Tuesday, April 19, 2016

Trinh Cong Son - Part II

Saigon in Turbulence
TCS's songs were introduced to Saigon during the 1960s at Van Khoa University (a college of humanities), which was located at the corner of Gia Long-Nguyen Trung Truc Streets in central Saigon.  TCS came from Bao Loc.  He often frequented, and hung around that university, for it was a hub of feverish youth activities.  At that time the University was about to move to a new location near the city zoo, because its current site could no longer afford enough space for the increasingly growing number of student enrollment.  Van Khoa is probably the most crowded university in Vietnam.  Long gone were the old days when Professor Cao Xuan Huy founded the first Van Khoa University in North Vietnam in 1949, with only seven students called "the Seven Scholars."
During the relocation, many lecture halls (a euphemistic way to call those simply assembled houses) were left empty.  All Saigon youth's cultural activities took place in those halls, shared by CPS (Student Activities Development Program), Young Artist Club, and Nguon Song Chorus.  The students occupied the remaining space for social gatherings and meetings.  At that time we were proud to be "the young," probably because we were disappointed at what "the old" had left to us.

Mother's heritage, what Mother left to her children, is a melancholic Vietnam.

We called ourselves young artists, young musicians, young singers, forgetting the fact that we ourselves sooner or later would become old, too.  Now among the old in the 21st century are those young people from that Van Khoa University.  One had to live in Van Khoa those days in order to appreciate the youth's feverish yearning for social and cultural activities, and to understand that those activities, given a good opportunity, could explode into a huge movement, a movement by the young to wake up the whole nation out of its air of melancholy.
The old university location was very convenient: Van Khoa was right at the heart of the city: just a few steps away were popular coffee houses along Catinat Boulevard, and Khai Tri BookStore, the biggest in Saigon, where you could read books free.  The owner of Khai Tri was a book lover who wanted to contribute to cultural development, and to encourage students to read.  We all enjoyed the free facilities and utilities, being so poor as we were --young artists, writers, musicians, and journalists, well-known but with empty pockets, waiting for the next pay check even when it was only the beginning of the month, to penniless students who dreamed big dreams about social reforms, but unable to buy even a cup of coffee.

mortars echoing from afar night after night...

From 1963 Saigon youth's activities accelerated and became increasingly intense.  We lived in the streets more often than at home or in classes.  One demonstration after another, forums against the Ngo Dinh Diem administration's Buddhism suppression, protests and meetings to voice against the junta governments which repetitively replaced one after another.  Demonstrations became our daily activity.  Between the demonstrations we casually stopped by and got into classes to pick up some lecture notes only to look decent in the role of students.  That period was the time when the young actively participated in the nation's political life, with all their youthful enthusiasm flavored with some childish naivety, the naivety of those who believed that through demonstrations they might overthrow the government, and could, at least, bring down this politician or that general, not realizing the harsh truth: in their nation's chaos, the Vietnamese were simply pawns in foreigners' hands.

(To be continued)

Source:

"Trịnh Công Sơn và những ngày Văn Khoa"
by Trần Công Sung



Sài Gòn, những ngày xáo trộn
Tiếng hát TCS đến với Sài gòn vào những năm 60, ở trường đại học Văn Khoa Sài Gòn, nằm trên góc đường Gia Long – Nguyễn Trung Trực, ngay trung tâm thành phố. Sơn ở Bảo Lộc trôi giạt về, lai vãng thường xuyên vì cái sinh hoạt trẻ ở đó rất náo nhiệt. Trường đang rục rịch di chuyển một phần về cơ sở mới gần sở thú Sài Gòn vì số sinh viên tăng rất nhanh, trường cũ không đủ chỗ. Văn Khoa là trường đông sinh viên nhất ở Việt Nam. Xa rồi, cái trường Văn Khoa đầu tiên ngoài Bắc, do giáo sư Cao Xuân Huy sáng lập năm 1949, với số sinh viên vỏn vẹn có bẩy người, gọi là thất hiền.[5]
Trường di chuyển, nhiều gỉảng đường bỏ trống. Gọi là giảng đường cho sang, sự thực đó chỉ là những căn nhà tiền chế. Tất cả những gì gọi là sinh hoạt văn hoá xã hội của giới trẻ Sài Gòn kéo về, chiếm đóng những căn nhà tiền chế. Một phần dành cho CPS (Chương trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường), một phần dành cho hội họa sĩ trẻ, đoàn văn nghệ Nguồn Sống. Phần còn lại, một số sinh viên chúng tôi tịch thu làm nơi tập trung, hội họp.
Hồi đó, người ta tự hào thuộc giới trẻ, có lẽ vì thất vọng với những gì “lớp già” để lại. Gia tài của mẹ để lại cho con, gia tài của mẹ, một nước Việt buồn. Họa sĩ trẻ, nhạc sĩ trẻ, ca sĩ trẻ… quên rằng người ta sớm muộn gì cũng …già. Các “cụ” trong nhóm Người Việt, Thế Kỷ 21 ngày nay đều là những người trẻ ngày xưa ở sân trường Văn Khoa.
Phải sống ở Văn Khoa những ngày ấy mới thấy sinh hoạt văn nghệ, sinh hoạt xã hội là một nhu cầu thiết yếu của tuổi trẻ, và nếu có cơ hội, sinh hoạt ấy bùng lên, tuổi trẻ bùng lên, đất nước không còn là một nước Việt buồn. Sống ở đó rất tiện: Văn Khoa nằm ngay trung tâm thành phố, đi vài bước là tới những tiệm cà phê nổi tiếng trên đường Catinat, vài bước là tới Khai Trí, tiệm sách lớn nhất Sài Gòn, tha hồ đọc sách cọp.

Ông chủ Khai Trí là một người mê sách, muốn phát triển văn hóa, ông ấy khuyến khích sinh viên đọc sách cọp. Nhà cửa điện nước đều của chùa, rất tiện, trong khi hầu hết chúng tôi đều nghèo kiết xác, từ những ông họa sĩ trẻ, những ông văn nghệ sĩ có tiếng nhưng không có miếng ở đất nước của Tản Đà, Văn chương hạ giới rẻ như bèo, những ông ký giả đầu tháng đã hết lương, những ngày cuối tháng khó khăn, nhất là 30 ngày cuối tháng, theo cách nói của Coluche[6], đến đám sinh viên trong đầu đầy những mộng đổi đời, cải tạo xã hội và trong túi không có đủ tiền uống một ly cà phê.

đại bác đêm đêm vọng về…

Từ 1963, sinh hoạt giới trẻ Sài Gòn cực kỳ náo nhiệt. Chúng tôi sống ở ngoài đường nhiều hơn ở trong nhà hay trong lớp học. Hết biểu tình, hội thảo chống đàn áp Phật giáo dưới thời ông Diệm, đến hội thảo, biểu tình chống các chính phủ thi nhau lên xuống. Xuống đường trở thành một sinh hoạt thường nhật. Giữa những cuộc biểu tình, những buổi hội thảo, thỉnh thoảng ghé vào giảng đường học vài chữ cho phải phép. Đó là giai đoạn giới trẻ tham gia tích cực vào đời sống chính trị xứ sở.

Với lòng nhiệt thành, và cố nhiên với đôi chút ngây thơ. Ngây thơ tin vào sức mạnh vạn năng của tuổi trẻ, nhất là khi thấy chỉ vài buổi xuống đường cũng đủ lật đổ một chính phủ, một ông tướng, một chính khách; và quên mất rằng trong cái hỗn loạn của đất nước, người Việt chỉ là những quân cờ thí.


__,_._,___

Sunday, April 17, 2016

Not Only A Country of War


[Dang Thai Son playing Chopin's Piano Concerto no. 2, op. 21, with the Warsaw Philharmonic under Tadeusz Strugala, live at the Chopin competition on 18 October 1980. He won first prize that year. This recording is ripped from an LP. To quote from a 1981 NY Times article.]

The pianist's mother, Thai Thi Lien, who studied at the Paris Conservatory and completed her education in Prague, began teaching her son in earnest when he was 5. At 8, he passed the entrance examination at the School of Music of Vietnam. A year later, the school, its faculty and 700 students and its 60 pianos were evacuated and dispersed into the countryside between Hanoi and the Chinese border, and continued functioning even under the most intense bombing.

''The peasants with whom we were quartered did not like the pianos in their houses because when we played - and each piano was played all day because there were so few - they could not hear the planes approaching,'' said Mrs. Lien. She and her son laughed, to keep an American from feeling that they spoke in accusation.

''We built grass huts just for the pianos, and trenches next to them, into which we jumped when the planes came,'' Mrs. Lien, who was head of the school's piano department, said. ''Still we played all day, and in the evening we had very intimate lecture-concerts by candlelight.''

Mr. Son finished his secondary studies in 1976, emerging first in his class, and was sent to the Tchaikovsky Conservatory in Moscow to study under Vladimir Natanson [and later Dmitri Bashkirov], whom he reveres.

''Professor Natanson told me that rarely had a student made so much progress as I did in my first year,'' Mr. Son said. ''It is not so surprising - it was the first time that I played on pianos that worked well. When I first saw the conservatory, I stood in front of it and admired it and was afraid to enter. They had to come out to bring me in.''

Unlike other winners of major competitions, Mr. Son took only a year's leave from the Tchaikovsky Conservatory to fulfill some of the engagements that are the reward for the winner in Warsaw's Chopin Competition. He will return this month to resume his normal studies. ''I have so much to learn,'' he said. His mother added, ''He must enlarge his cultural and intellectual baggage.''

------

''Most importantly, my sudden success will help to change the thinking of those who know Vietnam only as a country of war,'' he said. ''We were understimated. Now Vietnam also speaks to the world in the language of music.''

Данг Тхай Шон - Фредерик Шопен - Концерт для фортепиано с оркестром № 2

Source: 
https://www.youtube.com/watch?v=yJWE3sLDtyg&spfreload=5 
Dang Thai Son plays Chopin Piano Concerto no. 2 - live 1980

Sunday, April 10, 2016

Will Rogers on Government

I don't make jokes.  I just watch the government and report the facts.

Humorist Will Rogers

Friday, April 8, 2016

Trinh Cong Son and the Month of April (Part I)

One day in early April 2001 I drove to Charles de Gaulle Airport to pick up a friend of mine from Vietnam.  On our way to Paris, he asked me: "Have you got news about Trinh Cong Son?"  I nodded.  Some days ago I had received a call about TCS's death.
The friend said TCS's funeral procession was unimaginably long.  People from nowhere came like ants, covering all over the streets.  Some familiar, some not.  There was no more place for condolence wreaths.  I said to my friend: "If so then the nation is still civilized, and there's still hope for a cure against its foils and follies."  The news about TCS was the brightest information about Vietnam that I have ever received after so many years.  Dostoevsky says, "Beauty will save humankind."  Leaving work and business behind in order to bid farewell to a poet and musician (TCS is truly both) proves that the Vietnamese still care about what is beautiful; hence, they must have a profound inner life.
A spontaneous thought about Doctor. Jivago by Boris Pasternak suddenly came to my mind.  Like TCS, Jivago was a poet.  Like Son, he was caught up in a historic whirlwind, and thrown away into a catastrophic tragedy.  Like millions other Russians, Jivago was snatched out of his family and homeland when the proletarian revolution fell upon Russia, sweeping away everything: possessions, family, friends, love, in an uprooted society.  Only one thing remained unchanged: as a poet Jivago continued to compose poems, and used poetry as his witness, lifesaver, and a source of hope to motivate himself.  When Jivago died, many people came to attend his funeral, some he might not have known at all.  Pasternak wrote that Russians simply love poems and poets.  That means they love what is beautiful, so there's some hope.  It is totally hopeless when people no longer care about anything, not even beauty.  TCS is the most optimistic symbol, a shining character in a national novel full of tragedies: war, deaths, separation, broken stories, a spark of light in the pitch dark sky.

It is still raining, raindrop after raindrop....

When Charles Trenet died, thousands of people attended his funeral to bid adieu to the best-known contemporary French poet and musician.  During that funeral procession, within a few hours, the attendees temporarily became oblivious to the fact that they were living in a materialistic society which struggles all day long in an endless snatch-and-grab rush.  For in those few hours they felt as if they had been lifted up to some level of sublimation where life seemed to be more meaningful, simply because humans share their love and appreciation for what is beautiful.  Trenet wrote: "Poets pass away, but their singing voices continue to dance in the streets."
TCS passed away, but his songs can be heard as if they were dancing from all narrow alleys and street corners, not only in Vietnam, but also all over the globe.  The Vietnamese, scattered in all walks of life in the world, like a brood of chicks that lost their hen, had to settle themselves in some foreign land, and brought with them the smell of fish sauce, durian, pho, and TCS's songs. 
I have listened to TCS's music through Khanh Ly's smoky narcotic voice, Thai Thanh's timeless soprano, Le Thu's sentimental contralto, and many many more anonymous singers who live in exile but prefer to speak Vietnamese, and through singers from younger generations, who sing TCS's music in a Vietnamese mixed with some American, French or German accent.

I heard TCS's songs from houses in New York, Tokyo, Budapest, Athens, or Palerme.... One late afternoon, at the edge of a forest thousands of  kilometers from Rio de Janeiro, Brazil, in such a remote place where you might think there would not be a soul, I heard a harsh voice singing from a cabin.

It is still raining on the steps of the ancient stupa/Your long fingers reaching for those years of haggard, sleepless eyes

It was from an old Asian-Indian man who had lived in Vietnam since childhood.  He had escaped as a refugee.  When his boat was wrecked, he was saved by a Brazilian ship, and he had stayed in Brazil since then, making his living as a forest guard.  In solitude all day long for years after years, endlessly, the old Indian man dreamed of rains falling upon an ancient stupas in a far-away land where he once considered as his second homeland.
One day in a small restaurant in the coastal suburbs of La Havana, where lobsters are illegally sold to tourists (lobsters are a national specialty and commodity, and reserved for exports or consumed in designated state-owned restaurants only), I heard a female voice, a very clear and sweet singing voice, from the kitchen in the back:

One gustily windy day I was strolling, murmuring/ Your name on my lips, the name of Vietnam/So intimate in the tone of our common (Vietnamese) tan.

The woman was a Northerner from Hanoi, who settled in La Havana, Cuba, in a cooperation exchange program between the two socialist nations.  She might have been too sick of singing the pugnacious and truculent songs about killing enemies during war times.  
TCS's art works have penetrated our national soul.  A nation of over 80 million people.  Little children and the illiterate uncounted, there may be about 50 million who know how to compose poetry.  In fact, one does not need to be literate or educated to compose poetry: composers of the best poems in Vietnamese literature, the pastoral country songs and verses that have been orally-transmitted for generations, are actually peasants who never learned how to read nor write.  Among the 50 millions who know how to compose, each generation has introduced a few well-known poets.  Among the professional poets, few are those who have truly penetrated the masses' inner life, and voiced the national soul.  TCS is one among the very few.

(To be continued)

Source:


Trịnh Công Sơn và những ngày Văn Khoa
by Trần Công Sung



Trịnh công Sơn và những ngày Văn Khoa

by Trần Công Sung
Gởi những người bạn Sài Gòn ngày xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(Vũ Đình Liên)

Một ngày đầu tháng tư (2001), tôi lên phi trường Charles de Gaulle đón một người bạn từ Việt Nam qua. Trên xe về Paris, anh ta hỏi: Cậu có nghe tin về Trịnh Công Sơn (TCS)? Tôi gật đầu. Mấy hôm trước, có người gọi dây nói cho hay TCS vừa từ trần.

Anh bạn nói đám tang Sơn rất đông. Người ta ở đâu đổ về như kiến, chật cả đường phố. Quen có, lạ có. Không đủ chỗ đặt vòng hoa phúng điếu. Tôi nói với ông bạn: Như vậy, cái xứ của ông vẫn còn văn minh, vẫn còn thuốc chữa.

Đó là cái tin lạc quan nhất về Việt nam mà tôi được nghe từ nhiều năm nay. Dostoievski[1] nói: Cái đẹp sẽ cứu vãn nhân loại[2]. Bỏ công ăn việc làm, đến tiễn đưa một thi sĩ – TCS là một nhạc sĩ – thi sĩ – chứng tỏ người ta còn nghĩ đến cái đẹp, người ta còn có tâm hồn.

Tự nhiên tôi nghĩ đến “Bác sĩ Jivago” của Boris Pasternak. Cũng như Sơn, Jivago là một thi sĩ. Cũng như Sơn, Jivago bị cuốn hút trong cơn lốc của lịch sử, bị quẳng vào một bi kịch kinh thiên động địa từ trời giáng xuống. Như hàng triệu người Nga, Jivago bị đánh bạt ra khỏi gia đình, quê hương khi cách mạng vô sản Nga ập xuống nước Nga, cuốn trôi tất cả: gia sản, vợ con, bè bạn, tình ái trong một xã hội thay đổi tận gốc rễ.
Chỉ có một điều không bao giờ thay đổi: là một thi sĩ, Jivago tiếp tục làm thơ. Lấy thơ làm nhân chứng, lấy thơ làm cái phao. Lấy thơ làm một nguồn hy vọng để vươn lên. Khi Jivago chết, người ta ở đâu đổ về rất đông, nhiều người không hề quen biết. Pasternak viết: người Nga yêu thơ, yêu thi sĩ. Nghĩa là yêu cái đẹp, nghĩa là chưa hoàn toàn tuyệt vọng. Chỉ hoàn toàn tuyệt vọng khi người ta không còn thiết tha đến điều gì, ngay cả cái đẹp. Đó là nét lạc quan nhất trong một cuốn sách đầy thảm kịch : chiến tranh, tang tóc, chia lìa, đổ vỡ. Một tia sáng loé lên trong bầu trời đen tối.

mưa vẫn mưa rơi…

Khi Charles Trenet[3] chết, hàng chục ngàn người kéo về đưa tang một nhạc sĩ – thi sĩ hiện đại nổi tiếng nhất của Pháp. Đưa tang Trenet, người Pháp, trong vài giờ, quên mình đang sống trong một xã hội vật chất, suốt ngày túi bụi giành giựt. Trong vài giờ, thấy mình vươn lên, thấy đời có ý nghĩa hơn, bởi còn yêu cái đẹp. Trenet viết: Những thi sĩ đã qua đời, nhưng tiếng hát của họ vẫn bay nhẩy trên khắp đường phố.[4]

TCS đã qua đời, nhưng tiếng hát của anh vẫn bay nhẩy trong các hang cùng, ngõ hẹp. Không phải chỉ ở Việt Nam, mà trên khắp địa cầu. Người Việt, tan tác như một đàn gà mất mẹ, nương thân trên khắp nẻo đường thế giới, mang theo những kỷ niệm quê hương, mang theo mùi nước mắm, mùi sầu riêng, mùi phở và mang theo tiếng hát TCS.

Tôi đã nghe TCS qua tiếng hát nhừa nhựa khói thuốc của Khánh Ly, tiếng hát thánh thót, không có tuổi của Thái Thanh, tiếng hát truyền cảm của Lệ Thu; và rất nhiều tiếng hát vô danh, tiếng hát của những người sống ở ngoại quốc nhưng chỉ nói tiếng Việt, của những người thuộc thế hệ sau này, hát TCS với một thứ tiếng Việt pha giọng Mỹ, giọng Pháp, giọng Đức. 
Tôi đã nghe tiếng hát TCS vọng ra từ những căn nhà ở New York, Tokyo, Budapest, Athènes hay Palerme…Một buổi chiều tàn, trong một bìa rừng ở Brésil (Ba Tây), cách Rio de Janeiro hàng ngàn cây số một nơi khỉ ho cò gáy, tưởng như không có hơi người, tôi nghe một giọng khàn khàn vọng ra từ một căn nhà gỗ. Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ/Dài tay em với mấy thuở mắt xanh xao.

Người hát là một ông già gốc Ấn Độ, sống ở Việt nam từ nhỏ.Vượt biển, thuyền đắm, ông già được tầu Ba Tây vớt, ở lại Ba Tây, làm nghề canh rừng. Suốt ngày, lủi thủi một mình, tháng năm dài đằng đẵng, ông già Ấn mơ đến những cơn mưa trên tầng tháp cổ ở một xứ ông đã nhận làm quê hương. 
Một ngày ở ngoại ô La Havanne, trong một tiệm ăn nhỏ trên bờ biển, nơi người ta bán lậu tôm hùm cho du khách (tôm hùm là tài sản quốc gia, chỉ để xuất cảng hay bán trong những tiệm ăn quốc doanh), tôi nghe một giọng hát đàn bà, rất trong, rất ngọt từ trong bếp vọng ra Ngày gió lớn tôi đi môi gọi thầm/ Gọi tên anh tên Việt Nam/ Gần nhau trong tiếng nói da vàng. Người hát là một bà Bắc kỳ, từ Hà Nội tới Cuba, trong một chương trình hợp tác gì đó giữa hai nước “xã hội anh em”, có lẽ đã mệt nhoài sau nhiều năm thề ăn gan uống máu quân thù.

Tác phẩm TCS đã đi sâu vào tâm hồn dân tộc. Nước ta có trên 80 triệu dân. Trừ trẻ con và những người không biết đọc, biết viết, có khoảng 50 triệu người làm thơ. Sự thực, không cần phải biết đọc, biết viết mới biết làm thơ: tác giả những câu thơ đẹp nhất trong văn chương Việt Nam, ca dao, là những người nông dân không biết đọc biết viết. Trong số 50 triệu người làm thơ, mỗi thế hệ cho vài ba thi sĩ. Những thi sĩ đi sâu vào tâm khảm đám đông, gặp gỡ tâm hồn một dân tộc còn hiếm hoi hơn nữa. TCS thuộc cái số hiếm hoi đó.
__,_._,___


Sunday, April 3, 2016

Memories about the War

When I was about ten or twelve, on a trip to the Mekong Delta with my mother, our bus had to stop and wait for a long time.  All the passengers were asked to get off the bus, and waited in line to be checked by the police and soldiers.  Other buses and trucks also had to lay over for a long time, at least three hours or more.  The police searched all luggage left inside each vehicle.  It was a very tiring and worrisome experience.  My mother thought we might have to change the route and take another bus.  Finally,  we were told we could continue our journey.  We had to walk a long distance before we could get into the same bus.  As we were walking, I saw a big pool of blood, right next to an abandoned bus with broken and bloody glass windows.  The ambulance might have taken away all the victims.  There had been an explosion from a mine buried in the road, or some bomb attack by Vietcong in the early morning that day, they said.  But the road was cleared and safe now.  Only snack vendors and owners of food stalls along the road seemed to profit and feel good about such traffic delays.  
I was too young when Tet Offensive 1968 broke out.  Families in our neighborhood were celebrating Tet just as we had been doing it for years.  My brother and his friends were playing with some firecrackers in the alley, when suddenly there were a series of gun shots and explosions from some streets not far away, which even children would not mistakenly have thought as firecrackers.  Our elder sister called us to get inside immediately, and again all doors and windows were locked.  From then on we could no longer hear firecrackers during Tet.
The war seemed to change a lot when I entered high school, at least in my perception about it.  There were no more GIs or "Rooms for Rent" and "House for Rent" signs.  Nor was there black markets with boutiques that sold all kinds of American GIs' foods and goods  along Nguyen Thong Street, things like canned peanut butter, cheese, 555 or Salem packs of cigarettes, candies, beers, alcoholic and soda drinks, etc.  Just a few years ago, it was along that street where once in a while I had strolled with my Mom to buy some American butter or cheese, which we could enjoy with freshly baked bread in the early morning.  But that did not last long.
All young men in South Vietnam during war time hated military draft, and they had to live under great pressure: they either had to study hard to avoid exam failure, or used every possible means, including bribing local officials and military officers, using false documents, and fasting to lose weight during the army enlistment months, in order to avoid being forced into the army and sent to the front.  There was news about the Paris Peace talks.  At night now and then I still heard rockets echoing from afar.
One evening, my eldest brother, a college student in Saigon, gave me a ride to a big university dormitory called Minh Mang Dormitory, to watch a student gathering around a bonfire in the middle of the dorm yard.  I now have no clue why he took me there, for it was obviously not safe for little girls like me.  That gathering turned out to be one organized by a politically-motivated anti-government group, not a simple social get-together by students living in the dorm.  Most students were clapping hands and singing antiwar songs, some sitting around the fire, some standing nearby or watching from the windows of their rooms or hanging in groups in the halls and balconies.  All of a sudden the leader's voice from the microphone and the singing stopped short, and the students started to run in all directions: the police had come and might have thrown some tear gas into the crowd.  Before I knew it, my brother already got me on the back of his Suzuki motorcycle, and rode me out of that chaotic scene in time.
From my mother I learned that my brother cried hard after he had returned from Quang tri in Central Vietnam, where he had to perform his duties as a physician serving the wounded at the front during the Fiery Red Summer of 1972.  He said to her: "Why was I forced to heal wounds and put together human bodies, while the meaningless war continues to tear them apart?"  That statement, a resonance of many lyrics in Trinh Cong Son's antiwar music, was the protest voice of many young people growing up during the war like my brothers and their generations.   
During those years the cost of living seemed to be sky-rocketing for all families.  My father had to work very hard.  He would come home very late in the evening, exhausted.  Soon after his supper, he would go to bed immediately.  It was not simple to support a big family with so may young children.  Finally, in addition to my father's salary, my parents decided to rent parts of our house to students and those who had come to Saigon to study or to work, and needed a place to rent.  My mother also had to cook meals for them.  Our meals seemed to improve considerably.  Together members in the household lived like one big family.






  

Maha Satipatthana Sutta

This is the only method/way to purify (transform) the monkey (capricious/ever-changing) mind, to put an end to anxieties, depression, discontentment, laments, to eradicate both physical and mental suffering, and to follow the Noble Path and attain Nirvana.  This (method) is called the Four Foundations of Mindfulness/Awareness.
What are they?
The Bhikkhu diligently observes his body.  With effort and mindfulness he observes it and guards against all desires, attachments and hatred.
The Bhikkhu diligently observes his feelings and sensations. With effort and mindfulness he observes them, and guards against from all desires, attachments and hatred.
The Bhikkhu diligently observes his cognition and consciousness.  With effort and mindfulness he observes them, and guards them from all desires, attachments and hatred.
The Bhikkhu diligently observes dharmas.  With effort and mindfulness he observes them and guards  from all desires, attachments and hatred.

Maha Satipatthana Sutta

..................................


Thấy bản chất vô thường, khổ, vô ngã của sự vật là mục tiêu, hay cốt tủy của Thiền Minh Sát. Nếu bạn hành Thiền Minh Sát bạn phải thấy ba đặc tính này bởi vì chữ minh sát (vipassanà) có nghĩa là thấy bằng nhiều cách. Và thấy bằng nhiều cách có nghĩa là thấy sự vật dưới ánh sáng của Vô thường, dưới ánh sáng của Khổ và dưới ánh sáng của Vô ngã. Điều quan trọng và mục tiêu của việc hành Thiền Minh Sát là thấy ba đặc tính này, và để thấy ba đặc tính này chúng ta phải quán sát, theo dõi đề mục trong hiện tại. Muốn chú tâm vào đề mục hiện tại bạn cần phải tinh tấn. Không có tinh tấn không thể đạt được kết quả tốt đẹp. Đó là lý do tại sao Đức Phật dạy: Phải có tinh tấn, ý thức sáng suốt và chánh niệm trong khi hành thiền minh sát. Khi chúng ta có thể thực hành trọn vẹn, đầy đủ những điều kiện này - tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm - và tâm định thì chúng ta có thể chế ngự được tham ái và ưu phiền trên đối tượng chúng ta đang quán sát.



GIỚI THIỆU KINH ĐẠI NIỆM XỨ
Maha Satipatthana Sutta
Tác giả: Hòa thượng Silananda
Dịch giả: Khánh Hỷ

Này các thầy tỳ-khưu...

Đây là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc, diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh Đạo và chứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ (bốn cách quán sát).

Bốn cách quán sát đó là gì?

Này các thầy tỳ-khưu, ở đây (theo lời dạy này). tỳ-khưu quán sát thân trong thân, tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm, loại bỏ mọi tham ái và ưu phiền (sân hận) trong cõi đời (trong thân).

tỳ-khưu quán sát thọ trong thọ, tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm, loại trừ mọi tham ái và ưu phiền (sân hận) trong cõi đời (trong thọ).

tỳ-khưu quán sát tâm trong tâm, tinh cần tỉnh giác và chánh niệm, loại trừ mọi tham ái và ưu phiền (sân hận) trong cõi đời (trong tâm).

tỳ-khưu quán sát pháp trong pháp, tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm, loại trừ mọi tham ái và ưu phiền (sân hận) trong cõi đời (trong pháp).
....................
Bạn đã biết bốn căn bản hay bốn nền tảng của sự thiết lập chánh niệm. Sở dĩ có bốn vì có bốn loại đối tượng:

1. Quán sát thân hay niệm thân: Đôi lúc thân không có nghĩa là toàn thể cơ thể vật chất mà là một nhóm yếu tố hay thành phần của vật chất. Hơi thở cũng được gọi là thân. Những thành phần khác của thân cũng được gọi là thân ... Chữ thân ở đây phải hiểu là tất cả những gì liên hệ với thân.
2. Quán sát thọ hay niệm thọ. Thọ là một tâm sở. Bây giờ ta đau ở thân và ta kinh nghiệm được sự đau vật chất này bằng tâm của ta. Trong tâm ta có một tâm sở gọi là thọ. Bởi vì đây là một sự đau, nên cảm thọ đây là cảm thọ đau. Khi đức phật nói: tỳ-khưu quán sát thọ trên thọ có nghĩa là quán sát trên tâm sở thọ này chứ không phải chánh niệm trên sự đau. Trong thực hành khi đau ta chú tâm vào sự đau và quán sát chánh niệm vào sự đau. Nhưng thực ra, khi ghi nhận hay niệm thầm "đau, đau" là chúng ta đã thực sự ghi nhận tâm sở thọ, và tâm sở thọ này cảm nhận sự đau trong cơ thể ta. Cảm thọ gồm 3 loại: Vui, khổ và vô ký.
3. Quán sát thức (thức) hay niệm thức. Thông thường chữ citta được dịch là tâm nhưng nên dịch là thức đúng hơn. Chữ Citta có nghĩa là ý thức. Trong Tâm Lý Học Phật Giáo, tâm là sự tập hợp của bốn yếu tố. Vậy cái mà ta gọi là tâm thật ra là một tập hợp của bốn yếu tố. Đôi khi có sự lẫn lộn giữa hai danh từ tâm và thức. Trước tiên hãy xem tâm là sự tập hợp của thức và các yếu tố của tâm. Thức được định nghĩa là sự nhận biết hay ý thức đối tượng. ý thức hay sự nhận biết đây không phải là sự nhận biết hay ý thức trong chánh niệm. Thức ở đây chỉ là sự ý thức hay sự nhận biết thông thường. Chẳng hạn như, tôi nhận biết có người nào đang đứng đó, mặc dầu tôi đang nhìn đây. Sự nhận biết hay ý thức như vậy gọi là thức (citta). ít ra trong Vi Diệu Pháp cũng gọi sự nhận biết đơn thuần này là thức. Theo nghĩa thông thường thì chữ thức có một nghĩa rộng hơn hay hẹp hơn. Cần ghi nhận một điểm ở đây là: Chúng ta dùng chữ thức để chỉ cho (citta), nhưng dịch như vậy không chính xác. Thức được định nghĩa là một yếu tố hay thành phần của tâm, và thành phần của tâm này làm nhiệm vụ ý thức hay nhận biết đối tượng. Chỉ khi nào có nhận biết đối tượng thì mới có sự tiếp xúc (xúc) với đối tượng, cảm nhận đối tượng, thích đối tượng, không thích đối tượng v.v... Như vậy, những tâm sở đã hỗ trợ cho thức, nhưng đồng thời cũng là những thành phần của tâm. Như vậy, trước tiên tâm được chia làm hai thành phần: Thức và tâm sở. Xúc, thọ, tưởng, chú tâm, thích, không thích ... được gọi là những tâm sở (yếu tố của tâm). Theo vi diệu pháp thì có 52 tâm sở và 52 tâm sở này được chia làm ba nhóm: thọ, tưởng và hành. Như vậy, khi ta thêm thức vào nhóm thọ, tưởng hành này thì ta sẽ có bốn thành phần của tâm: Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Mỗi khi tâm nhận đối tượng thì bốn thành phần này cùng sinh khởi một lúc.
Đức Phật với trí tuệ cao siêu có thể phân tích và định danh từng tâm sở này một cách tinh tế rõ ràng khi chúng đồng thời nhận đối tượng. Đây là một điều thật kỳ diệu.
Khi đang hành thiền và có sự lo âu phát sinh ta ghi nhận: "lo âu, lo âu", có nghĩa là lúc bấy giờ ta có một thức đi kèm với lo âu. Đây là quán sát trên "thức". Khi ta ghi nhận: "Giận, giận" thì ta cũng đang quán sát trên thức.
4. Quán sát Pháp trên Pháp: Dhamma (Pháp) là một chữ Pàli rất khó dịch hay khó có thể dịch một cách chính xác. Tùy theo từng trường hợp, chữ Dhamma được dùng với một nghĩa khác. Ta không thể dùng một chữ cố định nào đó để dịch chữ Dhamma vì làm như thế sẽ sai. Dhamma được dùng trong kinh Đại Niệm Xứ chỉ đơn giản để chỉ: Năm chướng ngại, năm nhóm tập hợp, sáu căn, sáu trần, bảy pháp giác ngộ, bốn chân lý cao thượng. Chữ Pháp dùng trong niệm pháp chỉ để chỉ các pháp nêu trên thôi. Như vậy, nên để nguyên chữ Dhamma, đừng dịch, và hãy hiểu chữ Dhamma tùy theo từng trường hợp, từng đoạn kinh. Phần lớn dịch Dhamma là "đối tượng thuộc về tâm" hay "đối tượng của tâm". Nhưng cả hai lối dịch này đều không thỏa đáng.
Bây giờ chúng ta hãy học cách quán sát pháp trên pháp. Nếu chú tâm vào sự sân hận là bạn đã quán sát pháp trên pháp. ở đây, một lần nữa tôi nhắc lại: Pháp không có nghĩa là giáo pháp hay gì khác. Thấy cái gì và bạn chú tâm chánh niệm vào cái đó là bạn đang quán sát pháp trên pháp. Như vậy đề mục pháp để quán sát rất rộng bao gồm: Năm chướng ngại, năm nhóm tập hợp, sáu căn, sáu trần, bảy pháp giác ngộ, bốn chân lý cao thượng. Nếu chúng ta dịch Dhamma là đối tượng thuộc về tâm có nghĩa là lấy tâm làm đối tượng để quán sát thì không đúng lắm vì có nhiều đối tượng không phải là tâm (như các trần: hình sắc, mùi, vị ...). Nếu dịch là "đối tượng của tâm" có nghĩa là bao gồm tất cả mọi đối tượng, đối tượng nào cũng được. Cả thân lẫn tâm đều là đối tượng. Vậy thì niệm gì cũng có thể gọi là niệm pháp được cả. Vì không thể nào dịch chữ Dhamma cho chính xác được, thế nên hãy để yên chữ Pàli, đừng dịch.
Tôi đã từng nói với các bạn rằng không phải thực hành bốn căn bản chánh niệm theo thứ tự ghi trong sách, cũng không cố gắng tìm xem ta đang quán sát lãnh vực nào của chánh niệm: quán sát thân, quán sát thọ, quán sát tâm hay quán sát pháp. Nếu cố gắng tìm xem ta đang chánh niệm loại nào đây thì sẽ bị vọng tâm. Là một thiền sinh, bạn phải quán sát chi nhận đề mục trong hiện tại; không cần tìm hiểu xem đề mục thuộc loại nào: thân, thọ, tâm hay pháp gì cả. Dầu đề mục gì đi nữa, bổn phận của bạn là chánh niệm ghi nhận để khỏi tham đắm, dính mắc hoặc ưu phiền sân hận trên đối tượng mà bạn đang quán sát này.
Để khỏi bị tham ái và ưu phiền (sân hận) bạn phải tinh tấn chú tâm chánh niệm. Bạn không có đủ thì giờ để tìm xem đây là tâm là pháp hay đây là cái gì khác. Khi hành Thiền Minh Sát bạn phải thực hành trên tất cả bốn căn bản chánh niệm mỗi một khi chúng diễn ra. Bao lâu bạn chánh niệm trên đối tượng trong hiện tại là bạn đã hành thiền đúng, và hành thiền tốt đẹp. Hành thiền không tốt là khi bạn bị tư tưởng lôi kéo đi, bạn quên mất việc hành thiền trong vài giây hay trong vài phút. Nhưng bao lâu bạn còn chánh niệm là bạn đã làm đúng và việc hành thiền đang tiến triển tốt đẹp.

Có thiền sinh nghĩ rằng nếu họ không định tâm được trên đề mục chính là họ không hành thiền. Đôi khi họ nói: "ô! Tôi đã phí thì giờ để ghi nhận tâm đi đây đi đó, và tôi không có nhiều thì giờ để chú tâm với đề mục chính." Dầu bạn chú tâm vào đề mục chính hay đề mục phụ, điều đó không quan trọng; bao lâu bạn còn chú tâm vào chúng được là bạn đã hành thiền đúng.

Điều quan trọng đầu tiên trong việc hành Thiền Minh Sát là chú tâm chánh niệm vào đề mục đang xảy ra trong hiện tại. Đôi khi bạn bị thất niệm, bạn hãy lấy sự thất niệm này làm đề mục và ghi nhận "quên, quên" hay "thất niệm, thất niệm" rồi trở về với đề mục chính. Bạn phải luôn luôn chánh niệm trong mọi lúc, trong mọi nơi, và nếu bạn có thể giữ chánh niệm liên tục, tâm khắn khít trên đề mục thì bạn sẽ tiến bộ nhanh chóng và sẽ bắt đầu thấy được bản chất của sự vật; có nghĩa là bạn sẽ thấy được đề mục sinh và diệt. Khi thấy được sự vật sinh diệt bạn cũng thấy được sự vật là vô thường. Khi thấy được sự vật vô thường bạn cũng thấy được bản chất đau khổ của sự vật và bản chất vô ngã hay thấy rằng bạn không thể điều khiển hay kiểm soát chúng được; chúng sinh và diệt một cách tự do theo ý muốn của chúng, ta không làm chủ được chúng. Khi thấy được như thế là bạn đã thấy được ba bản chất tổng quát của mọi pháp hữu vi, pháp có điều kiện. Thấy bản chất vô thường, khổ, vô ngã của sự vật là mục tiêu, hay cốt tủy của Thiền Minh Sát. Nếu bạn hành Thiền Minh Sát bạn phải thấy ba đặc tính này bởi vì chữ minh sát (vipassanà) có nghĩa là thấy bằng nhiều cách. Và thấy bằng nhiều cách có nghĩa là thấy sự vật dưới ánh sáng của Vô thường, dưới ánh sáng của Khổ và dưới ánh sáng của Vô ngã. Điều quan trọng và mục tiêu của việc hành Thiền Minh Sát là thấy ba đặc tính này, và để thấy ba đặc tính này chúng ta phải quán sát, theo dõi đề mục trong hiện tại. Muốn chú tâm vào đề mục hiện tại bạn cần phải tinh tấn. Không có tinh tấn không thể đạt được kết quả tốt đẹp. Đó là lý do tại sao Đức Phật dạy: Phải có tinh tấn, ý thức sáng suốt và chánh niệm trong khi hành thiền minh sát. Khi chúng ta có thể thực hành trọn vẹn, đầy đủ những điều kiện này - tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm - và tâm định thì chúng ta có thể chế ngự được tham ái và ưu phiền trên đối tượng chúng ta đang quán sát.
 


Source: