Wednesday, February 6, 2019

Buddha Nature

Meditation in every moment.  It is not limited to the moment when you are practicing zazen sitting --focusing on your breath while observing the rise and the disappearance of your thoughts.  It is your mindfulness, or calm and peaceful awareness, in your daily behaviors and activities, such as standing, walking, sitting, eating....  
There will be a moment when you, unintentionally or by chance, suddenly recognize Buddha Nature from within.  That is the real YOU.   




CÁI ‘BẢN LAI DIỆN MỤC’
QUA DIỄN GIẢI CỦA THIỀN SƯ NHẬT BẢN

Thiền sư Daito Kokuchi.
Hạnh Huệ dịch

Đi ngồi nói năng… tất cả đều là thiền. Không phải chỉ có tọa thiền và đè nén tư tưởng mới là thiền. Dù đứng hoặc ngồi, hãy ráng chú tâm và tỉnh giác, bất chợt sẽ nhận ra bản lai diện mục.

Tất cả những người học thiền phải hiến cả thân mình ngay lúc khởi đầu để tọa thiền. Ngồi trong tư thế kiết già hoặc bán già, với đôi mắt khép hờ, nhìn được bộ mặt xưa nay trước khi cha mẹ sanh ra. Có nghĩa là thấy được trạng thái trước khi cha mẹ sinh, trước khi đất trời phân cách, trước khi bạn nhận thân người. Cái gọi là bản lai diện mục sẽ xuất hiện. Bộ mặt này không màu sắc và hình thể, như hư không trong suốt không tướng mạo.
Bản lai diện mục (bộ mặt thật xưa nay) vốn không tên, nhưng được biểu thị bằng lời như “bản lai diện mục”, “ông chủ”, “Phật tánh” và “chân Phật”. Tựa như người lúc mới sanh không có tên, về sau được gán cho những tên khác nhau. Tất cả 1700 công án hoặc đề mục dành cho thiền sinh hiến cả thân mình, chỉ cốt làm cho họ thấy được bản lai diện mục.
Đức Thế Tôn ngồi thiền trong núi tuyết sáu năm, nhìn thấy sao mai mà giác ngộ. Tức thấy được bản lai diện mục. Khi cổ nhân đại ngộ hay có một bùng vỡ lớn, nghĩa là họ thấy được bản lai diện mục. Nhị Tổ đứng trong tuyết chặt cánh tay để được giác ngộ. Lục Tổ nghe một câu Kim Cang rồi chứng ngộ. Linh Nguyên ngộ khi thấy hoa đào nở. Hương Nghiêm lúc nghe tiếng sỏi chạm vào bụi tre. Lâm Tế khi bị Hoàng Bá đánh. Động Sơn khi thấy hình mình in dưới nước. Tất cả đều được gọi là bắt gặp vị chúa tể hay chủ nhân.
Thân là nhà và phải có một ông chủ nhà. Chủ nhà được hiểu là bản lai diện mục. Biết được nóng lạnh, hay cảm thấy thiếu thốn, hoặc có những ham muốn v.v… Tất cả đều là vọng tưởng và không phải là chủ nhân thực sự của ngôi nhà. Những vọng tưởng này là những thứ được thêm thắt và tan biến theo từng hơi thở, lôi kéo chúng ta rơi vào địa ngục và luân hồi trong sáu đường. Tiếp tục tọa thiền càng sâu, sâu mãi, sẽ tìm được căn nguyên của vọng tưởng. Một tư tưởng không có bất cứ hình thể tướng mạo nào, nhưng vì tin chắc những tư tưởng này tồn tại ngay cả sau khi chết, nên ta rơi vào địa ngục với nhiều đau thương khổ não trong thế gian vô thường này.
Lúc nào tư tưởng dấy khởi hãy buông đi! Bạn chỉ cần quét sạch mọi tư tưởng tức là thành tựu tọa thiền. Khi tư tưởng được buông bỏ, bản lai diện mục xuất hiện. Tư tưởng giống như những đám mây, khi mây tan vầng trăng ló dạng. Vầng trăng chân thường đó là bản lai diện mục.
Tự tâm chính là Phật. Kiến tánh là nhận ra tâm Phật. Buông bỏ tư tưởng một cách liên tục, rồi sẽ thấy Phật tại tâm. Nếu cho rằng không thể nhận ra chân tánh trừ khi ngồi thiền là một lầm lẫn. Huyền Giác nói :
Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền
Nói nín động tịnh thể an nhiên
Tức dạy rằng đi ngồi nói năng … tất cả đều là thiền. Không phải chỉ có tọa thiền và đè nén tư tưởng mới là thiền. Dù đứng hoặc ngồi, hãy ráng chú tâm và tỉnh giác, bất chợt sẽ nhận ra bản lai diện mục.


Monday, January 21, 2019

The Ultimate Reality


THỰC TẠI TỐI HẬU
Nguyễn Thế Đăng

Phác họa về thực tại tối hậu
Khi đưa tâm thức lên tầng tâm linh, người ta có thể tiếp xúc, thấy và sống được thực tại tối hậu. Điều này đã được chứng minh trong suốt lịch sử Phật giáo: sau Đức Phật, vị đạt đến thực tại tối hậu hoàn toàn (giác ngộ viên mãn) thì suốt dòng thời gian luôn luôn có những người đạt đến thực tại ấy, dù không trọn vẹn bằng Đức Phật. Với hệ Pali, có bốn cấp độ trong kinh nghiệm Niết-bàn, và với hệ Sanscrit, có mười cấp độ (mười địa) trong kinh nghiệm thực chứng Pháp thân. Niết-bàn hay Pháp thânthực tại tối hậu của đạo Phật.
Ở đây chúng ta nói đến những tính cách của thực tại tối hậu, để định hướng cho mình, tùy theo khuynh hướng của mỗi người, để đến một lúc nào tiếp xúc được với nó, hoặc ít nhất cũng có một niềm tin vào sự hiện hữu của thực tại đó.
Bình đẳng
Kinh Đại bát Niết-bàn nói: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Thực tại tối hậu ấy vốn có nơi mỗi chúng ta, và đạo Phật là những con đường, những pháp môn phương tiện để khai mở cho chúng ta thấy trực tiếp kho tàng Phật tánh đó.
Chỉ một sự bình đẳng của Phật tánh này thôi, làm cho đạo Phật là đạo của hòa bình, không chiến đấu giành giựt, không tranh đua được mất, không tìm lợi thế hơn thua. Chỉ là quay lại chính mình, quay đầu là bờ, xoay cái nghe nghe lại tự tánh (kinh Lăng-nghiêm), về lại nguồn gốc, quay về nương tựa (quy y)… Đạo Phật không dẫn người ta đi ra ngoài để đến với một vị giáo chủ nào đó, mà đưa người ta về với chính mình, sống trong kho tàng Phật tánh của chính mình.
Sự bình đẳng của Phật tánhtuyệt đối, bất chấp sự khác biệt về hình tướngcuộc đời của mỗi người, vì sự khác biệt ấy là do nghiệp mỗi người tự tạo và có tính cách tạm thời, có thể biến đổi. Lấy thí dụ Phật tánh là vàng, tất cả chúng ta đều có bản chất là vàng, nhưng vàng ấy thành món đồ gì, tách trà, cây viết, con dao… là do mỗi người tự tạo bằng nghiệp của mình.
Có mặt ở bất cứ nơi nào, thời gian nào
Một định nghĩa của thực tại tối hậutánh Không. Tánh Không là sự không có hiện hữu nội tại độc lập của tất cả mọi hiện hữu. Tánh Không là sự không có tự tánh của bất cứ sự vật gì. Bất cứ sự vật gì, bất cứ hiện hữu gì ở bất cứ nơi đâu đều không có tự tánh, đều là tánh Không. Như vậy, tánh Không có mặt ở tất cả mọi chỗ, tất cả mọi thời, tánh Không là toàn khắp.
Thực tại tối hậutánh Không ấy thì toàn khắp, có mặt trong từng mảnh nhỏ, trong từng khoảnh khắc của cuộc đời mỗi người, không ai thiếu hụt, không ai có nhiều hơn ai. Tánh Không có mặt trong mỗi hạt bụi, mỗi khoảnh khắc của cuộc đời mỗi người, đây là sự bình đẳng tuyệt đối. Đạo Phật là những con đường cho chúng ta trở lại với bản lai diện mục của chính mình, chính là tánh Không bình đẳng trong mọi không gian mọi thời gian ấy.
Không hai (Bất nhị)
Không hai không chỉ là một lời tuyên bố, mà đúng ra, một chứng ngộ, một cái thấy rốt ráo về thực tại. Đây là một từ có mặt trong hầu hết kinh điển Phật giáo. Chẳng hạn, phẩm “Nhập Pháp môn Bất nhị” kinh Duy-ma-cật nói: “Bồ tát Phổ Thủ nói: Ngã và vô ngã là hai. Ngã còn không thể đắc, vô ngã làm sao có thể đắc. Thấy thật tánh của ngã thì không còn sanh khởi hai ý niệm. Đó là vào Pháp môn Không hai”.
Thay vì phải diệt trừ ngã để đạt đến vô ngã, và khi vô ngã hoàn toàn thì người ta không thể sống được trên cõi đời này để làm Phật sự, thì với Pháp môn Không hai, người ta cần “thấy thật tánh của ngã là không thể đắc”, bấy giờ ngã và vô ngã là không hai, vấn đề của Bồ-tát đã được giải quyết.
“Bồ-tát Na-la-diên nói, Thế gianxuất thế gian là hai. Thế gian tánh Không, tức đó là xuất thế gian, trong đó không có đi vào, không có ra khỏi, không tiến bộ, không lui sụt. Đó là vào Pháp môn Không hai.
Bồ-tát Thiện Ý nói, Sanh tử và Niết-bàn là hai. Nếu thấy tánh sanh tử thì không có sanh tử, không có trói buộc, không có giải thoát, không sanh, không diệt. Hiểu như vậy, đó là vào Pháp môn Không hai.
Bồ-tát Điện Thiên nói, Minh và vô minh là hai. Thật tánh của vô minh tức là minh. Minh cũng không thể nắm lấy, lìa tất cả số lượng, trong đây bình đẳng không có hai. Đó là vào Pháp môn Không hai”.
Tính cách “bình đẳng không có hai” này không phải là một thực tại đồng nhất, một thứ, đơn điệu, thậm chí chết chóc, mà là một thực tại có đủ sự khác nhau, sai biệt, biến đổi, nhưng vẫn là không hai. Những biểu hiện thành sắc thanh hương vị xúc pháp, sắc thọ tưởng hành thức, mắt tai mũi lưỡi thân ý… chính là tánh Không, không hai, không khác. Như Tâm kinh Bát-nhã nói: “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác sắc, sắc tức là Không, Không tức là sắc…”.
Thực tại tối hậutánh không hai như vậy.
Nối kết với thực tại tối hậucon đường tất yếu
Như đã nói ở trước, tôn giáo (religion) có nguyên nghĩa là “nối kết trở lại” với thực tại tối hậu. Nối kết trở lại với thực tại tối hậucon đường, là cách sống tất yếu của con người.
Chúng ta thấy, lịch sử loài người đã đi từ lối sống săn bắn hái lượm đến nông nghiệp, từ nông nghiệp tiến đến công nghiệp, rồi hậu công nghiệp và bây giờ là mạng toàn cầu, trí thông minh nhân tạo… Những thể chế chính trị, kinh tế, xã hội đều tiến hóa từ bộ lạc đến quốc gia quân chủ, và bây giờ là dân chủ với thị trường tự do. Nhưng trải qua nhiều mô hình phát triển của xã hội như vậy, tôn giáo vẫn tồn tại, điều đó chứng tỏ con người còn thiếu thốn một nhu cầu căn bảntối hậu. Nhìn chung, lịch sử loài người là một cuộc hành trình đi đến (hoặc đi về) thực tại tối hậu qua những bước tiến bộ trong mọi lãnh vực xã hội của mình. Một chúng sanh đã tiến hóa đến cấp độ con người, nó tất yếu phải tiến hóa tiếp tục, để bước vào và sống trong thực tại tối hậu.
Thực tại tối hậu luôn luôn bao trùm chúng ta, đi đâu, ở đâu chúng ta cũng không thể ra ngoài nó. Các giác quan chúng ta luôn luôn tiếp xúc với nó, dù đó là mắt hay tai mũi lưỡi thân ý. Có điều chúng ta không nhận ra nó, vì thiếu mục đích sống, thiếu chánh niệm tỉnh giác.
Không những tất cả chúng ta đều bình đẳng vì đều có Phật tánh, chúng ta cũng bình đẳng trong cơ hội để thấy ra nó. Chúng ta bình đẳng trong “tài liệu học tập”, trong “dữ kiện” vì ai cũng có sắc thanh hương vị xúc pháp, và mọi thứ ấy có ngay trước mắt tai mũi lưỡi thân ý của chúng ta. Chúng ta chỉ cần nhìn ra “thật tánh của ngã”, “thật tánh của sanh tử”, “thật tánh của vô minh” để hoàn thành công cuộc tiến hóa đã nhiều kiếp của chúng ta.
Chúng ta không thể từ chối hoặc trì hoãn sự tiến hóa tất yếu này. Như một hạt giống đã thành cây, nó phải ra hoa và thành quả. Ngay cả lấy lý do là vì hoàn cảnh, thì hoàn cảnh ấy dù tốt dù xấu, vẫn là sự biểu lộ của thực tại tối hậutánh Không. Ngay cả lấy lý do là vì nghiệp thì nghiệp ấy vẫn là không có tự tánh, nghĩa là tánh Không.
Đạo Phật là những chỉ bày (khai thị) để chúng ta thấy được (ngộ) và sống trọn vẹn (nhập) trong thực tại tối hậu.
Nguyễn Thế Đăng Văn Hóa Phật Giáo số 312 ngày 1-1-2019
https://thuvienhoasen.org/a31157/thuc-tai-toi-hau