THỰC TẠI TỐI HẬU
Nguyễn Thế Đăng
Phác họa về thực tại tối hậu
Khi đưa
tâm thức
lên tầng
tâm linh,
người ta có thể
tiếp xúc,
thấy và sống được
thực tại
tối hậu. Điều
này đã được
chứng minh
trong suốt lịch sử Phật giáo: sau
Đức Phật, vị
đạt đến thực tại tối hậu hoàn toàn (
giác ngộ viên mãn) thì suốt
dòng
thời gian
luôn luôn có những người
đạt
đến thực tại
ấy, dù không
trọn vẹn
bằng
Đức Phật.
Với hệ Pali, có bốn cấp độ trong
kinh nghiệm Niết-bàn, và với hệ Sanscrit, có
mười cấp độ (mười địa) trong
kinh nghiệm thực chứng Pháp thân. Niết-bàn hay
Pháp thân là
thực tại tối hậu của
đạo Phật.
Ở đây
chúng ta
nói đến những
tính cách
của
thực tại tối hậu, để định
hướng cho mình,
tùy theo
khuynh hướng của mỗi người, để đến một lúc nào
tiếp xúc được với nó, hoặc
ít nhất cũng có một
niềm tin vào sự
hiện hữu của
thực tại đó.
Bình đẳng
Kinh Đại bát Niết-bàn nói: “Tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh”.
Thực tại tối hậu ấy vốn có nơi mỗi
chúng ta, và
đạo Phật là những
con đường, những
pháp môn phương tiện để khai
mở cho
chúng ta
thấy trực tiếp kho tàng
Phật
tánh đó.
Chỉ một sự
bình đẳng
của
Phật tánh
này thôi, làm cho
đạo Phật
là đạo của hòa bình, không chiến đấu giành giựt, không
tranh đua được mất, không tìm
lợi thế hơn thua. Chỉ là quay
lại chính mình, quay đầu là bờ, xoay cái nghe nghe lại
tự tánh (kinh Lăng-nghiêm), về lại nguồn gốc,
quay về nương tựa (
quy y)…
Đạo Phật không dẫn
người ta đi ra ngoài để đến với một vị
giáo chủ nào đó, mà đưa người ta về với chính
mình, sống trong kho tàng
Phật
tánh của chính mình.
Sự
bình đẳng
của
Phật tánh
là
tuyệt đối,
bất
chấp sự
khác biệt về
hình tướng
và
cuộc đời
của mỗi người, vì sự khác biệt ấy là do nghiệp mỗi người tự tạo và có
tính cách tạm thời,
có thể
biến đổi.
Lấy
thí dụ Phật tánh là vàng,
tất cả
chúng ta
đều có
bản chất
là vàng, nhưng vàng ấy thành món đồ gì, tách trà, cây viết, con dao… là do mỗi
người tự tạo bằng nghiệp của mình.
Có mặt ở bất cứ nơi nào, thời gian nào
Một định nghĩa của
thực
tại tối hậu
là
tánh Không.
Tánh Không là
sự không có
hiện hữu
nội tại
độc lập
của tất cả mọi
hiện hữu.
Tánh Không là
sự không có
tự tánh
của bất
cứ sự
vật gì. Bất
cứ sự
vật gì, bất cứ
hiện hữu
gì ở bất cứ nơi đâu đều không có
tự tánh, đều là
tánh Không. Như vậy,
tánh Không có mặt ở tất cả mọi chỗ, tất cả mọi
thời,
tánh Không
là toàn khắp.
Thực tại tối hậu là
tánh Không ấy thì
toàn khắp, có mặt trong từng mảnh nhỏ, trong từng khoảnh khắc của
cuộc đời mỗi người, không ai
thiếu hụt, không ai
có nhiều hơn ai.
Tánh Không
có mặt trong mỗi
hạt bụi,
mỗi khoảnh khắc của
cuộc đời
mỗi người, đây là sự
bình
đẳng tuyệt đối.
Đạo Phật là
những
con đường
cho
chúng ta trở lại với
bản lai diện mục
của chính mình, chính là
tánh
Không bình
đẳng trong mọi
không gian mọi
thời gian ấy.
Không hai (Bất nhị)
Không hai không chỉ là một lời
tuyên bố, mà đúng ra, một
chứng ngộ, một cái thấy
rốt ráo về
thực tại. Đây là
một từ có mặt trong hầu hết
kinh điển Phật giáo. Chẳng hạn, phẩm “Nhập
Pháp môn Bất nhị”
kinh
Duy-ma-cật nói: “
Bồ tát Phổ Thủ nói: Ngã và vô ngã là hai. Ngã còn không thể đắc, vô ngã làm sao có
thể đắc. Thấy thật tánh
của ngã thì không còn sanh
khởi hai ý
niệm. Đó là vào Pháp môn Không hai”.
Thay vì phải
diệt trừ
ngã để
đạt đến
vô ngã, và
khi
vô ngã hoàn toàn thì người
ta không thể sống được trên cõi đời này để
làm Phật sự, thì với
Pháp môn Không hai, người ta cần “thấy
thật tánh của ngã
là không thể đắc”, bấy giờ ngã và
vô ngã là không hai,
vấn đề của Bồ-tát đã được
giải quyết.
“Bồ-tát Na-la-diên nói, Thế gian và xuất thế gian là hai. Thế gian tánh Không, tức đó là xuất thế gian, trong đó không có đi vào, không có ra khỏi,
không tiến bộ,
không lui sụt. Đó là vào Pháp
môn Không hai.
Bồ-tát Thiện Ý
nói, Sanh tử
và Niết-bàn là hai. Nếu thấy tánh sanh tử thì không có sanh tử, không có trói buộc, không có giải thoát, không sanh, không diệt. Hiểu như
vậy, đó là vào Pháp môn
Không hai.
Bồ-tát Điện Thiên nói, Minh và vô minh là hai. Thật tánh của vô minh tức là minh. Minh cũng không thể nắm
lấy, lìa tất cả số lượng, trong đây bình đẳng không có hai. Đó là vào Pháp môn Không hai”.
Tính cách
“bình đẳng không có hai” này không phải là một
thực tại đồng nhất, một thứ, đơn điệu, thậm chí
chết chóc, mà là một
thực
tại có đủ sự khác nhau,
sai biệt,
biến đổi, nhưng vẫn là không hai. Những biểu
hiện thành sắc thanh hương vị
xúc pháp, sắc
thọ tưởng
hành thức, mắt tai mũi lưỡi thân ý… chính là
tánh Không, không hai, không
khác. Như
Tâm kinh
Bát-nhã nói: “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác sắc, sắc tức là Không,
Không tức là sắc…”.
Thực tại tối hậu là
tánh không hai như
vậy.
Nối kết với thực tại
tối hậu là con đường tất yếu
Như đã nói ở trước,
tôn
giáo (religion) có nguyên nghĩa là “nối kết trở lại” với
thực tại tối hậu. Nối kết
trở lại với
thực tại tối hậu là
con đường, là
cách sống tất yếu
của
con người.
Chúng ta
thấy,
lịch sử
loài người đã
đi từ
lối sống
săn bắn hái lượm đến nông nghiệp, từ nông nghiệp tiến đến
công nghiệp, rồi hậu
công nghiệp và bây
giờ là mạng toàn cầu,
trí
thông minh nhân tạo… Những
thể chế chính trị, kinh tế,
xã hội đều
tiến hóa từ bộ lạc đến
quốc gia quân chủ, và bây giờ
là
dân chủ
với thị trường
tự do.
Nhưng
trải qua
nhiều mô hình phát triển của
xã hội như vậy,
tôn giáo vẫn
tồn tại, điều đó
chứng tỏ con người còn
thiếu thốn một nhu cầu
căn bản mà
tối hậu. Nhìn chung,
lịch sử loài người là một cuộc
hành trình đi đến (hoặc đi về)
thực tại tối hậu qua những bước
tiến bộ trong mọi
lãnh vực xã hội của mình.
Một
chúng sanh
đã
tiến hóa
đến cấp độ
con người,
nó tất yếu phải
tiến hóa
tiếp tục, để
bước vào và sống trong
thực
tại tối hậu.
Thực tại tối hậu luôn luôn
bao trùm
chúng ta,
đi đâu, ở đâu
chúng ta
cũng không thể ra ngoài nó. Các
giác quan chúng ta luôn luôn
tiếp xúc với nó, dù đó là mắt hay tai mũi lưỡi
thân ý. Có điều
chúng ta
không
nhận ra
nó, vì thiếu
mục đích
sống, thiếu
chánh niệm
tỉnh giác.
Không những tất cả
chúng
ta đều
bình
đẳng vì đều có
Phật tánh,
chúng ta cũng
bình đẳng trong cơ hội để thấy ra nó.
Chúng ta bình đẳng trong
“tài liệu học tập”, trong “dữ kiện” vì ai cũng có
sắc thanh hương vị xúc pháp, và mọi thứ ấy có
ngay
trước mắt
tai mũi lưỡi thân ý của
chúng
ta.
Chúng ta
chỉ cần nhìn ra “thật tánh của ngã”, “thật tánh của sanh tử”, “thật tánh của vô
minh” để
hoàn thành
công cuộc
tiến hóa
đã nhiều kiếp của
chúng ta.
Chúng ta
không thể từ chối hoặc
trì
hoãn sự
tiến
hóa tất yếu này. Như một
hạt giống đã thành cây, nó phải ra hoa và
thành quả. Ngay cả
lấy
lý do là
vì
hoàn cảnh,
thì
hoàn cảnh
ấy dù tốt dù xấu, vẫn là sự
biểu lộ của
thực tại tối hậu là
tánh Không. Ngay cả lấy
lý do là vì nghiệp thì nghiệp
ấy vẫn là không có
tự tánh,
nghĩa là
tánh Không.
Đạo Phật
là những chỉ bày (khai thị) để
chúng ta thấy được (ngộ) và sống
trọn vẹn (nhập) trong
thực tại tối hậu.
Nguyễn Thế Đăng Văn Hóa Phật Giáo số 312 ngày 1-1-2019
https://thuvienhoasen.org/a31157/thuc-tai-toi-hau