưa tu
tập pháp "Như lý tác ý" để làm suy yếu tiềm năng của
chúng, thì chúng vẫn còn tiềm tàng ẩn náu trong tiềm thức chúng ta. Chúng là
những chất ô nhiễm, là lậu hoặc, tập khí bám chặt trong Tâm và có khuynh hướng "nổi
loạn" nhằm chọc thủng sự tịnh chỉ (Samatha), phá tan định lực của chúng
ta khi có cơ hội.
Con đường tu Thiền là con đường đi về ngôi nhà tâm linh của mình. Trên đường đi
phải qua nhiều cửa ải. Một trong những cửa ải đó là "năm triền
cái". Qua được "năm triền cái" rồi, chúng ta còn phải
buông bỏ Tầm và Tứ để an trú trong tầng Thiền thứ hai tức Định không Tầm không
Tứ. Đây là cửa ải khó khăn nhất. Khi Tâm chúng ta đã quen thuộc với sự tĩnh
lặng không Tầm không Tứ rồi thì "năm triền cái" không có cơ
hội xen vào cuộc hành trình của chúng ta. Do đó trước mặt của chúng ta là con
đường thênh thang rộng mở, chúng ta sẽ nếm được pháp vị của Thiền và từ đó
thẳng tiến tu cho đến khi nào kinh nghiệm được mục tiêu Thoát khổ, Giác ngộ, Giải
thoát ngay trong đời này.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
THÍCH
NỮ HẰNG NHƯ
August
17-2018
Tài liệu:
- Kinh Sa Môn Quả (Sàmannaphala
Sutta) – Kinh Trường Bộ - ĐLHT Thích Minh Châu dịch.
- Tìm Hiểu Kinh Sa Môn Quả: Đoạn Xả
Ly Năm Triền Cái của Hoà Thượng Thích Nhuận Thịnh.
- Tài liệu học tập thuộc giáo trình
giảng dạy các cấp lớp Bát Nhã của HT. Thích Thông Triệt (ThiềnTánh Không)
Trong khi
thực hành thiền quán,
hành giả thường hay vướng vào
năm chướng ngại, mà
thuật ngữ Phật học gọi là
ngũ triền cái, làm cho việc
thực tập thiền khó
đạt được như ý muốn. Năm thứ này
thường hay hiện khởi làm cho các
đề mục thiền quán bị
tán loạn, phân tâm và khó
chú tâm đưa đến
tịnh chỉ,
an trú trên các
đề mục thiền.
Có thể hiểu
ngũ triền cái là những
chướng ngại về tâm. Triề n là tró i buộ c. Tró i buộ c gì ? Tró i buộ c chú ng sanh trong khổ đau
sanh tử luân hồ i. Cá i là che đậ y, tứ c mà n
vô minh che lấ p bả n tâm thanh tị nh, và
trí tuệ sá ng suố t. Năm triề n cá i là năm pháp làm trở ngại và
che lấp tâm định. “Năm
chướng ngại triền cái này, này các Tỷ-kheo, bao phủ tâm, làm
yếu ớt trí tuệ” đó là
tham dục,
sân hận,
hôn trầm thụy miên,
trạo cử hối quá, và
hoài nghi. Chúng được
lưu ý vì đó là các
chướng ngại cho thiền mà
Đức Phật đã chỉ ra. Những
phiền não này không chỉ
chướng ngại cho
sơ thiền mà còn là
áp lực chính đối với nguyện vọng
giải thoát giác ngộ của con người1 .
Chúng mang tên “triền cái” là vì chúng che án và bao phủ tâm,
ngăn cản sự phát triển thiền ở cả hai lĩnh vực
tịnh chỉ và
tuệ giác. Về mặt kỹ thuật
đối lập với thiền, chúng thường khá
tinh tế trong
hình thức: khi hành thiền
đạt đến mức độ
cuối cùng của sự đoạn tận các
triền cái là
đạt được quả vị A-la-hán. Khi đó chúng bị cắt đi như một ‘gốc cây cọ,
vĩnh viễn không thể mọc lên lại được nữa. Vì
lý do đó mà
Đức Phật gọi năm
triền cái là những “chướng ngại, ngăn che, làm uế
nhiễm tâm, làm yếu trí tuệ”2 .
Hơn nữa, Ngài còn nói: “Năm
triền cái, này chư Tỷkheo,
tác thành si ám,
tác thành không mắt,
tác thành vô trí,
đoạn diệt trí tuệ,
dự phần vào
tổn hại, không đưa đến Niết-bàn”3 .
Kinh điển và
Vi diệu pháp (Abhidhamma) đều chỉ ra cho thấy
triền cái gây nhiều khó khăn và
chướng ngại có thể làm che mờ
tâm trí ở các mức độ
thực hành khác nhau. Tất cả đều
liên quan đến khối
tác nhân gây
đau khổ cho
con người.
Năm
triền cái được
ví như sự
vẩn đục của hồ nước theo năm cách khác nhau:
Triền cái đầu tiên là ‘tham dục’,
ví như nước bị nhuộm màu, do đó nó không còn
trong sạch tinh khiết; ‘sân hận’, như nước bị đun sôi trở nên
hỗn loạn; hôn trầm-thụy miên, được
ví như nước bị rong rêu bao phủ;
trạo cử hối quá, như nước bị gió thổi làm tung tóe; và
nghi ngờ, như bát nước được đặt trong bóng tối và làm
rối loạn tâm (AN III, 229-36). Với việc loại trừ những trở ngại (
triền cái) ấy, nước sẽ
trong sạch tinh khiết trở lại.
Kinh tạ ng Nikāya còn phản ánh
ý thức về sự
hiện diện của những
triền cái diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Một số
bản kinh mô tả chúng
hoạt động trong khi đi, đứng, nằm, ngồi; kể cả trong khi buôn bán, làm việc. Chúng
tác động trực tiếp lên tâm ý và cơ thể. Chúng
chi phối đến mọi
hoạt động của
con người làm nảy sinh ra những
trạng thái tâm: chẳng hạn
như không muốn làm những gì
chúng ta đang làm, khởi lên những
ham muốn cái gì khác, làm cho
chúng ta trở nên
bực bội,
mệt mỏi, bồn chồn, hưng phấn và
nghi ngờ tất cả những gì
chúng ta đang làm. Một vòng tròn luẩn quẩn có
nguyên nhân và
điều kiện chi phối thân tâm chúng ta. Và nó được thấy
rõ ràng nhất khi
chúng ta thực hành thiền định.
Nội dung của năm triền cái
1.
Tham dục:
Tâm sở tham dục có
trạng thái ưa thích,
đam mê,
ham muốn, dính mắc sự khát khao ‘năm dục lạc’ làm cho tâm phân tán khó tập trung. Nó là một
hình thức của
phiền não gốc tham, đó là một cách biểu hiện của ái mà
Đức Phật xác nhận là nhân
sanh khổ. Quá
ham muốn đắc định cũng là một trở ngại cho
tâm định.
2.
Sân hận:
Tâm sở sân
biểu thị sự ghét bỏ,
trạng thái bất mãn, bất bình, không
hài lòng đối với người hay vật, không
vừa ý. Tầm mức của nó thay đổi từ sự
bực mình nhẹ nhàng đến lòng
oán hận thâm sâu. Sân làm cho tâm
nóng nảy, khó
hoan hỷ, an vui trong
đề mục thiền định.
3.
Hôn trầm -
thụy miên: Đây là một
chướng ngại kép.
Hôn trầm là sự đình trệ,
dã dượi của tâm.
Thụy miên là
trạng thái mơ màng, ngái ngủ của thân. Hai
tâm sở này đồng một
tính chất ươn hèn, nhu nhược và
thụ động, khiến cho
tâm không thể chú hướng vào
đề mục thiền định được.
4.
Trạo - hối: Tâm sở trạo cử có
trạng thái phóng tâm,
suy nghĩ vẩn vơ, nhất là về tương lai.
Tâm sở hối quá có
trạng thái nóng nảy, ray rứt,
hối tiếc về những
sai lầm hay
tội lỗi đã làm trong
quá khứ (tránh
lầm lẫn với
trạng thái ăn năn, hối cải thuộc tâm thiện). Hai
tâm sở này đồng một
tính chất tháo động, bồn chồn,
bất an khiến cho
tâm không an lạc trên
đề mục thiền định. Ví dụ như khi đang
cố gắng chú tâm được vài giây thì tâm đã trượt khỏi
đề mục. Nếu do lười chán hay
giải đãi mà không
an lạc, đó là
triền cái hôn trầm thụy miên, nếu do
suy nghĩ vẩn vơ hay
hối tiếc bứt rứt mà không
an ổn thì đó là
triền cái trạo hối.
5.
Nghi:
Đức Phật giải thích nghi ngờ là sự không
chắc chắn chủ yếu và sự thiếu
tín nhiệm đối với bốn hạng mục: Phật, Pháp, Tăng, và Giới. Ở những
nơi khác, Ngài
giải thích tâm sở nghi là
nghi ngờ liên quan đến quá khứ,
hiện tại và tương lai. Do vậy, đoạn trừ được
tâm sở này thì phải
hiểu rõ định lý
nguyên nhân và
điều kiện.
Tâm sở nghi có
trạng thái lưỡng lự, phân vân,
do dự, bất quyết.
Tâm sở này làm cho
tâm không đứng vững được trên
đề mục thiền định.
Hôn trầm thụy miên là
tâm sở có
trạng thái thụ động, thiếu
tinh tấn cho nên có mặt trong các tâm hữu trợ.
Trạo hối và nghi là
tâm sở có
trạng thái dao động, làm cho
tâm không sáng suốt, cho nên thay nhau có mặt trong hai tâm si.
Các
triền cái tiêu biểu cho
toàn bộ những
trạng thái tâm
ô nhiễm bao gồm ba
bất thiện căn, tứ bộc,
tứ kết,
tứ lậu,
tứ thủ, thập
phiền não, thập kiết sử4 . Các
triền cái được
Đức Phật so sánh như món nợ, như
bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh
nô lệ, như
con đường đi qua sa mạc. Chúng che mắt
con người khiến họ không thể thấy được
lợi ích của
bản thân mình,
lợi ích của người khác hoặc
lợi ích của cả hai. Do
ảnh hưởng của các
triền cái,
con người làm những điều lẽ ra họ không nên làm và
xao lãng những bổn phận lẽ ra họ phải làm. Chúng làm uế
nhiễm tâm,
suy yếu trí tuệ,
tác thành si ám,
tác thành không mắt,
đoạn diệt trí tuệ,
dự phần vào
tổn hại, không đưa đến Niết-bàn5 .
Ví như vàng bị suy kém bởi năm tạp chất - sắt, đồng, chì, thiếc và bạc - “không
mềm dẻo, không dễ dùng, không
chói sáng, dễ bể vụn và không thể chạm trổ tinh xảo được”. Tâm cũng vậy, bị uế nhiễm bởi năm
triền cái, “không
nhu nhuyến, không dễ dùng, không
chói sáng, cứng rắn và không thể
định tâm chân chánh vào việc đoạn trừ các lậu hoặc”6 . Chính
vì vậy mà
Đức Phật nói về chúng: “Này các Tỷ-kheo, nếu ai nói một cách chân chánh về các
triền cái, người ấy phải nói chúng là ‘một đống tâm bất thiện’, vì quả thực năm
triền cái này là một đống
tâm bất thiện hoàn toàn”7 .
Hình ảnh tiêu cực củ a những triền cái
Nhiều
hình ảnh được
sử dụng trong các
kinh điển để
mô tả những trở ngại hoặc chỉ
hiệu lực và nguy hiểm của chúng. Trong kinh
Tăng chi bộ,
bản kinh Upakkilesa Sutta,
Đức Phật đưa ra một ví dụ,
so sánh năm
triền cái giống như năm loại các tạp
chất chứa trong vàng8 . Trong Āvaraṇa sutta, Ngài
so sánh các
triền cái giống như năm con đập được
xây dựng trên một dòng sông, do vậy chúng sẽ làm chậm hoặc thậm chí ngăn chặn dòng chảy của nó9 . Và trong kinh
Trung bộ, bản
Đại kinh Xóm Ngựa, Ngài
cảnh báo rằng: “Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự mình, quán năm
triền cái chưa xả ly, như món nợ, như
bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh
nô lệ, như
con đường qua sa mạc”10.
Ham muốn nhục dục như các con nợ:
Triền cái đầu tiên là
ham muốn đối với các đối tượng
giác quan, đôi khi nó cũng được gọi là ‘sự khao khát
thèm muốn với mọi thứ’.
Tham dục là
triền cái phổ biến nhất, sự biểu hiện của
tham dục đối với
sáu trần cảnh,
cảm giác mơ mộng, hoặc bị phân tâm bởi một số
kích thích tham muốn (
đặc biệt là
âm thanh và
suy nghĩ). Trong kinh
Tương ưng bộ (tập V, thiên
Đại phẩm, chương
Tương ưng Giác chi, phẩm Tổng nhiếp các
Giác chi, đoạn kinh 55)
bản kinh Saṅgārava
mô tả tham dục như sự biểu hiện của một bát nước bị
phản chiếu trên bề mặt của trộn với lắc, nghệ, thuốc nhuộm màu xanh lam, hoặc thuốc nhuộm đậm đặc11.
Đức Phật ví sự
tham dục như thể đi vay nợ. Các sự khoái lạc ta có qua năm căn đều phải trả lại qua các
đau khổ về
biệt ly, mất mát hoặc sự trống rỗng
đói khát, vốn sẽ
theo đuổi mãnh liệt sau khi các khoái lạc đã
tiêu tan. Cũng như bất cứ món nợ nào đều phải trả thêm lời, và như thế
Đức Phật dạy rằng sự khoái lạc đó thật ra là nhỏ bé so với các
đau khổ phải hoàn trả.
Sân hận như người đàn ông bị bệnh: Triền cái thứ hai là
sân hận.
Sân hận là
mặt trái của
tham dục. Nó là một cặp song sinh đi liền nhau. Bởi không
thỏa mãn tham dục thì tâm
sân hận hiện khởi. Mỗi khi tâm
sân hận hiện khởi thì chúng đốt cháy cả rừng
công đức (
nhất niệm sân tâm khởi,
bát vạn chướng môn khai).
Sân hận không chừa một ai, làm mất
lý trí, nên có thể bất kính với người lớn hơn hoặc
ngang hàng, hoặc thậm chí trở nên khó chịu với những người khác tạo ra tiếng ồn, thiếu khiếm nhã, và không thể
kiềm chế. Điều này cũng giống như
cố gắng nhìn thấy sự
phản chiếu của
chúng ta trong một bát nước được đun sôi
dữ dội trên một ngọn lửa mạnh12.
Đức Phật ví lòng
sân hận như thể người bị bệnh. Bệnh tật
cản trở sự
tự do và
hạnh phúc của
sức khỏe. Cũng như thế, lòng
sân hận cản trở sự
tự do và hành phúc của
an bình.
Hôn trầ m, thụy miên như các tù nhân:
Triền cái kép này đưa đến sự
dã dượi thân và tâm, làm mất nhuệ khí, thiếu
tinh tấn và
tiến bộ tâm linh , đó là
hôn trầm và
thụy miên.
Lý do thật sự là
năng lượng của một người rất nặng nề và bị tắc nghẽn do
hậu quả của quá nhiều
suy nghĩ và
nhạo báng tinh thần. Điều này cũng giống như
cố gắng tìm kiếm sự
phản chiếu của
chúng ta trong hồ nước tràn ngập với những cây rêu mọc đầy trong nước13.
Đứ c Phật ví hôn trầ m thụ y miên như ngục tù . Ngườ i
bị giam cầ m trong ngụ c tù thì không bao giờ thấ
y tự do và thoả i má i.
Hôn trầm thụy miên là một
trạng thái khó chịu của thân và tâm, quá cứng đọng không thể
đi vào sự
an lạc của Thiền-na, và quá
mù quáng không thể
khám phá ra các
Tuệ quán.
Tóm lại, đây
hoàn toàn là một sự
phí phạm thì giờ.
Bồn chồn và trạo hối như nô lệ: Khi
tâm trí của
chúng ta bị lôi kéo vào trong
quá khứ, nhớ lại những điều mà mình đã làm
hoàn thiện hoặc chưa hoàn th iện nó cũng có thể có khả năng để
trở thành hối hận. Khi
tâm trí của
chúng ta đi lang thang vào tương lai, tự hỏi phải làm gì sau khi
thiền định, và như vậy,
chúng ta có khả năng để trở nên bồn chồn, cả thân và tâm. Hoặc,
chúng ta có thể quá
vui mừng với tiến trình
rõ ràng của
chúng ta, hoặc nản lòng vì
chúng ta thiếu
tiến bộ: đó là sự bồn chồn và
hối hận, đây là
triền cái thứ tư. Điều này cũng giống như
tìm kiếm sự
phản chiếu của
chúng ta trong hồ nước đang bị khuấy động và bị gió mạnh cuốn tung.
Đức Phật ví
trạo cử như một tên
nô lệ,
tiếp tục chạy nhảy theo lệnh của ông chủ khắc nghiệt luôn luôn đòi hỏi sự toàn hảo, và như thế không bao giờ
cho phép nó được dừng nghỉ.
Hối hận là một
trạng thái đặc biệt của
trạo cử, là
nghiệp quả của các hành động
bất thiện. Cách
duy nhất để
vượt qua hối hận, sự
trạo cử do
lương tâm cắn rứt, là phải
giữ gìn giới đức, tập sống tử tế, khôn ngoan và
dịu dàng. Một người không có
đạo đức hoặc sống
buông lung thì không thể nào có được các kết quả sâu sắc trong khi hành thiền14.
Nghi ngờ như các du khách:
Cuối cùng, người ta có thể
cảm thấy rất nản lòng do những khó khăn và
phiền nhiễu khác nhau. Người ta bắt đầu chỉ
nghi ngờ khả năng suy niệm của một người hoặc không
chắc chắn về
mục đích thật sự của
thiền định. Sự
hoài nghi này là chướng n gại
tâm thần thứ năm. Điều này cũng giống như việc
tìm kiếm sự
phản chiếu của
chúng ta trong một bát nước bùn đục trong bóng tối15.
Đức Phật ví
nghi ngờ như thể bị lạc trong sa mạc, không
nhận ra được các mốc điểm. Ngườ i hà nh thiề n
vượt qua bằng cách thu thập các lời hướng dẫn
rõ ràng, có một bản đồ tốt, để giúp ta thấy được các mốc điểm
vi tế trong vùng đất không
quen thuộc của tâm thiền sâu kín, và từ đó biết được
con đường phải đi.
Như vậy, năm triề n cá i là năm
hình ảnh
tiêu cự c, nguy hiểm đố i vớ i ngườ i thự c hà nh thiề n đị nh. Nhiệ m
vụ chí nh củ a thiề n sinh là vượ t qua năm triề n cá i để đạ t được cá c
mức độ thiền.
Trung bộ kinh dạy:
“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự mình, quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, nh ư ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường qua sa mạc. Này các Tỷ-kheo, cũng như không mắc nợ, không bị bệnh tật được khỏi tù tội, được tự do, đến được đất lành yên ổn. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán năm triền cái khi chúng được diệt trừ”16.
Đoạn trừ năm triền cái Theo
Thiền sư Henepola Gunaratana,
con đường duy nhất để đoạn trừ
tối hậu các
triền cái là bốn đạo
siêu thế. Và để
đạt đến các
siêu thế đạo này tất yếu phải có sự
tu tập minh sát (vipassanā). Vì lẽ sự
thâm nhập vào thực tánh của mọi
hiện tượng (thấy rõ
tam tướng) chỉ có ở đạo
tuệ siêu thế mà thôi. Thế nhưng, muốn
minh sát tuệ sanh khởi, các
triền cái phải được làm cho
suy yếu đến một mức nào đó. Ở đây, chúng không còn làm
gián đoạn tiến trình
quán chiếu. Do đó, việc khắc phục sơ bộ các
triền cái,
kinh điển thường đưa ra hai
giải pháp. Một là sự đè nén các
triền cái bằng cách
tu tập tịnh chỉ (samatha) ở mức cận định hoặc an
chỉ định (jhāna); hai là sự
trừ diệt các
triền cái trong quá trình
tu tập minh sát.
Muốn đoạn trừ sạch năm
triền cái thì điều
cần thiết là phải chứng năm
thiền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc và
nhất tâm. Năm
tâm sở này là những
yếu tố của các tâm
thiền sắc giới giúp
chế ngự năm
triền cái. Mỗi
thiền chi có
chức năng và
nhiệm vụ để
chế ngự và đoạn trừ mỗi
triền cái tiêu biểu. Tầm
chế ngự và đoạn trừ
hôn trầm thụy miên;
tứ đoạn trừ nghi; hỷ đoạn trừ sân; lạc đoạn trừ
trạo hối và
nhất tâm đoạn trừ
tham dục. Nói như thế không có nghĩa là mỗi
thiền chi chỉ
duy nhất đoạn trừ một
triền cái tương ứng. Ngoài
chức năng và
nhiệm vụ chính thì chúng còn có sự hỗ trợ nhau trong việc đoạn trừ năm
triền cái để đi đến
an trú trong các tầng thiền.
Việc đoạn trừ năm
triền cái khiến cho tâm trở nên thuần tịnh
trong sáng, giống như vàng đã loại trừ các tạp chất. “Và khi nào, này các Tỷ-kheo, tâm
được giải thoát khỏi năm uế nhiễm ấy; khi ấy tâm ấy được
nhu nhuyến, dễ
sử dụng, sáng chói, không bể vụn, chơn
chánh định tĩnh để
đoạn diệt các lậu hoặc”17.
Khi năm
triền cái được đoạn trừ,
hành giả sống
an lạc tự tại, làm chủ được
cảm xúc, làm chủ được tâm ý.
Trung bộ kinh dạy rằng: “Vị ấy
từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm
thoát ly tham ái,
gột rửa tâm hết
tham ái.
Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với
tâm không sân hận,
lòng từ mẫn
thương xót tất cả
chúng hữu tình,
gột rửa, tâm hết
sân hận.
Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống
thoát ly hôn trầm thụy miên, với
tâm tưởng hướng về ánh sáng,
chánh niệm tỉnh giác,
gột rửa tâm hết
hôn trầm thụy miên.
Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không
trạo cử,
nội tâm trầm lặng,
gột rửa tâm hết
trạo cử,
hối tiếc.
Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống
thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự,
gột rửa tâm hết
nghi ngờ đối với thiện pháp”18.
Việc đoạn trừ năm
triền cái đánh dấu bước mở đầu của
giải thoát, như kinh nói: “Khi năm
triền cái đã được đoạn trừ, vị Tỷ-kheo tự mình quán thấy như người đã thoát nợ, hết bệnh, khỏi tù tội, một người
tự do và như đất lành an ổn”. Cùng với sự đoạn trừ các
triền cái, khả năng phát triển
tâm linh của
hành giả cũng được khai mở, không còn bị
hạn chế. Cũng như vàng đã được tinh lọc khỏi năm tạp chất sẽ trở nên
mềm dẻo,
tinh chất,
chói sáng và
bền vững, có thể chạm trổ dễ dàng.
Như vậy,
chúng ta đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về tiềm năng của
tâm trí để
đạt được hạnh phúc cao nhất và tự
giải thoát.
Con người sẽ bị
hạn chế nhiều mặt,
trí tuệ yếu kém khi bị năm
triền cái làm
che lấp tâm tánh.
Đức Phật, bậc thầy
giác ngộ, đã chỉ ra cho
chúng ta nhiều
phương pháp khác nhau để
hành giả ứng dụng tu tập nhằm
vượt qua sự trở ngại từ chúng.
Sách tham khảo:
1. Henepola Gunaratana, A Critical Analysis of the Jhanas in Theravdda
Buddhist Meditation, The American University, Washington, 1980: Các ghi
chú 1, 3, 7 trong bài.
2. Kinh
Tăng chi bộ: Các chú thích 2, 5, 6, 8, 9, 17 trong bài.
3. Kinh
Trường bộ: Chú thích 4 trong bài.
4. Kinh
Trung bộ: Các chú thích 10, 16, 18 trong bài.
5. Kinh
Tương ưng bộ: Chú thích 11 trong bài.
6. Piya Tan, Nīvaraṇa, Mental Hindrances, 2010, http:// dharmafarer.org, 24/07/2015: Các chú thích 12, 13, 15 trong bài.
7.
Ajahn Brahmavamso, The Five Hindrances (Nivarana), Buddhist Society of
Western Australia, Newsletter April 1999, http://www.budsas.org,
27/07/2015: Chú thích 14 trong bài
Thích Trung Định |
Văn Hóa Phật Giáo số 305 ngày 15-9-2018
Sources: