NTTVblog
Your vision will become clear only when you look into your heart.... Who looks outside, dreams. Who looks inside, awakens. Carl Jung
Tuesday, March 25, 2025
Trump thay đổi cuộc sống ở Washington D.C. ra sao
Trump thay đổi cuộc sống ở Washington D.C. ra sao
24/03/2025
Vũ Ngọc Chi chuyển ngữ 22-3-2025
Tổng thống Hoa Kỳ Trump đang cắt giảm nhiều việc làm. Nguồn ảnh: AFP
Gần 90% cử tri ở Washington [DC] đã bỏ phiếu cho đối thủ của Trump là Harris trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Kể từ khi quyền lực thay đổi, đặc phái viên của Trump là Musk đã giải thể một số cơ quan. Một bầu không khí u ám bao trùm thành phố, nhiều người lo sợ cho số phận của mình.
Jennifer Nikolaeff hít vào và thở ra chậm rãi. Vào, ra. Một khoảnh khắc bình yên cho họ trong những căn phòng yên tĩnh với sàn gỗ và những tấm thảm xanh mềm mại trải trên đó. Tại phòng tập yoga này ở Washington, Nikolaeff muốn tìm lại chính mình sau nhiều tuần khiến cuộc sống của bà bị đảo lộn. Giống như Nikolaeff, hàng ngàn người dân ở Washington cũng có cảm nhận tương tự. Donald Trump đã lại trở làm tổng thống được hai tháng – và đối với nhiều người ở thủ đô Hoa Kỳ, hầu như mọi thứ đã thay đổi.
Suốt 15 năm, Nikolaeff đã làm việc cho USAID, cơ quan viện trợ phát triển của Hoa Kỳ, mà Trump, với sự giúp đỡ của cố vấn Elon Musk, đã đóng cửa chỉ sau vài ngày. Từ đầu tháng 2, quyền truy cập vào mạng máy tính USAID của người phụ nữ 53 tuổi này đã bị chặn. Hai tuần sau, vào ngày lễ tình nhân, bà nhận được đơn sa thải. Bà cho biết, kể từ đó bà phải trải qua chu kỳ đau buồn mỗi ngày: Chán nản, cảm giác mất mát, tức giận. Tại phòng tập yoga, Nikolaeff gặp nhiều người có cùng số phận với mình và hiện phải tìm một công việc mới.
Có 700.000 người sống ở Washington, trong đó 70.000 người là nhân viên các cơ quan liên bang. Ít nhất 110.000 nhân viên khác sống ở vùng ngoại ô của thành phố. Trump và các đồng minh Cộng hòa của ông đã cắt bỏ việc làm của nhiều người trong số này. Ngoài USAID, các cơ quan khác cũng sẽ bị đóng cửa, chẳng hạn như Bộ Giáo dục, vốn là cái gai trong mắt nhiều chính trị gia bảo thủ của Hoa Kỳ trong nhiều năm.
90% cư dân thành phố đã bỏ phiếu cho đối thủ của Trump, Kamala Harris, thuộc đảng Dân chủ, trong cuộc bầu cử tổng thống hồi tháng 11 [năm 2024]. Điều này không ngăn cản đảng Cộng hòa giành chiến thắng trong cuộc bầu cử. Tâm trạng u ám bao trùm thành phố kể từ cuộc bầu cử tháng 11. Kể từ khi Trump nhậm chức hồi tháng 1, nhiều người đã mất đi kế sinh nhai.
Nỗi sợ hãi đang lan rộng
Trong tháng 2 năm nay, số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp cao gấp ba lần so với cùng kỳ năm ngoái. Nhiều người bị sa thải khỏi cơ quan nhà nước đang tìm kiếm việc làm – và đồng thời đang đấu tranh tại tòa án để lấy lại công việc cũ. Trong số nhiều người chưa bị sa thải, có một nỗi sợ là nhận được email định mệnh đó trong hộp thư của mình. Đôi khi điều này xảy ra khá đột ngột: Đột nhiên thẻ ra vào nơi làm việc bị chặn, thậm chí trước khi việc sa thải được xác nhận chính thức.
Và ngay cả với những nhân viên không sợ mất việc, công việc hàng ngày cũng trở nên khó khăn hơn: Các lựa chọn làm việc tại nhà đã bị hạn chế đáng kể – hoặc bị loại bỏ hoàn toàn. “Washington không còn ngủ nữa” là tiêu đề của bài viết trên báo Washington Post về trạng thái tinh thần của thành phố. Nhà trị liệu tâm lý Elana Woolf nhận thấy trong công việc của bà điều này có ý nghĩa gì. Bà nói: “Nhiều người đang phải chịu đựng tình trạng lo lắng và trầm cảm ngày càng gia tăng. Bạn thật sự nhận thấy tâm trạng và môi trường thay đổi như thế nào”.
Ngay cả trên một con phố không xa tòa Bạch Ốc, người ta cũng không thể làm ngơ trước cách mà chính quyền Trump đã thay đổi thành phố: Tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng “Black Lives Matter”, một dòng chữ màu vàng trên nhựa đường được kẻ hồi tháng 6 năm 2020, đã biến mất. Các công nhân đã sử dụng máy khoan búa khổng lồ để xóa những chữ cái – vinh danh công dân Mỹ gốc Phi – ra khỏi mặt đất sau khi các thành viên đảng Cộng hòa trong Quốc hội đe dọa sẽ cắt nguồn tài trợ liên bang cho thành phố Washington này.
Dòng chữ “Black Lives Matter” trước đây. Nguồn: Jacquelyn Martin/AP Photo/ Picture Alliance
“Black Lives Matter” đã bị đập bỏ trong tháng 3/2025. Nguồn: EagleView Technologies, Inc (aerial imagery), Leah Millis/REUTERS (photo)
“Có sự hỗn loạn trên thị trường lao động”
Tại Washington, một số người đang thể hiện sự đoàn kết với những người mất việc tại các cơ quan liên bang: Các bác sĩ thú y đang giảm giá, các quán bar tổ chức “giờ vui vẻ” đặc biệt cho những người bị sa thải và các cố vấn nghề nghiệp đang tổ chức các hội thảo để giúp soạn sơ yếu lý lịch được ưa chuộng hơn.
Điều này thật sự không giúp ích được nhiều người. Seth Commichaux, người bị sa thải sau chín năm làm việc tại Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA), cho biết: “Thị trường việc làm ở đây khá hỗn loạn. Khi tôi nộp đơn xin việc, đôi khi tôi thấy có tới 1.000 ứng viên cạnh tranh chỉ trong vài ngày”, ông phát biểu tại một cuộc biểu tình nhỏ của các công chức bị sa thải.
Tại phòng tập yoga, nơi Jennifer Nikolaeff và các nhân viên bị sa thải khác gặp nhau để nghỉ ngơi, chủ sở hữu Kristine Erickson nói về “cảm giác tuyệt vọng” trong thành phố. “Như thể chúng tôi đang bị trừng phạt vậy”.
Tuesday, February 18, 2025
Thân phận nhược tiểu
Trần Trung Đạo – 17 tháng 2, 2025
Khái niệm “bán đứng” (sold out) được dùng trong nhiều lãnh vực và thường dùng trong thì quá khứ để chỉ một sự kiện đã rồi. Trong chính trị học, “bán đứng” được dùng một cách khá lỏng lẻo để chỉ hành động phản bội, bỏ rơi, đổi chác hay có khi thông đồng giữa hai thành phần đối nghịch trên sự thiệt hại của thành phần thứ ba yếu hơn vốn là một đồng minh của một trong hai thành phần đối nghịch.
Lịch sử để lại nhiều bài học về thân phận đắng cay của các quốc gia bị “bán đứng” đã phải mất lãnh thổ, mất hàng triệu người dân vô tội trong cuộc chiến và mất quyền quyết định vận mệnh của chính mình khi cần quyết định. Bài này giới thiệu cả bốn trường hợp, “bỏ rơi”, bán đứng”, “đổi chác” “và “thông đồng”.
Mỹ “bỏ rơi” Việt Nam Cộng Hòa
Sau Thông Cáo Chung Thượng Hải giữa TT Nixon và Chu Ân Lai ngày 27 tháng 2, 1972, một chính sách đối ngoại mới của Mỹ được ra đời. Chủ thuyết Domino của TT Dwight D. Eisenhower cho rằng sự sụp đổ của VNCH sẽ dẫn tới sự sụp đổ dây chuyền của vùng Đông Nam Á không còn đúng và được thay bằng chủ thuyết Nixon đương đầu trực tiếp với các cường quốc bảo trợ chiến tranh đứng phía sau, trong trường hợp chiến tranh Việt Nam là LX và TC.
TT Nixon không còn nhìn Việt Nam như một điểm nóng trong Chiến Tranh Lạnh giữa Mỹ, TC và LX mà nhìn rộng hơn. Tài liệu lưu trữ tại Bộ Ngoại Giao Mỹ giải thích quan điểm của TT Nixon: “Trong khi đó, Nixon và Kissinger tìm cách định hình lại bối cảnh quốc tế của cuộc chiến thông qua việc xây dựng mối quan hệ với các đồng minh siêu cường của Bắc Việt là Moscow và Bắc Kinh. Nixon muốn tạo ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan cho Liên Xô và Trung Quốc – cho họ “con cá lớn hơn để chiên” theo cách nói của ông – trong việc lựa chọn giữa sự ủng hộ của họ đối với Bắc Việt Nam và mối quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ. Hội nghị thượng đỉnh năm 1972 tại Bắc Kinh và Moscow phản ánh chiến lược này, mặc dù các cường quốc Cộng sản vẫn tiếp tục hỗ trợ vật chất cho Hà Nội.” (Office of Historian, Richard Nixon, Ending the Vietnam War, 1969–1973, US State Deparment)
Trước Thông Cáo Chung Thượng Hải, VNCH và Mỹ có mục đích hoàn toàn tương hợp là ngăn chặn làn sóng CS không tràn xuống phía Nam Châu Á. Nhưng khi Mỹ bắt tay với TC, mục đích không mâu thuẫn nhưng không còn tương hợp nữa. Cuộc chiến tranh tự vệ của quân và dân miền Nam trở thành cuộc chiến cô đơn và cô thế. Dù có hay không vụ Watergate, với chủ thuyết Nixon, chiến tranh Việt Nam sẽ phải kết thúc, nhanh hay chậm chỉ là vấn đề thời gian. Về phía người dân Mỹ, theo Thống Kê của Gallup năm 1972, 61% người được thăm dò đồng ý việc Mỹ tham dự vào chiến tranh Việt Nam là một sai lầm trong khi chỉ 28% trả lời không đồng ý. Để kiếm phiếu, các ứng cử viên chạy đua vào Tòa Bạch Ốc năm 1972 dù Cộng Hòa (Richard Nixon) hay Dân Chủ (George McGovern) đều cổ võ cho một giải pháp hòa bình.
Trường hợp Việt Nam Cộng Hòa đã được hàng trăm tác giả từ các sử gia qua sách vở cho đến các lãnh đạo chính phủ viết lại trong hồi ký của họ như TT Nixon với The Memoirs of Richard Nixon, Hennry Kissinger với Ending the Vietnam War. Gần 50 năm từ ngày 30 tháng 4, 1975, “bỏ rơi VNCH” vẫn còn là một câu chuyện thời sự. Tiếng trực thăng cất cánh từ sân thượng của tòa đại sứ Mỹ như vẫn còn nghe. Những đoàn tàu ra khơi dường như vẫn còn để lại màu khói xám trên cảng Bạch Đằng Sài Gòn. “Bỏ rơi” là một động từ gợi hình và gợi cảm.
Khi nghĩ tới “bỏ rơi”, hai khuôn mặt nổi tiếng trong chính trị Mỹ gồm Richard Nixon và Henry Kissinger xuất hiện ngay trong tâm trí. Văn bản gọi là “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được thảo luận từ 1969 cho tới 27 tháng Giêng 1973, là kết quả của những cuộc đàm phán, phần lớn trong bí mật, giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Ngoại trừ những ngày chót, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong suốt thời gian mật đàm không hề được tham khảo.
Theo sử gia Fredrik Logevall “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không thực sự đồng ý với Hiệp định. TT Thiệu hiểu rất rõ miền Nam Việt Nam sẽ dễ bị tổn thương như thế nào nếu không có sự tham gia tích cực của Mỹ, và ông lo ngại rằng những lời hứa tiếp tục hỗ trợ mạnh mẽ của Nixon sẽ trở nên trống rỗng. Nixon buộc phải đưa ra lời đe dọa: Trừ khi Thiệu đồng ý với thỏa thuận, ông ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị cắt hoàn toàn viện trợ của Mỹ.” TT Thiệu không còn chọn lựa nào khác. Ngay cả khi sắp sửa ký, TT Thiệu cũng vẫn không ủng hộ nội dung của hiệp định Paris, chỉ không chống đối nữa thôi. (Historian Fredrik Logevall, 50 years later, the legacy of the Paris Peace Accords isn’t one of peace, Harvard Kennedy School, Jan 26, 2023)
Truyền thông Mỹ phê bình VNCH bại trận, không giữ được miền Nam. Không một cường quốc nào tự hào là chưa từng bại trận dù dư thừa nhân lực, võ khí, đạn bom. Nước Pháp với đạo quân 800 ngàn đã phải bỏ ngỏ Paris chỉ sau 6 tuần lễ của Thế Chiến Thứ Hai. Nước Anh thua trận Singapore khi 85 ngàn quân Anh đầu hàng tập thể trước một đạo quân Nhật chỉ 35 ngàn ngày 15 tháng 2, 1942. Trong trận Bataan, liên quân Mỹ-Philippines đầu hàng Nhật ngày 9 tháng 4, 1942 để sau đó chịu đựng Cuộc Đi Bộ Tử Thần (Bataan Death March) với gần 20 ngàn lính Mỹ và Phi chết trên đường tới trại tù.
VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu suốt hai năm sau trong điều kiện khó khăn thiếu thốn để đương đầu với một đạo quân cuồng tín ý thức hệ CS và được sự ủng hộ bằng sinh mạng, vật chất lẫn tinh thần của hai cường quốc CS, Trung Cộng và Liên Xô. Hạt gạo của TC gởi cho CSVN mới thật sự là “hạt gạo chẻ làm đôi” vì trong thời gian đó nhiều triệu dân số tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan) quê hương của Đặng Tiểu Bình chết đói.
Lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 20 là một lịch sử đầy ngộ nhận và sau nửa thế kỷ, danh dự của những người lính VNCH đã hy sinh hay còn sống vẫn chưa được phục hồi.
Neville Chamberlain “Bán Đứng” Tiệp Khắc
Trong những bài học “bán đứng”, bài học được biết nhiều nhất là bài học Sudetenland.
Sau Thế Chiến Thứ Nhất, dù thắng hay bại, các quốc gia đều phải chịu đựng một thời kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng. Khuynh hướng chủ hòa chế ngự trong sinh hoạt chính trị tại các cường quốc dân chủ và lãnh tụ hàng đầu của khuynh hướng này là thủ tướng Anh, Neville Chamberlain. Thủ tướng Neville Chamberlain tìm cách hòa giải mối thù địch với Đức. Khi Đức sáp nhập Áo, Chamberlain không có phản ứng cụ thể nào.
Khi Hitler công khai bày tỏ ý định sáp nhập vùng Sudetenland của Tiệp Khắc đang có hơn ba triệu người gốc Đức, vào lãnh thổ Đức, vấn đề trở nên phức tạp vì Tiệp Khắc có liên minh quân sự với Pháp và Pháp có liên minh quân sự với Anh.
Thủ tướng Anh Neville Chamberlain qua trung gian của Sir Horace Wilson chuẩn bị đàm phán với Đức và qua trung gian của Lord Runciman thuyết phục Tiệp Khắc nhượng bộ. Trong lúc Hitler thông đồng với các nước nhỏ như Hungary và Ba Lan để xẻ thịt Tiệp, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt tuyên bố chủ trương trung lập của Mỹ về tranh chấp Sudetenland.
Ngày 15 tháng Chín năm 1938, Thủ tướng Neville Chamberlain bay sang Đức để thương thuyết với Hitler. Các cuộc thương thuyết giằng co cho đến sáng sớm 30 tháng 9 năm 1938, thỏa hiệp Munich được ký kết giữa Đức, Anh, Pháp và Ý, trong đó, cho phép Đức sáp nhập vùng Sudetenland trù phú và chiến lược vào lãnh thổ Đức.
Tiệp Khắc không được mời tham dự hội nghị và chỉ được Anh Pháp thông báo kết quả.
Chính phủ Tiệp nghĩ rằng Tiệp Khắc không có hy vọng gì thắng được Đức bằng sức mạnh của riêng mình, đã đồng ý với nội dung của thỏa hiệp Munich. Theo thỏa hiệp này, tướng Đức Wilhelm Keitel được cử vào chức thống đốc quân sự vùng Sudetenland. Những người dân Tiệp không phải gốc Đức phải rời Sudetenland trong vòng 10 ngày và không được mang theo bất cứ một món sở hữu nào.
Mất Sudetenland, Tiệp Khắc không chỉ bỏ trống biên giới chiến lược phía nam mà còn mất 70% dự trữ sắt thép, 70% điện và 3 triệu công dân Tiệp. Trong lúc hiệp ước Munich là một thành quả ngoại giao lớn của Neville Chamberlain, đối với Hitler lại là một bước lùi. Mục tiêu của Hitler không phải chỉ chiếm vùng Sudetenland mà cả nước Tiệp như Wilson Churchill tiên đoán. Đầu năm sau, Hitler lần lượt chiếm các vùng Bohemia, Moravia và phần còn lại của Tiệp Khắc.
Câu “Phản bội Tiệp Khắc” để chỉ sự phản bội của đồng minh đối với Tiệp ra đời từ đó và còn đang lưu truyền cho tới ngày nay để chỉ âm mưu “bán đứng” Tiệp Khắc của Anh để mong đổi lấy hòa bình với Đức.
Winston Churchill “đổi chác” các nước vùng Balkans
Hôm đó là ngày 9 tháng 10, 1944, Thủ tướng Anh Winston Churchill đến Moscow gặp Joseph Stalin để bàn về tương lai của các quốc gia vùng Balkans. Bán đảo Balkans là khu vực địa lý ở phía nam Châu Âu giữa Biển Adriatic và Địa Trung Hải trong đó có những quốc gia nằm hẳn hay nằm một phần trong bán đảo như Albania, Bulgaria, Hy Lạp, Romania, Thổ Nhĩ Kỳ v.v… Chuyến viếng thăm lịch sử này được ghi lại trong cuốn thứ sáu của bộ sách về Thế Chiến Thứ Hai của Winston Churchill.
Vào buổi tối ngày đầu sau khi đến Churchill nói với Stalin: “Cho đến nay, như Anh và Nga quan tâm, làm thế nào để Nga có được 90% ưu thế tại Romania, để chúng tôi có 90% Hy Lạp, và 50-50 Nam Tư?”
Trong khi chờ thông dịch viên dịch, Churchill viết ra những đề nghị đó chi tiết hơn trên nửa tờ giấy và đưa cho Stalin. Theo lời của Churchill viết trong hồi ký: “Tôi chuyển mảnh giấy nhỏ cho Stalin. Ông ta cũng vừa nghe xong lời dịch. Có một khoảng im lặng ngắn. Sau đó, Stalin lấy cây bút chì màu xanh của mình và đánh một dấu lớn trên nó, và chuyển lại cho tôi. Tất cả đã được giải quyết trong thời gian không quá lâu. Sau đó là một khoảng im lặng dài. Tờ giấy và cây bút chì nằm ở giữa bàn.”
Nội dung nửa tờ giấy như sau:
Romania:
. Nga 90%
. Các quốc gia khác 10%
Hy Lạp:
. Anh (cùng với Mỹ): 90%
. Nga: 10%
Nam Tư: 50-50%
Hungary: 50-50%
Bulgaria:
. Nga 75%
. Các quốc gia khác: 25%
Trong thời điểm 1944, các dân tộc vùng Balkans hoàn toàn không biết rằng dù có thắng Hitler số phận của họ cũng đã bị ký thác vào tay một đồ tế khác độc tài và tàn bạo không kém là Stalin. Tài liệu đó dưới góc nhìn của các dân tộc Romania, Bulgaria, Hungary, Nam Tư và các nước Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc bị CS hóa dây chuyền là một bằng chứng cho sự phản bội của đồng minh. ((The Second World War. Volume VI, Triumph and Tragedy by Winston Churchill, January 1, 1953 )
Nếu năm 1942, Đồng Minh đổ bộ Balkans thay vì đổ bộ Bắc Phi thì khuôn mặt thế giới sau Thế Chiến Thứ Hai đã khác, Bức Màn Sắt cũng như Chiến Tranh Lạnh có thể không có. Nhưng đó chẳng qua là bàn chuyện đã rồi. Mảnh giấy mà chúng ta thường gọi là “giấy lộn” chỉ hơn mười chữ được Churchill giữ lại là một trong những tài liệu đổi chác lãnh thổ quan trọng nhất của Thế Chiến Thứ Hai. Hành động đơn giản như trò chơi giữa hai đứa trẻ nhưng đã quyết định số phận của bảy quốc gia (Tiệp, Ba Lan, Romania, Albania, Bulgaria, Nam Tư, Hungary) chưa tính Đông Đức, suốt 46 năm với không biết bao nhiêu nghèo nàn, chết chóc, ngục tù và chịu đựng.
Mao Trạch Đông “thông đồng” với Thực Dân Pháp trong Hiệp Định Geneva 1954
Trong trường hợp Hiệp Định Geneva, Mao không “bán đứng” nhưng đã lợi dụng xương máu của CSVN để củng cố vị trí của TC trên chính trường quốc tế. Mao Trạch Đông biết các quốc gia Triều Tiên, Việt Nam, Lào, Cambode nói riêng và Á Châu Thái Bình Dương nói chung có ảnh hưởng trực tiếp đối với an ninh của Trung Cộng. Đây là những tiền đồn, những vùng độn ngoài biên giới Trung Cộng mà trong suốt dòng lịch sử từ phong kiến đến CS đều muốn duy trì ảnh hưởng.
Để thực hiện âm mưu thâm độc thống trị Á Châu, Mao làm bộ mặt hòa hoãn, yêu chuộng hòa bình. Năm nguyên tắc “Sống chung hòa bình” gồm (1) tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, (2) không xâm lược nhau, (3) không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, (4) bình đẳng và cùng có lợi, (5) cùng chung sống hòa bình là đường lối ngoại giao chính của Trung Cộng.
Sau Chiến Tranh Triều Tiên với khoảng 600 ngàn quân bị giết, Mao không muốn tham dự vào một xung đột quân sự khác với Mỹ. Thay vào đó, Mao thỏa mãn với mô hình hai nước Triều Tiên và hai nước Việt Nam. Mao ủng hộ chủ trương hai nước Việt Nam không phải phát xuất từ lòng thương xót người dân miền Nam mà chỉ muốn tiếp tục chi phối chính trị Việt Nam. Tìm hiểu quan điểm của Mao qua các giai đoạn của cuộc chiến để thấy phía sau những khẩu hiệu tuyên truyền đường mật, dã tâm của Trung Cộng vẫn là khống chế Việt Nam bằng mọi cách.
Chính sách đối ngoại của Trung Cộng trong mười năm từ 1952 đến 1962, đặc biệt suốt hội nghị Geneva cho thấy Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã đi trước CSVN hàng mấy mươi năm. Trong mắt Mao và Chu trung ương đảng CSVN từ Hồ Chí Minh trở xuống là một đoàn cừu dễ bảo, khờ khạo đến mức tội nghiệp.
Mặc dù đổ không biết bao nhiêu xương máu trong suốt 9 năm, Hồ Chí Minh và các lãnh đạo CSVN không hề hay biết gì các thảo luận diễn ra giữa các cường quốc về một thỏa hiệp đình chiến tại Việt Nam mãi cho đến khi nhận điện tín của Chu Ân Lai ký ngày 11 tháng 3, 1954. Nội dung điện tín không phải để hỏi ý mà là vừa khuyên nhủ và vừa ra lịnh: “Hội nghị Geneva đã quyết định sẽ bắt đầu được tổ chức vào ngày 26 tháng 4. Tình hình quốc tế và tình hình quân sự ở Việt Nam hiện nay rất thuận lợi cho Việt Nam tiến hành đấu tranh ngoại giao. Dù Hội nghị Geneva có thể đạt được kết quả gì, chúng ta cũng nên tích cực tham gia.” (Telegram, Zhou Enlai to Ho Chi Minh, March 11, 1954, Wilson Center)
Nhắc lại, vấn đề triệu tập một hội nghị về xung đột Đông Dương tổ chức tại Geneva đã được Anh, Pháp, Liên Xô và Mỹ đặt ra trong gặp gỡ giữa tứ cường tại Berlin ngày 25 tháng 1, 1954. Chu Ân Lai cũng không biết nhưng khi được Liên Xô thông báo trong điện văn ký ngày 26 tháng 2, 1954 Mao và Chu đã giấu CSVN suốt hai tháng để có thời gian vận dụng biến cố như một sân khấu chính trị quốc tế riêng cho Trung Cộng.
Trung Cộng và CSVN “đồng sàng dị mộng”. Trung Cộng muốn thắng trận Điện Biên Phủ để buộc Pháp phải ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh trong khi CSVN muốn thắng trận Điện Biên Phủ để có lợi thế trong đàm phán.
CSVN dù nhiều ngàn người phơi xác dọc các phòng tuyến trong các cuộc tấn công biển người vào Điện Biên Phủ đã không giành được lợi thế nào trên bàn hội nghị. Đường phân chia lãnh thổ là vĩ tuyến 17 chứ không phải 13 theo ý muốn của CSVN.
Nhắc lại đoạn này không phải để tiếc giùm cho các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng nhưng để thấy CSVN hoàn toàn không đóng vai trò gì chủ động trong đàm phán mà hoàn toàn lệ thuộc vào Chu Ân Lai. CSVN chỉ đóng góp phần xương máu.
Tại hội nghị Geneva, Phạm Văn Đồng gặp Chu Ân Lai nhiều lần, đã nhìn cách ứng xử của họ Chu trên bàn hội nghị, đã thấy cách họ Chu dàn xếp kín với Pháp và Liên Xô bên trong hội nghị. Rõ ràng Chu Ân Lai có nghị trình riêng và theo đuổi nghị trình đó từ trước khi có hội nghị cho đến khi đặt bút ký. Những kẻ đổ máu xương không có quyền quyết định mà chỉ phải nghe theo. Thân phận chư hầu CS đó không chỉ chấm dứt sau Hiệp Định Geneva mà kéo dài mãi cho tới ngày nay.
Chọn lựa của các quốc gia nhược tiểu
Số phận của các nước nhược tiểu thời nào hay nơi nào cũng giống nhau. Nếu có hai câu lạc bộ thì số hội viên trong câu lạc bộ của những nước bị Mỹ phản bội hay bỏ rơi cũng đông không kém câu lạc bộ những quốc gia được Mỹ ủng hộ hay bảo trợ.
Những người có lương tâm và sống theo công đạo đều ủng hộ cuộc chiến tự vệ chính đáng của Ukraine. Nhưng lương tâm và công đạo chưa đủ, phải cần thế và lực. Trên đường dài, Ukraine không đủ lực để có thể đánh bại Nga trên chiến trường và không đủ thế để cô lập Nga.
Các biện pháp trừng phạt kinh tế của Mỹ và Châu Âu không thành công như dự đoán vì Mỹ và đồng minh của Ukraine tại Châu Âu không có các biện pháp chế tài hay ngăn chặn các nước thứ ba như Ấn Độ, TC, Belarus, Hungary, Áo, Czech v.v… làm ăn buôn bán với Nga. Tổng số 41% dầu của Ấn Độ được nhập từ Nga với giá rẻ. TC điền khuyết các thiệt hại kỹ thuật bán dẫn cho Nga do cấm vận gây ra. Nga và TC giao dịch bằng tiền của mỗi nước theo tỉ giá chứ không dựa trên đồng dollar nên không bị ảnh hưởng bởi các hình thức thanh toán quốc tế đã bị cấm vận. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế nền kinh tế Nga không suy sụp mà gia tăng 2.2% trong năm 2023. (Noah Berman , Two Years of War in Ukraine: Are Sanctions Against Russia Making a Difference?, Council on Foreign Relations, February 23, 2024)
Ngoại trừ việc Nga tấn công một thành viên NATO hay Ukraine có khả năng lôi kéo Nga vào một xung đột quân sự rộng hơn, cuộc chiến giữa Nga và Ukraine vẫn là chiến tranh giữa hai nước và mọi sự ủng hộ từ các quốc gia khác đều có giới hạn, kể cả giới hạn thời gian.
Các nước Châu Âu lớn tiếng ủng hộ Ukraine nhưng sự ủng hộ vật chất của họ không tương xứng và đi đôi với những lời phát biểu hùng hồn.
Tính theo đơn vị tỉ dollar, từ tháng Giêng 2022 đến tháng 12, 2024 Pháp chỉ viện trợ tổng cộng 5.1, Anh 15.4, Đức 18.1. Đan Mạch 8.4, Hòa Lan 7.7 trong khi Mỹ viện trợ 119.2. (Ukraine Support Tracker at the Kiel Institute for the World Economy released Feb 14, 2025)
Chiến tranh nào cũng phải kết thúc. Dù kết thúc dưới hình thức nào đi nữa, trong lòng nhân loại,
Ukraine vẫn là quốc gia chiến thắng.
Lịch sử thế giới ngàn năm sau vẫn còn in đậm dấu son của dân tộc Ukraine trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc đầy hào hùng của họ.
Trong một Podcast dành cho đài Tiếng Nói Hoa Kỳ ngày 25 tháng 2, 2024, 9 tháng trước ngày bầu cử TT Mỹ, người viết có giải thích trừ phi Ukraine và đồng minh đánh gục Nga như đã đánh gục Đức và Nhật trong Thế Chiến Thứ Hai, đàm phán giữa Nga và Ukraine vẫn sẽ diễn ra. Nga lẫn Ukraine không thể đàm phán những gì họ không có trong tay. Ukraine không thể chấp nhận giao cho Nga không chỉ bán đảo Crimea và tất cả vùng đất miền Đông Ukraine Nga đã chiếm được trong giai đoạn đầu của cuộc chiến và Nga vì nhiều lý do trong đó có cả thể diện, cũng không thể rút về biên giới Nga-Ukraine trước 2014.
Dù sao, ba năm qua, dưới sự lãnh đạo của TT Volodymyr Zelenskyy, Ukraine đã giành được cảm tình của phần lớn nhân loại. Tư cách và tài năng lãnh đạo của ông cho thấy Ukraine dù thiệt hại vẫn sẽ vượt qua để trở thành một cường quốc Châu Âu. Thật vậy, các điều kiện thế giới dù có thay đổi bao nhiêu, nếu một quốc gia có những lãnh đạo sáng suốt, có một tầm nhìn xa, biết đoàn kết và xác định một hướng đi rõ ràng, dân tộc đó sẽ vượt qua được mọi khó khăn.
Rất nhiều bài học vượt qua quá khứ để hướng tới tương lai. Người viết chọn một nước có vị trí hẻo lánh và sức mạnh chênh lệch để tham khảo, đó là Chiến tranh Mùa Đông (Winter War) giữa Goliath LX và David Phần Lan. Năm 1939, dân số Phần Lan chỉ vỏn vẹn 3.7 triệu người nhưng đã chiến đấu anh dũng chống lại quân Liên Xô với dân số 170 triệu. Quân dân Phần Lan đã chiến đấu ngang ngửa và thắng nhiều trận. Hội Quốc Liên đứng về phía Phần Lan và trục xuất Liên Xô ra khỏi tổ chức quốc tế này.
Tuy nhiên trong một cuộc chiến toàn diện và lâu dài Phần Lan không phải là đối thủ của LX. Sau những trận đánh đầu, LX tăng cường lực lượng và mở các cuộc phản công. Phần Lan yếu thế. Năm 1940, hiệp ước Moscow được ký kết giữa hai nước và Phần Lan nhượng cho LX 11% lãnh thổ để giữ được chủ quyền. Từ đó, sau khi vượt qua nhiều thử thách của Thế Chiến Thứ Hai, Chiến Tranh Lạnh, Phần Lan Hóa, quốc gia vùng Bắc Âu nhỏ bé này đã tồn tại và vươn lên để ngày nay là một trong những nước tiên tiến nhất thế giới trong nhiều lãnh vực. Trong suốt 10 năm liền từ 2014 đến 2024 Phần Lan được World Happiness Report xếp hàng đầu trong số các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới.
Cuối cùng sinh mệnh của một dân tộc vẫn nằm trong tay của dân tộc đó chứ không nằm trong tay ai khác.
Điện ảnh miền Nam Việt Nam – một dòng lịch sử
by Trúc Lâu
12 tháng 2, 2025
Tứ đại mỹ nhân màn bạc: từ trái: Thanh Nga, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Kiều Chinh. (Hình: Chuyenxua)
Sự đô hộ của Pháp và sau đó là 30 năm chiến tranh đã thành những trở ngại, đồng thời cũng là điều kiện cho sự xuất hiện của nền điện ảnh Việt Nam.
Vào năm 1895, tại tiệm Grand Café trên đại lộ Boulevard des Ca-pucines ở Paris, khi kỹ thuật điện ảnh của anh em nhà Lu-mière tỏ ra đầy hứa hẹn, lúc ấy Việt Nam không “tồn tại.”
Vào cuối thế kỷ 19, không có người Việt Nam, mà là “người An Nam.” Đất nước bị đô hộ và lãnh thổ bị chia thành ba: Một thuộc địa, Nam Kỳ; và hai bảo hộ, An Nam và Bắc Kỳ. Ba thực thể này, có tên gọi khác là Nam kỳ, Bắc kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ, được hợp nhất thành cả khu vực Đông Dương.
Theo nhà viết sử Christopher J. Jenner, vào ngày 6 Tháng Mười 1898, tờ Revue du Nam Ky cho quảng cáo một buổi chiếu phim trước Dinh Thống đốc ở Chợ Lớn. Rất tiếc, rất ít người Việt, chủ yếu là cư dân thành phố và cư dân Chợ Lớn, được tham dự buổi chiếu phim công khai đầu tiên đó.
Điều chắc chắn là Gabriel Veyre, tác giả quyển Lumière, Vòng Quanh Thế Giới Với Điện Ảnh, từng ở nhiều tháng tại Đông Dương, từ Tháng Tư 1899 đến Tháng Hai 1900. Cả ở Hà Nội và Sài Gòn, ông đều tổ chức các buổi chiếu để công chúng làm quen với điện ảnh. Là dược sĩ, người điều hành doanh nghiệp An-toine Lumière & Fils, Veyre đã có được hợp đồng từ 10,000 -12,000 franc cho các bức ảnh trích từ các buổi chiếu đó và cũng đã đạt được thỏa thuận với Thống Đốc Paul Doumer để ghi lại phim tài liệu Những Góc Nhìn Điện Ảnh cho cuộc triển lãm Văn hóa chính quốc tại Hà Nội vào năm 1900.
Các nhà chức trách thuộc địa Pháp khi ấy, trên hết, chỉ quan tâm đến những hình ảnh phục vụ chính sách của họ. Một trong những chủ đề lớn của Gabriel Veyre là quay cảnh sinh hoạt ở Sài Gòn của hoàng tử Valdemar của Đan Mạch, cả cho các cuộc triển lãm thuộc địa và cả để cung cấp tin tức. Tuy nhiên, sau Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhất, một số người Việt hăng hái cũng đã thử mở một rạp chiếu phim bản địa.
Nguyễn Văn Vĩnh, nhà báo, nhà văn và dịch giả, một trí thức quan tâm đến thành tựu hiện đại, đã cho triển khai dự án của bộ phim đầu tiên được sản xuất tại Hà Nội. Năm 1924, với sự hỗ trợ của một học giả “Nam hóa,” E. A. Famachon, và công ty Indochine Films et Cinémas (Hội Truyền Ảnh Đông Pháp), bản chuyển thể của Kim Vân Kiều Truyện đã được sản xuất.
Kim Vân Kiều Truyện – kiệt tác thơ hồi đầu thế kỷ 19 của Nguyễn Du là một câu chuyện buồn. Người đẹp Kiều yêu chàng Kim, vậy mà cô phải đồng ý lấy chồng khác. Cô không biết đó là kẻ mua bán người, nhưng nhờ của cải từ đám cưới ấy, cô đã nghĩ đó là cách duy nhất để cứu lấy danh dự của cha mẹ cô: Bị vu oan giá họa, họ buộc phải nộp phạt nặng hoặc phải ngồi tù. Trên thực tế, Kiều sẽ trở thành gái lầu xanh… Bộ phim đen trắng dài 500 mét câm đó đã thất lạc ư? Chẳng quan trọng lắm, vì phim ảnh Việt Nam thực sự bắt đầu chính từ đó!
“Những ai có được niềm vui khi xem bộ phim là tác phẩm điện ảnh đầu tiên ấy sẽ ngạc nhiên bởi vẻ độc đáo hoàn hảo của nó, theo nhiều cách, đã khiến sự xâm lăng của chính phim ảnh Mỹ hồi ấy bị bỏ xa” (L’Avenir Du Tonkin, số ra ngày 7 Tháng Ba 1924 viết). Sự khen ngợi này không hẳn đã được tán đồng hoàn toàn.
“Đó là một thi phẩm bị bóp méo. Và kết quả: Cả người An Nam lẫn người Pháp đều bĩu môi – Người bản xứ thì vì không còn nhận ra tác phẩm văn chương mang tầm vóc quốc gia của mình, còn người Pháp lại thấy nó chả đáng quan tâm”(M. Koch, Các Trang Về Đông Dương, năm thứ 2, số 4, ngày 15 Tháng Tư 1924).
Tuy nhiên, hai năm sau, người ta lại chỉ nói những điều tốt đẹp về nó, mà ngay tại Pháp mới giật gân: “Điều khiến bộ phim này trở nên quyến rũ không chỉ là vì sự kỳ diệu, vẻ ngây thơ rất trong sáng nó đã thể hiện, mà còn vì tài diễn xuất của các diễn viên. Một tập thể những nghệ sĩ tỉnh táo, không có bất kỳ nét diễn khoa trương nào, và đơn giản như chính chủ thể.”(Tạp chí Le Petit, ngày 4 Tháng Sáu 1926).
Trong số những phim do Indochine Films et Cinémas – IFEC sản xuất, chúng ta cũng có thể kể đến Huyền Thoại Bà Đế (Sự Tích Bà Dé, 1927), phim dài 1,000 mét của Georges Specht. Bất chấp những quan tâm và tò mò của công chúng, những trải nghiệm phim câm ít ỏi này đã không mang lại lợi nhuận, nên các công ty sản xuất tư nhân hoặc của Pháp hoặc bản xứ ở Việt Nam không thể tiếp tục chỉ làm phim Việt nữa mà từ bỏ hẳn thị trường điện ảnh Âu Mỹ và Hong Kong.
Thật vậy, những người đóng vai trò khá thiết yếu trong nền kinh tế khi ấy, là người Hoa sinh sống tại Việt Nam, cũng có một phần lớn tiếng nói thúc đẩy ngành công nghiệp điện ảnh. Một người Hà Nội gốc Hoa, Ngô Dung (Wu Yung), thành lập Công ty Guo Lian ở Hong Kong. Đối với các nhà sản xuất và phân phối (như Shaw Brothers – Thiệu Thị Huynh Đệ), thị trường Việt Nam khi ấy vẫn chỉ đứng sau Singapore và Malaysia.
Diễn viên La Thoại Tân. (Hình: Wikipedia.org)
Năm 1933, Wu Yung đạo diễn bộ phim câm Hoa Rơi và Ong Bướm với phụ đề tiếng Việt. Sau đó, khi phát minh ra cách lồng tiếng vào phim, nhóm kỹ thuật Đàm Quang Thiện ký hợp đồng với Yung để thực hiện một phim truyện mang tên Cánh Đồng Ma (1937). Câu chuyện này kết nối một nhà phân tích tâm lý và một kẻ giết người hàng loạt tên Hùng. Sử dụng thuật thôi miên, chuyên gia phân tâm học ấy dẫn dắt Hùng mô tả lại hàng loạt tội ác mà mình từng gây ra. Hùng giết chủ một hiệu cầm đồ, một chủ quán bar, một bác sĩ lang băm và một kẻ lang thang. Khi nhận ra rằng bạn trai mình là một trong những nạn nhân, con gái của chính nhà phân tích tâm lý ấy đã đâm hung phạm. Nhà văn nổi tiếng Nguyễn Tuân đóng một vai nhỏ trong bộ phim này, và kể lại trải nghiệm của mình trong quyển Vang Bóng Một Thời.
Còn được gọi là Nghĩa Trang Ma Ám, phim Cánh Đồng Ma để lại một dư âm nhất định: Cốt truyện là của người Việt và khi người ta nói, khán giả nghe thấy tiếng Việt. Tuy nhiên, bất chấp thành công đó, kế hoạch thành lập công ty con của Guo Lian tại Việt Nam – Wu Yung mở studio tại Sài Gòn vào năm 1938 cho phiên bản âm thanh của Hoa Rơi, cũng như thành lập công ty phân phối phim cho Công ty Nam Yuet của Hong Kong tại Đông Dương bị thất bại.
Hơn nữa, không giống như ngành mỹ thuật có trường đại học được thành lập tại Hà Nội vào năm 1924, hồi ấy không có một chương trình đào tạo về kỹ thuật làm phim nào trong nước. Người điều hành sản xuất phim Việt Nam đầu tiên, Nguyễn Lan Hương, đã phải tự học. Ông không thể quay phim ngoài những gì được chính Gabriel Veyre chỉ đạo giữ lại trên các cuộn phim hoặc trên những tấm lưu trữ của chính ông, cho công ty Lumière.
Một vài người dám nghĩ dám làm khác là Nguyễn Văn Đinh (Asia Films) và Trần Tấn Giàu (Vietnam Film), tự sản xuất được một vài phim cho đến năm 1940, nhưng phần lớn cũng đã thất lạc. Thời kỳ giữa chiến tranh, điện ảnh giải trí chủ yếu lúc đó chỉ đến từ Pháp, Hong Kong và Mỹ, với Charlot (như Vũ Trọng Phụng ghi lại), và Tarzan là các nhân vật phổ biến nhất, trong khi cơ quan chuyên trách bản xứ giám sát và kiểm duyệt tất cả các sản phẩm điện ảnh khác đến từ bên ngoài.
Nếu rạp chiếu phim Eden hồi đó từng được Marguerite Duras làm cho bất tử trong tác phẩm của mình, là vì các rạp chiếu phim về sau cũng đã có mặt rộng rãi ở Nam Kỳ, và một số người thậm chí còn cho rằng chính ở Sài Gòn, rạp chiếu phim đúng nghĩa ra đời, là nơi mà nó có thể tồn tại nhiều nhất và sinh lợi nhiều nhất. Nhưng với những gì người ta muốn sản xuất – ATEACINEA (Hiệp Hội Kỹ Thuật Viên và Nghệ Sĩ Điện Ảnh An Nam) từng có kế hoạch lớn về làm phim độc lập nhưng nhanh chóng bị chính quyền Pháp ngăn cản.
Cái phôi này của “nền điện ảnh Việt Nam” tượng hình trước Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai, khi nước Pháp chính quốc không muốn nhận mình làm mẹ đẻ của nó. Trong Thế Chiến 1939-45, Đông Dương bị quân Nhật chiếm đóng và các rạp chiếu phim cũng bị tràn ngập bởi các tác phẩm điện ảnh Nhật. Đến lượt mình, người Nhật chỉ cho quay phim tin tức tài liệu của riêng họ để tuyên truyền. Đồng thời, ở vùng đất bị xem là cắt đứt với thế giới này, người ta chỉ cho chiếu lại những bộ phim Tây phương đã cũ đến mỏi mòn. Người bản xứ tại nước Việt lúc ấy xem gì, không ai nhớ rõ.
Nhưng Nhật Bản cũng tới lúc bại trận và mọi thứ thay đổi.
Ngày 2 Tháng Chín 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập, dù người Pháp sẽ phục hồi một lực lượng viễn chinh. Ngay từ năm 1947, phôi thai của một dạng điện ảnh Việt được những người trẻ tuổi như Khương Mễ bắt đầu ở miền Nam trong “plaine des joncs” – một vùng kháng chiến nằm gần Sài Gòn.
Được sản xuất trong điều kiện thiếu thốn không thể tưởng tượng được, những bộ phim ngắn của họ, kết hợp giữa thời sự và tuyên truyền, được trình chiếu cho công chúng ở nông thôn nơi các rạp lưu động. Đó là các rạp dựng nên từ các túp lều rơm, mày mò, nhưng người ta đã hối hả và say mê xem, tỷ như qua phim Chiến Thắng Mộc Hóa (La Victoire De Moc Hoa, 1948), của Mai Lộc và Khương Mễ, kể lại sự thất bại trong một cuộc hành quân của Pháp trên đường đến Đà Lạt. Rồi ngay tại Sài Gòn, là một giai đoạn khác trong sự tượng hình rõ nét hơn của điện ảnh Việt Nam. Đó cũng là lúc cuộc tranh chấp Nam – Bắc ở Việt Nam chia rẽ các nhà điện ảnh.
Thời gian nội chiến này, ở miền Nam và trong bối cảnh nội chiến được mô phỏng theo cuộc Chiến Tranh Lạnh, phim tài liệu và phim truyện ra đời theo một quan điểm chính trị hoàn toàn trái ngược mà thành tựu có thể nói là Chúng Tôi Muốn Sống (1956) của Vĩnh Noãn.
Nhưng một số phim khác lại lấy chủ đề và quan điểm thẩm mỹ mang tầm vóc quốc tế hơn nhiều, đó là thời điểm Joseph Manckiewicz – người làm Cleopatra, đến Sài Gòn để quay bộ phim chuyển thể đầu tiên của A Quiet American cũng như Marcel Camus cho quay Death In Fraud. Rồi một người say mê điện ảnh như Lê Dân – du học Pháp tại IDHEC – sau đó đạo diễn bộ phim đầu tay Hồi Chuông Thiên Mụ (1957) cũng như hai bộ phim được nhớ đến với thành công vang dội là Chân Trời Tím (1970) của Lê Hoàng Hoa và Người Tình Không Chân Dung (1971) của Hoàng Vĩnh Lộc là những ví dụ điển hình.
Buổi ra mắt phim “5 anh chàng hề về làng” (Hình: NTVT)
Điện ảnh miền Nam, trong suốt thập niên 1960 và năm năm đầu thập niên 1970 có những tên tuổi nổi bật như Lê Mộng Hoàng, Bùi Sơn Duân, Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Trần Quang mà nhiều phim họ làm và giữ vai chính, đã gây tiếng vang lớn về giá trị nghệ thuật và nội dung.
Dù kịch tính hay không, nền điện ảnh này ra đời với niềm vui của việc cần xác định hay không các số phận cá nhân trên màn bạc, với những tình huống lãng mạn và những khẳng định về tài năng của các ngôi sao, đặc biệt là các nữ diễn viên. Nhưng ở Việt Nam, nền điện ảnh “miền Nam” này bị đánh giá sai sau 1975 và cũng sẽ bị bỏ qua một cách có hệ thống trong lâu dài.
Thật vậy, sau 1975, miền Nam thấy mình hoàn toàn bị bôi xóa về hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội. Có thể tóm tắt những gì đã gầy dựng nơi điện ảnh miền Nam trong thời gian người Mỹ có mặt như thế, qua những dòng mà hai cây bút Bành Bảo và Hữu Ngọc thể hiện uyển chuyển: “Thư viện phim quốc gia của miền Nam phong phú với hàng nghìn phim do các hãng tư bản để lại, chính nó mở ra một chân trời cho các nghiên cứu và tìm tòi về sau…”. Thực tế, các nhà làm phim cộng sản miền Bắc phải hoàn toàn tự vấn khi ngoài ấy, tại sao từ năm 1965 đến năm 1973, có tới 307 phim tài liệu, mà chỉ có 36 phim truyện.
Sau năm 1975, nói tóm tắt, các bộ phim ra đời trong thời kỳ này có vẻ đã bị mắc kẹt giữa những ràng buộc về hệ tư tưởng và những khó khăn kinh tế khủng khiếp thời ấy, mà vẫn có một vẻ đẹp riêng, mang một chất trữ tình, đôi khi đẫm nước mắt, một thứ giá trị thừa bị xóa đi đằng sau những giá trị khác được ngợi ca.
Người ta đã chờ đợi rất nhiều kể từ năm 1986, khi chính sách Đổi Mới được đem vào thực tế xã hội. Chỉ khi đó, một phần những gì mà điện ảnh miền Nam trước 1975 làm được, mới được thận trọng nhìn nhận để học hỏi và áp dụng.
Poster phim “Krus Na Kawayan” (Chúng Tôi Muốn Sống). (Hình: Ấn bản Phi Luật Tân)
Chúng tôi muốn sống, bộ phim có một không hai của Việt Nam
Năm 1956, phim Chúng Tôi Muốn Sống ra mắt ở Saigon tại rạp Đại Nam. Dân chúng kéo nhau đi xem đông quá nên thiếu chỗ ngồi. Lúc chiếu đến cảnh tố khổ, bỗng nhiên rất nhiều người trong rạp quá xúc động, cùng nhau đứng dậy, hô to lên nhiều lần “Đả đảo! Đả đảo Cộng Sản!”
Trên phương diện chính trị và lịch sử, mục đích của cuốn phim này phơi bày giai đoạn đẫm máu của chính sách cải cách điền địa và giai cấp đấu tranh của cộng sản, chứng minh là không thành phần nào trong xã hội Việt Nam có thể sống nổi với chính sách này.
Phim Chúng Tôi Muốn Sống nhận được giải thưởng Chính Trị của đại hội Điện Ảnh Đông Nam Á tại Seoul Đại Hàn năm 1967, và lại là cuốn phim được chọn để trình chiếu trong đại hội Chống Cộng Thế Giới ở Dallas Texas cho các phái đoàn của 100 nước đến xem vào ngày 12 Tháng Mười Một 1985, dưới sự chủ tọa của Trung Tướng Chủ Tịch John K. Singlaụb.
Sau đó, phim còn được chiếu tại Tòa Bạch Ốc thời tổng thống Reagan, cho các nhóm sinh viên học ngành chính trị, do ông Rudy Beserra, giám đốc phòng Liên Lạc Dân Sự tổ chức .
Đây là cuốn phim độc nhất được sản xuất từ thời đó cho đến bây giờ, giúp cho nhiều người hiểu rõ thêm về một chế độ bạo tàn mà cho đến nay, bao người bỏ nước ra đi tìm tự do, vẫn còn thấy thấm thía và đau lòng.
(Bài viết của tác giả Philippe Dumont – nhà phê bình điện ảnh người Pháp, được lược dịch một phần với những dữ liệu khách quan nhất, để nhìn lại một chặng đường du nhập và phát triển điện ảnh của miền Nam Việt Nam Cộng Hòa.)
Monday, February 10, 2025
Xuân với nhạc phổ thơ
Vương Trùng Dương – 6 tháng 2, 2025
Mùa Xuân đến khởi đầu trong năm mới nên cũng là nguồn cảm hứng cho giới văn nghệ sĩ, nhất là trong thi ca và âm nhạc.
Từ xưa đến nay có nhiều bài thơ và ca khúc liên quan đến thời điểm này được nhiều tác giả đề cập qua Mùa Xuân Trong Thi Ca, Mùa Xuân Trong Âm Nhạc… Nhân đây, tản mạn vài bài thơ được phổ nhạc tiêu biểu từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam vẫn được mọi người ái mộ từ trong nước và hải ngoại.
Gái Xuân
Bài thơ Gái Mơ của Nguyễn Bính ra đời vào thập niên 1940, bài thơ có 8 câu:
“Em như cô gái hãy còn Xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần,
Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân.
Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng.
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng,
Đôi tám xuân đi trên mái tóc.
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?”
Bài thơ này được nhạc sĩ Từ Vũ (Trần Đỗ Lộc) phổ nhạc cùng tên. Trần Đỗ Lộc, sinh năm 1932 tại Thường Tín, Hà Tây (sau năm 1945 là Hà Đông). Khi còn nhỏ mê âm nhạc, nhưng không có được sự hướng dẫn và trường nhạc nào. Năm 1950 ông vào Sài Gòn sinh sống. Một hôm lang thang trên đường Catinat, ông mua quyển L’art de Composition Musicale, quyển sách đầu tay về nhạc lý căn bản về sáng tác.
Theo lời ông: “Mùa Xuân năm Quý Tỵ (1953), lúc ấy tôi 21 tuổi sống xa gia đình, không bạn bè, giữa Sài Gòn phồn hoa, đô hội. Khi buồn chỉ biết lục sách báo ra đọc. Tình cờ mớ sách gối đầu giường có tập thơ Mây Tần của Nguyễn Bính, tôi đọc thấy bài Gái Xuân, một bài thơ ngắn (chỉ hai khổ thơ), nhưng lại có hấp lực dẫn dắt tâm trí tôi quay về với cố hương ở Thường Tín (Hà Đông). Hà Đông là quê lụa nên câu “Gái Xuân giũ lụa trên sông Vân” như đưa tôi về trong hoài niệm. Tôi đọc bài thơ dăm lần là đã ngấm, cầm bút giấy viết luôn một mạch.”
Khi vừa phổ nhạc xong ca khúc Gái Xuân, ông gởi cho ca sĩ quen biết nhau là Linh Sơn trên đài phát thanh Sài Gòn, nhưng chưa nổi tiếng.
Một hôm ông gặp ca sĩ Tâm Vấn ở đài phát thanh Sài Gòn và chép tay nhạc phẩm đưa cho nữ danh ca. Sau đó ông về làm việc ở Phan Thiết, được bạn bè ở Sài Gòn thông báo ca khúc Gái Xuân với giọng ca Tâm Vấn rất thành công và được công chúng yêu thích.
Trước năm 1975, ở Sài Gòn cũng có nhiều ca khúc được các danh ca như Thái Thanh, Hà Thanh, Tâm Vấn, Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà, Lệ Thu… Trần Văn Trạch, Anh Ngọc, Duy Trác, Sĩ Phú… hát trên làn sóng phát thanh lần đầu tiên được nổi tiếng.
Sau này nhạc sĩ Từ Vũ sáng tác nhiều ca khúc như: Áo Trắng Chiều Mưa Bay, Ánh Nắng Đồng Quê, Cô Đơn Chiều Đà Lạt, Cõi Người Ta, Đà Lạt Tình Yêu Và Nỗi Nhớ, Hai Sắc Hoa Tigon (thơ T.T.Kh.), Mưa, Mưa Cao Nguyên, Ta Tìm Thấy Nhau, Tiếng Hát Cho Người Tình, Trăng Gặp Gỡ, Vĩnh Biệt Tình Yêu… nhưng không được nổi tiếng như ca khúc đầu tay Gái Xuân.
Với bản tính khiêm tốn, ông từ chối danh xưng nhạc sĩ: “Xin đừng gọi tôi là nhạc sĩ. Cho đến bây giờ tôi cũng tự thấy mình là kẻ ngoại đạo trong lĩnh vực sáng tác và ca nhạc, nhưng tôi vẫn còn đó một niềm đam mê. Tôi viết Gái Xuân nhưng do bài thơ quá ngắn, tôi mạn phép tác giả thêm vào hai câu của tôi: Xuân đi, xuân đến hãy còn xuân. Cô gái trông Xuân biết bao lần,” để đủ độ dài thích hợp. Viết xong, cũng không nghĩ bài hát sẽ được phổ biến.”
Bài thơ Gái Xuân của Nguyễn Bính:
“Em như cô gái hãy còn xuân,
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần,
Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở.
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân.
Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng.
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng,
Đôi tám xuân đi trên mái tóc.
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?”
Trong ca khúc Gái Xuân, nhạc sĩ giữ nguyên lời thơ 4 câu thơ đầu trong phiên khúc (verse) 1 & 3. Trong điệp khúc (chorus) với 4 câu thơ sau.
Anh Cho Em Mùa Xuân
Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của làng nhạc miền Nam, với sự nghiệp sáng tác có hơn một trăm ca khúc, ngoài tài hoa về âm nhạc, ông biết sử dụng nhiều nhạc cụ trong đó hawaiian (hạ uy cầm) và accordion (phong cầm) rất tuyệt, thông thạo Anh, Pháp, được nhiều người gọi là “tự điển sống” với trí nhớ rất tốt.
Ông học nhạc với thầy người Pháp khi mới lên tám, và sáng tác ca khúc đầu tay lúc 18 tuổi, là phổ bài thơ mang tên Người Em Nhỏ của người bạn thân Thiệu Giang.
Năm 1951, ông được mời làm nhạc trưởng của ban nhạc Hotel de Paris ở Hà Nội. Tháng Chín năm 1954, gia đình ông di cư vào Nam.
Ông là công chức phục vụ trong Bộ Công Dân Vụ thời Việt Nam Cộng Hòa, tiền thân của Bộ Thông Tin, Dân Vận Chiêu Hồi… Ông cũng từng làm Trưởng Phòng Văn Nghệ của đài phát thanh Sài Gòn, phụ tá Giám Đốc đài truyền hình Việt Nam Cộng Hòa.
Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của làng nhạc miền Nam Việt Nam, với sự nghiệp sáng tác có hơn một trăm ca khúc, nổi tiếng nhất là Về Đây Anh, Anh Cho Em Mùa Xuân, Mái Tóc Dạ Hương, Tìm Đâu, Ngàn Năm Mây Bay, Hoa Bướm Ngày Xưa, Tiếng Hát Học Trò, Từ Giã Thơ Ngây, Lá Thư Gởi Mẹ…
Với ca khúc Anh Cho em Mùa Xuân, theo lời ông: “Hôm ấy là ngày mùng 5 Tết năm 1962, tôi đến sở làm trong lúc đất trời vẫn còn hương vị Tết. Một người bạn rủ ra ngoài ăn sáng, lúc trở về, thấy trên bàn giấy có một tập thơ mỏng, tôi bèn lật qua xem thử thì gặp bài thơ năm chữ ‘Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân.’ Ðọc qua thấy hay hay và đang lúc lòng còn hưng phấn với không khí xuân tràn trề, tôi nảy ra ý định phổ nhạc bài thơ ấy. Giấy nhạc không có sẵn, tôi phải kẻ khuôn nhạc bằng tay, và chỉ độ một, hai tiếng là xong bài nhạc. Xong, tôi cất vào ngăn kéo bàn làm việc… Sáng hôm sau có anh chàng trẻ tuổi đến tìm tôi, tự giới thiệu tên mình và cho biết, ‘Hôm qua em có đến tìm anh để biếu anh tập thơ bốn mươi bài, nhưng không gặp được anh.’ Tôi nói, ‘Hóa ra anh là tác giả bài thơ xuân ấy! Tôi vừa mới phổ nhạc bài thơ của anh xong.’ Anh ta ngạc nhiên và rất vui khi tôi lấy bài nhạc trong ngăn kéo ra và… hát cho anh ta nghe. Tôi lấy câu đầu của bài thơ đặt tên cho bài nhạc Anh Cho Em Mùa Xuân…”
Nếu không có mối duyên ấy thì chàng trai trẻ trong câu chuyện trên, tác giả Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân được phổ nhạc vẫn nổi tiếng đến nay.
Khi làm công việc “lấy thơ ghép nhạc,” nhạc sĩ Nguyễn Hiền không đổi một chữ nào trong ba đoạn thơ đầu của Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân (từ câu thơ đầu cho đến câu “mùa xuân này tất cả, lộc non vừa trẩy lá…”). Ông nhớ lại, “Thật là hứng thú khi tôi lấy ba câu thơ đầu (“Anh cho em mùa xuân / Nụ hoa vàng mới nở / Chiều đông nào nhung nhớ”…) phổ thành một câu nhạc, thấy đi rất ‘ngọt’ nên cứ thế mà phát triển bài thơ thành ca khúc.”
Nhạc phẩm Anh Cho Em Mùa Xuân do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành lần đầu, được ca sĩ Lệ Thanh trình bày đầu tiên qua dĩa nhựa và làn sóng đài phát thanh Sài Gòn, và cũng gắn liền tên tuổi cô vào “cái thuở ban đầu” của bài nhạc ấy. Tuy nhiên, nhà thơ Kim Tuấn cho biết là ông “chịu” Hà Thanh hát bài ấy nhất, và muốn được gửi đến ca sĩ ấy một lời cám ơn… muộn màng.
Sau ca khúc Anh Cho Em Mùa Xuân có thêm những bài phổ thơ Kim Tuấn khác của các nhạc sĩ khác như Y Vân, Phạm Duy, Phạm Ðình Chương…
Bài thơ Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân của nhà thơ Kim Tuấn sáng tác năm 1961:
“Anh cho em mùa xuân
nụ hoa vàng mới nở
chiều đông nào nhung nhớ
đường lao xao lá đầy
chân bước mòn vỉa phố
mắt buồn vin ngọn cây…
… Đất mẹ gầy có lúa
đồng ta xanh mấy mùa
con trâu từ đồng cỏ
giục mõ về rộn khua
ngoài đê diều thẳng cánh
trong xóm vang chuông chùa
chiều in vào bóng núi
câu hát hò vẳng đưa.”
Lời ca khúc như lời Nguyễn Hiền chia sẻ, ở phần phiên khúc với những câu thơ đầu và phần điệp khúc:
“Đất mẹ gầy cỏ lúa, đồng ta xanh mấy mùa
Ngoài đê diều căng gió, thoảng câu hò đôi lứa…
Trong xóm vang chuông chùa, trăng sáng soi liếp dừa
Con sông dài mấy nhánh, cát trắng bờ quê xưa.”
Mùa Xuân Yêu Em
Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác nhiều ca khúc nhát trong nền tân nhạc Việt Nam từ thời tiền chiến và ở hải ngoại. Riêng về các ca khúc về Xuân có: Đêm Xuân (Thanh Hóa – 1948), Hoa Xuân (Sài Gòn – 1953), Xuân Thì (1953), Xuân Nồng (1956), Xuân Hành (1959), Xuân Ca (1961), Nụ Tầm Xuân (1971), Tuổi Xuân (1972), Xuân Hiền (1972), Trên Đồi Xuân (SG 1975)…
Với những ca khúc của ông phổ thơ nhiều nhất, gần một trăm bài, trong đó có những tình khúc nổi tiếng như: Hoa Rụng Ven Sông và Vần Thơ Sầu Rụng của Lưu Trọng Lư, Cô Hái Mơ của Nguyễn Bính, Ngậm Ngùi của Huy Cận, Mùa Thu Paris, Tiễn Em và Chiều Đông của Cung Trầm Tưởng, Chuyện Tình Buồn của Phạm Văn Bình, Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ và Hai Năm Tình Lận Ðận của Nguyễn Tất Nhiên, Con Qùy Lạy Chúa Trên Trời của Nhất Tuấn, Đà Lạt Trăng Mờ và Đây Thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử, Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng và Em Lễ Chùa Này của Phạm Thiên Thư, Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm, Mầu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, Kỷ Vật Cho Em của Linh Phương…
Với hai bài thơ của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, phổ thành ca khúc Kiếp Nào Có Yêu Nhau năm 1958 và Ðừng Bỏ Em Một Mình năm 1969 rất nổi tiếng.
Theo lời nhà thơ, bài thơ Chuyện Tình của ông viết khoảng năm 1959 và in lần đầu tiên trên báo Ngàn Khơi khoảng năm 1961. Ngày đám hỏi của Đỗ Quý Toàn năm 1964 ông mang ra đọc cho bạn bè nghe, trong số này có Nhạc Sĩ Phạm Duy.
Nhạc sĩ Phạm Duy liền ngỏ ý mang bài thơ này của ông về nhà. Khoảng một tuần sau nhạc sĩ gặp lại ông ở đường Lê Lợi và hát cho ông nghe thi khúc Mùa Xuân Yêu Em.
Chuyện Tình
“Ôi anh yêu em vì em biết nói
Em đã biết thưa em còn biết gọi
Buổi sáng trời mưa khiến anh nhớ em
Bây giờ trời nắng anh nhớ em hơn
Ngồi xuống đây đi nghe chim đang hót…
… Này em yêu dấu em nào có hay
Hồi nãy trên trời có con chim bay
Có con chim nó bay qua trên trời
Trời xanh đến thế đôi mình lứa đôi”
Nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc Mùa Xuân Yêu Em:
“Anh yêu em, yêu em vì em biết nói
Ðã biết thưa: Thưa Anh! Em còn biết gọi
Sáng trời mưa, khiến cho anh nhớ em
Bây giờ nắng, anh nhớ em nhiều…
Ngồi xuống đây, nghe chim là chim ca hót
Ðồng cỏ như bàn tay, trời như mắt say
Ta ngó nhau, ôi còn biết nói gì
Hai đứa ngồi, ngồi đó như hai hòn bi…
… Này em yêu quý em nào có hay?
Ban nãy trên trời có đôi chim uyên
Có đôi chim trắng bay trên nền trời
Trời xanh xanh quá đôi mình lứa đôi
Trời xanh xanh quá đôi mình lứa đôi…”
Ca khúc này ở cung La trưởng giai điệu vui tươi, nhí nhảnh, nghe rất hồn nhiên, qua tiếng hát Lệ Thu, Thái Hiền và các ca sĩ khác đã hát. Trong album Mùa Xuân Yêu Em (ca khúc này làm tựa đề) ở Mỹ gồm 10 ca khúc như: Bài Ngợi Ca Mùa Xuân, Nếu Xuân Này Em Lấy Chồng, Nỗi Lòng Mùa Xuân, Vui Ca Trong Nắng Xuân, Mùa Xuân Gọi, Mùa Xuân Yêu Em, Nhạc Khúc Tình Xuân, Mùa Xuân Tình Yêu, Nhớ Về Một Mùa Xuân, Những Cánh Én Mùa Xuân… nhưng nhạc phẩm phổ thơ này ít phổ biến rộng rãi và không xuất sắc so với những ca khúc khác phổ thơ của Phạm Duy.
Như đã đề cập ở trên, giữa thi ca và âm nhạc coi như mối lương duyên, ngôn ngữ thi ca cũng gắn liền với lời ca trong nhạc. Riêng với thơ Xuân được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc trong nền tân nhạc Việt Nam từ thời tiền chiến cho đến nay khá nhiều nhưng chỉ đề cập đến ba bài thơ qua ba nhạc phẩm với mẩu chuyện đề cập đến cảm hứng khi sáng tác được kể ra để góp phần làm sống lại giai đoạn sáng tác tạm gọi với mục đích “ôn cố tri tân.”
Trong các tác giả đề cập ở trên, nay chỉ còn nhà thơ Đỗ Quý Toàn hiện sinh sống tại Orange County, đón Xuân Ất Tỵ ở tuổi 85.
Mùa Xuân, hoài niệm với thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Kiến Thiết – 9 tháng 2, 2025
Sau nhiều năm tháng rời bục giảng sống kiếp lưu đày nơi đất khách, nỗi nhớ trường, nhớ lớp, nhớ học trò mãi canh cánh trong tôi.
Thời gian trôi qua… Cuộc sống tất bật nơi xứ “đất lạnh tình nồng” này đã khiến tôi vơi đi phần nào nỗi nhớ triền miên ấy. Cho đến khi nhận lời mời của Cơ Sở Khuyến Học và Phát Huy Văn Hóa Montréal để giảng về Văn học Việt Nam, niềm mơ ước của tôi giờ đây đã thành sự thật. Tôi nhận dạy hai chuyên đề: một là Ca dao miền Nam; hai là Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Đây là các đề tài tôi vô cùng tâm đắc bởi đã từng giảng dạy ở Đại học Cần Thơ trước kia.
Vì những chuyên đề tôi nhận dạy thường rơi vào những tháng mùa Xuân, nên cứ mỗi độ Xuân về, lòng tôi lại nao nao nhớ lại những kỷ niệm đẹp khó phai mờ trên bục giảng. Đó cũng là nguồn gợi hứng để tôi có thể phóng bút tản mạn về những kỷ niệm đẹp không quên khi giảng dạy về thơ văn của nhà thơ yêu nước miền Nam Nguyễn Đình Chiểu.
Buổi sáng hôm ấy, một buổi sáng chủ nhựt đầu năm 1994, trời nắng đẹp – cái nắng ấm áp đầu xuân đã xua tan cái giá buốt của mùa đông lạnh lẽo vừa qua, tôi ăn mặc chỉnh tề tới lớp đặt tại trụ sở Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia vùng Montréal. Sự đón tiếp nồng nhiệt của ban lãnh đạo lớp Quê Hương Mến Yêu, sự tham dự cổ võ của các bạn đồng nghiệp cùng sự có mặt khoảng mười bốn sinh viên hôm ấy khiến tôi thêm ấm lòng và bồi hồi cảm xúc. Còn đang suy nghĩ miên man, Bác Sĩ Lâm Thu Vân bật đèn xanh cho tôi bắt đầu bài giảng của mình.
Sau khi điểm qua về bối cảnh lịch sử Việt Nam vào hậu bán thế kỷ XIX, cũng như giới thiệu thân thế và sự nghiệp văn chương của nhà thơ lớn miền Nam Nguyễn Đình Chiểu, tôi nêu bật hai nội dung chánh trong thơ văn ông qua hai câu thơ:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
*Nội dung “Chở đạo”: đề cao Trung Hiếu Tiết Nghĩa
Trước hết, nội dung “Chở đạo” được thể hiện qua các tác phẩm Lục Vân Tiên và Dương Từ – Hà Mậu. Tôi tập trung phân tích Lục Vân Tiên, một tác phẩm đề cao trung hiếu tiết nghĩa:
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình (cc 5-6).
Dưới ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Đình Chiểu, quan niệm “trung hiếu tiết nghĩa” được vận dụng và mô tả thật sinh động qua các nhân vật chánh diện.
Lục Vân Tiên là một nhân vật lý tưởng, mang đầy đủ phẩm chất đạo đức cao quý mà nhà thơ mơ ước. Chàng là một thanh niên khôi ngô tuấn tú, văn võ song toàn, một bề tôi tận trung, một người con chí hiếu, trọn tình với vợ, trọn nghĩa với bạn. Lòng hiếu của chàng được khai thác rất nhiều bằng những câu thơ rất đẹp và cảm động:
Hai hàng lụy ngọc ròng ròng
Tưởng bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu
Cánh buồm bao quản gió xiêu
Ngàn trùng biển rộng chín chiều ruột đau
Thương thay chín chữ cù lao
Ba năm nhũ bộ biết bao thâm tình (cc 581-586).
Vì hiếu mà nghe tin mẹ mất phải bỏ thi về lo việc cư tang. Vì hiếu mà khóc mẹ đến mù mắt mặc cho “nước trôi sự nghiệp hoa tàn công danh.” Lòng hiếu của Lục Vân Tiên thật là hiếm có và vô cùng đáng quý.
Đối với thầy học, vốn là một môn sinh từng “dựa kề” “cửa Thánh,” thấm nhuần đạo lý ngàn đời của dân tộc, chàng hết lòng tôn sư trọng đạo:
Bấy lâu cửa thánh dựa kề
Đã tươi khí tượng lai xuê tinh thần (cc 17-18).
Vân Tiên hứa với thầy ít nhưng làm rất nhiều:
Chí lăm bắn nhạn ven mây
Danh tôi đặng rạng tiếng thầy bay xa (cc 21-22).
Chàng hứa sẽ thi đậu. Và chàng đã đậu Trạng nguyên, làm quan lớn trong triều, rạng rỡ tông môn, làm rạng danh tiếng thầy học. Cao hơn nữa chàng còn là một anh hùng cứu nước.
Kiều Nguyệt Nga là người con gái điển hình cho lòng chung thủy, trung trinh tiết liệt. Mối tình của nàng đối với Vân Tiên là một mối tình vừa cao quý vừa đẹp đẽ. Một bên thì hào hiệp quên mình cứu người vì thấy việc nghĩa không thể không làm (Nhớ câu kiến nghĩa bất vi); một bên cũng quên mình để trả ơn người. Do vậy “ngộ biến phải tòng quyền,” nàng vâng mệnh vua đi cống Phiên để giữ tròn trung hiếu, nhưng đã nhảy xuống sông trầm mình để giữ tròn tiết nghĩa thủy chung với Vân Tiên:
Sao cho một thác thời xong
Lấy mình báo chúa lấy lòng sự phu (cc 1417-1418).
Điều quan trọng là ở tấm lòng. Nàng lấy thân mình để báo đền ơn chúa và lấy tấm lòng ra để thờ chồng (sự phu ở đây có nghĩa là thờ chồng).
Tình bạn cũng là một tình cảm lớn được mô tả qua mối tình bạn thật cảm động của bộ ba Lục Vân Tiên – Vương Tử Trực – Hớn Minh:
Trong đời mấy bậc cố tri
Mấy trang đồng đạo mấy nghìn đồng tâm (cc 1217-1218).
Những con người nghĩa khí như Tử Trực, Hớn Minh khi nghe kể về những hoạn nạn của bạn mình đã đầm đìa nước mắt:
Minh nghe Tiên nói động tình
Hai hàng châu lụy như bình nước nghiêng (cc 1171-1172).
Tấm lòng nhân ái tràn trề của đông đảo quần chúng, của ông Quán, vợ chồng ông Ngư, ông Tiều và tiểu đồng đối với Vân Tiên cũng được tác giả khai thác…
Bên cạnh trung hiếu tiết nghĩa, Lục Vân Tiên còn lên án những cái bất nhân phi nghĩa (Ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm- c 480). Bằng một bút pháp trữ tình hiện thực, Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ nên những nhân vật phản diện với tất cả lòng căm ghét của ông. Từ bộ ba trong gia đình họ Võ (Võ Công – mụ Quỳnh Trang – Võ Thể Loan), rồi hai người bạn xấu (Trịnh Hâm – Bùi Kiệm) và tên thái sư gian ác, cùng một lô những thầy thuốc, thầy bói, thầy phù thủy không có lương tâm đều được Nguyễn Đình Chiểu mô tả một cách sinh động và sắc nét.
Sau phần phân tích nội dung tôi không quên nêu lên đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm Lục Vân Tiên, như tánh chất truyện kể, tánh chất dân gian cũng như ảnh hưởng rộng lớn của tác phẩm đối với mọi tầng lớp nhân dân từ Nam chí Bắc. Chính vì vậy mà chúng ta đã có điệu “Nói thơ Vân Tiên”, có các vở cải lương “Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga” và các làn điệu hò, vè, thơ, phú và trò chơi “Vân Tiên cõng mẹ” trong gia tài văn hóa dân tộc.
*Nội dung “Đâm gian”: Thơ văn yêu nước
Một buổi sáng chủ nhựt kế tiếp – cũng vào đầu Xuân – từ mười giờ sáng tới một giờ trưa, tôi tiếp tục giảng phần nội dung thứ hai:
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Thật ra nội dung “Đâm gian” chẳng những được đề cập phần nào trong Lục Vân Tiên mà còn bàng bạc trong các tác phẩm khác như Dương Từ – Hà Mậu, Ngư Tiều Vấn Đáp. Tập trung nhứt vẫn là những bài văn tế, những bài hịch, những bài thơ điếu, tự thuật và xúc cảnh. Tôi muốn nói Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu.
Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là khúc ca hùng tráng của phong yêu nước chống Pháp ngay từ khi chúng đặt chân lên đất nước ta. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông gần như gắn liền với sự nổi trôi của vận nước trong giai đoạn lịch sử bi tráng của dân tộc thời bấy giờ.
Năm 1859, “Giặc Tây kéo tới Cần Giờ” hạ thành Gia Định mở đầu cuộc đánh chiếm Nam Kỳ. Trong bài “Chạy Tây,” nhà thơ tự hỏi:
Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này?
Đáp ứng lời kêu gọi của nhà thơ cũng như ý thức được bổn phận phải đánh giặc cứu nước, nên toàn dân ta đã mạnh dạn gạt bỏ tình riêng, hăng hái tham gia vào cuộc chiến đấu gian khổ:
Giặc Tây kéo tới Cần Giờ
Biểu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công (Ca dao miền Nam).
Trong khi nhân dân miền Nam hăng say chiến đấu chống quân xâm lược thì triều đình Huế đã ký hòa ước đầu hàng năm 1862: Ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa – Gia Định – Định Tường) lọt vào tay Pháp; ta còn phải bồi thường chiến phí cho giặc trong mười năm. Không có mối nhục nào to tát cho bằng mối nhục của dân ta thời đó: “Bất chấp lời khuyên dụ của triều đình Huế, Trương Định vẫn theo dân gian quyết đánh tới cùng, lấy địa bàn hoạt động ở các vùng Gò Công, Tân Hòa, gây cho kẻ thù nhiều tổn thất nặng nề…”. Thuở ấy, ca dao miền Nam được truyền tụng nhằm biểu dương khí thế dũng cảm của dân ta, đồng thời lên án sự đầu hàng khiếp nhược của triều đình nhà Nguyễn:
Giặc Sài Gòn đánh xuống
Binh ngoài Huế không vô
Anh biểu em đừng đợi đừng chờ
Để anh đi lấy đầu thằng mọi trắng mà về tế cờ nghĩa quân (Ca dao miền Nam).
Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long – An Giang – Hà Tiên) khiến Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử. Nước mất, nhà tan, bản thân bị mù lòa phải đi “tị địa” khi ở Cần Giuộc, lúc ở Ba Tri, nhưng lúc nào Nguyễn Đình Chiểu cũng lầm lũi mở trường dạy học, làm thuốc và theo sát cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.
Tấm thân đui tối tật nguyền không thể dùng gươm, ông đã dùng bút để đánh giặc. Ông thường giúp mưu cơ chiến lược dưới cờ Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định. Ông căm giận kẻ thù đã giày xéo lên quê hương, gây bao tang tóc:
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
hoặc
Từ thuở Tây qua cướp đất, xưng tân trào gây nợ oán cừu…
Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo; tội chẳng tha con nít đàn bà, bắt vật; đốt vật;
Kể mười mấy năm trời khốn khó, bị khảo, bị tù, bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên;
Đem ba tấc hơi mỏn bỏ liều, hoặc sông, hoặc biển, hoặc núi, hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt (Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh).
Lòng căm thù có lúc còn dâng cao đến mức “muốn tới ăn gan,” “muốn ra cắn cổ,” muốn “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc muôn kiếp nguyện được trả thù kia.”
Ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu còn chĩa thẳng vào bọn tay sai nối giáo cho giặc:
Xin chớ phân bì kẻ sĩ, hoặc ra làm phủ hoặc ra làm huyện
Ấy là đồ hư, đồ bỏ, đồ thúi, đồ nhơ… (Hịch kêu gọi nghĩa sĩ đánh Tây).
Điển hình cho giới sĩ phu sớm ra hợp tác với “tân trào” ngay sau khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị mất là Tôn Thọ Tường, đã bị Nguyễn Đình Chiểu mai mỉa: “Chỉ có người Nam chúng ta mới thích ăn mắm, chớ thằng Tường đâu có thích ăn” (Giai thoại giữa Đồ Chiểu và Cử Trị).
Ông cũng lên án những kẻ “ăn bơ liếm sữa”, cam tâm làm tôi mọi cho giặc:
Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc thấy lại thêm buồn
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gậm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Càng căm thù giặc và tay sai bán nước, nhà thơ đã hết lời ca ngợi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. Ông đã ca ngợi các lãnh tụ nghĩa quân bằng những lời thơ hết sức thiết tha và vô cùng cảm động.
Với Trương Định:
Vì nước tấm thân đã gởi, còn mất cũng cam
Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào nại.
và Phan Tòng:
Làm người trung nghĩa đáng bia son
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn…
Tinh thần hai chữ phau sương tuyết
Khí phách ngàn thu rỡ núi non.
Nhưng hình ảnh đẹp đẽ nhứt, hiên ngang nhứt vẫn là hình ảnh người nghĩa binh thời ấy. Tôi muốn nói đến hình ảnh người nghĩa sĩ Cần Giuộc và đã dừng lại khá lâu để phân tích bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” nổi tiếng nầy.
Nhân vật chánh là nông dân Cần Giuộc với cuộc sống hẩm hiu, chưa quen trận mạc, chưa tới trường nhung:
Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Thế mà họ đã “mến nghĩa làm quân chiêu mộ.” Họ ý thức về nhiệm vụ và quyền lợi của mình. Họ chiến đấu để bảo vệ những gì gần gũi, thiết thân nhứt như “tấc đất ngọn rau,” “bát cơm manh áo,” bảo vệ vùa hương bát nước và cao hơn nữa là chủ quyền đất nước.
Trang bị của họ thật thô sơ “một manh áo vải,” “một ngọn tầm vông,” một “rơm con cúi,” một “lưỡi dao phay”, nhưng tinh thần chiến đấu của họ thật dũng cảm với tư thế làm chủ rất cao:
Kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho mã-tà, ma-ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiết tàu đồng súng nổ.
Họ đã thất bại vì sức yếu, thế cô, trang bị sơ sài, nhưng sự hy sinh oanh liệt của họ đã lưu danh thiên cổ:
Ôi! Một trận khói tan, ngàn năm tiết rỡ.
Trong bài văn tế, tác giả đả bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn đối với những chiến sĩ đã trọn nghĩa với dân. Những đoạn sau đây đầm đìa nước mắt:
Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ.
Cảnh mẹ khóc con, vợ khóc chồng thật lâm ly thống thiết:
Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc quả là một áng văn lớn trong lịch sử văn học Việt Nam. Đó là “khúc ca những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang” trong giai đoạn lịch sử bi tráng của dân tộc. Trước mắt, họ tạm thời thất bại. Nhưng một dân tộc với tinh thần bất khuất như vậy chỉ có thể là một dân tộc chiến thắng. Và lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng họ là những người chiến thắng.
***
Tổng kết về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, tôi rút ra được bài học lớn ở nhà thơ là đem văn chương chuyên chở đạo lý thánh hiền (Văn dĩ tải đạo). Duy có điều khác biệt là nhà Nho xưa quan niệm Đạo là đạo của Trời, còn theo Đồ Chiểu đó là đạo làm người đáng quý, đáng trân trọng. Ngoài ra còn có bài học thương-ghét. Có yêu thương mới biết căm thù, yêu thương rất mực nhưng cũng căm thù rất mực. Đó chính là bài học của một con người ở vào thế bi kịch đã không đầu hàng trước số phận nghiệt ngã, mà trái lại đã giúp ích cho đời đến mức tối đa. Cuộc đời và sự nghiệp của ông mãi mãi là tấm gương ngời sáng xứng đáng cho chúng ta noi theo.
Tuy nhiên vì căm thù rất mực, “ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm” nên nhà thơ đã có ngôn ngữ, thái độ và hành động quá đà. Cụ Đồ Chiểu đã gọi thực dân Pháp là loài “bạch quỷ” (mọi trắng), “man di,” “thói mọi,” đạo Thiên chúa là “đạo Tây,” là “tà đạo,” người theo Tây là “quân tả đạo.” Cũng như thánh Gandhi đã từng tẩy chay hàng hóa Anh thuở nọ, Nguyễn Đình Chiểu cũng bài ngoại triệt để: cụ không dùng xà-bông mà chỉ dùng nước tro để giặt đồ, thà lội sình chớ nhứt định không đi trên đường Tây đắp, không cho phép con là Nguyễn Đình Chiêm theo học chữ Quốc ngữ vì cho đó là “lối phát minh man rợ”? Chưa hết, nhà thơ còn khước từ mọi hứa hẹn, giúp đỡ của thực dân Pháp qua đề nghị của viên chủ tỉnh Bến Tre Michel Ponchon, như yêu cầu cụ nhuận chính quyển thơ Lục Vân Tiên cũng như ngỏ ý trao trả lại đất đai mà họ đã chiếm đoạt. Chính cụ đã khẳng khái trả lời: “Đất vua còn không ai trả thì đất riêng của tôi có sá gì!”
Để buổi giảng thêm phần phong phú, sinh động cũng như tìm hiểu phần nào về trình độ tiếp thu của sinh viên, tôi đã dành khoảng một tiếng đồng hồ để các em phát biểu những cảm nghĩ của mình về tác phẩm Lục Vân Tiên.
Các em Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Hạnh Nga, Nguyễn Thị Ngọc Diệu và Nguyễn Thanh Quang đã lần lượt tóm tắt cốt truyện và phân tích nội dung, nghệ thuật tác phẩm. Điều ngạc nhiên thú vị là các em đã sử dụng trôi chảy tiếng Việt, trình bày một cách mạch lạc, khúc chiết về những điều mình tiếp thu được, đồng thời nêu lên một số thắc mắc về nội dung và nghệ thuật tác phẩm. Bất giác tôi liên tưởng tới khả năng sử dụng tiếng Việt nhuần nhuyễn của sinh viên Đại học Cần Thơ đã từng học với tôi về chuyên đề nầy, đã nhiệt tình tham gia Hội thảo khoa học về Nguyễn Đình Chiểu với những bài tham luận súc tích do chính các em viết. Có em sinh viên miền Bắc đã sáng tác mấy câu vọng cổ “Lục Vân Tiên.” Một số em còn trình diễn trích đoạn vở cải lương “Kiều Nguyệt Nga” thành công tốt đẹp.
Tôi lấy làm vui mừng vì các em mặc dầu lớn lên ở hải ngoại, ngoài việc tiếp thâu văn hóa xứ người, còn tích cực trau giồi và phát huy văn hóa dân tộc. Sau nầy tôi được biết mười bốn sinh viên có mặt hôm ấy đã là những kỹ sư, bác sĩ, những chuyên viên thượng thặng của ngành cao kỹ Bắc Mỹ. Các em là những hạt ngọc, những bông hoa tươi thắm ngoài việc phục vụ cộng đồng, phục vụ xã hội, rồi đây chắc chắn sẽ góp phần vào việc tô điểm một nước Việt Nam huy hoàng hơn, tươi đẹp hơn…
Thời gian vẫn lạnh lùng trôi qua… Thấm thoắt đã hơn ba mươi năm. Mười bốn hạt ngọc của lớp Quê Hương Mến Yêu năm ấy giờ đây chắc đã đạt nhiều thành tựu đáng kể làm vẻ vang dân Việt, đền ơn phần nào cho đất nước đã cưu mang mình. Nếu có dịp gặp lại những viên ngọc ấy, chắc gì tôi nhớ hết ngoài những cái tên còn lưu lại trong danh sách, như những Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Hạnh Nga, Bùi Kiến Nghĩa, Trương Minh Dũng, Trương Minh Trí, Kiều Khánh Giao, Huỳnh Hòa, Nguyễn Thanh Quang, Nguyễn Thị Ngọc Diệu, một ái nữ của văn hữu Lạp Chúc Nguyễn Huy,…
Tôi xin mượn những dòng này để chân thành cám ơn Bác Sĩ Lâm Thu Vân và Giáo Sư Hoàng Chiều Nhân đã tạo cơ hội cho tôi thực hiện ước mơ bé nhỏ của mình. Tôi cũng cám ơn sự có mặt và đóng góp ý kiến quý báu của các cựu đồng nghiệp như Khiếu Đức Long, Nguyễn Viết Ninh (Thái Việt), Quản Hùng, Nguyễn Đôn Phong, Phạm Thị Quế, Nguyễn Trung Hiếu. Và sau cùng xin cám ơn mười bốn em sinh viên đã cho tôi sống lại kỷ niệm của một thời huy hoàng đã mất. Chính các em đã giúp tôi xoa dịu phần nào nỗi ưu tư khắc khoải trong những mùa Xuân nơi đất khách:
Tết về giữa mùa Đông
Chúa Xuân có hay không?
Nàng Xuân chưa trở lại
Non sông bặt tiếng hồng!
Tết về giữa mùa Đông
Ta nhắp chén rượu nồng
Say men đời lữ thứ
Phá thành sầu ly hương!
Trúc Lan – Tết Về Giữa Mùa Đông
Đó cũng là “Nỗi lòng Đồ Chiểu”:
Mùa Xuân mà cảnh chẳng Xuân
Mưa sầu gió tủi, biết chừng nào thanh?
Chính các em đã thắp sáng trong tôi niềm tin mãnh liệt vào tiền đồ xán lạn của dân tộc như niềm tin của Đồ Chiểu:
Một trận bão rồi bờ cõi sạch…
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.
(Montréal, Xuân Ất Tỵ, 2025)
Sunday, February 9, 2025
Hidden Human Labour Powering AI: Introducing the Fairwork Action Research Project
Hidden Human Labour Powering AI: Introducing the Fairwork Action Research Project
https://citp.princeton.edu/event/mark-graham/
Artificial intelligence is often seen as a mirror of human intelligence, an attempt to replicate the processes that occur within a human mind. However, a different perspective is presented in the book Feeding the Machine, co-authored by Prof. Mark Graham. AI is described as an “extraction machine.” When users interact with AI products, they typically only see the surface and the outputs it generates. In reality, the extraction machine absorbs vital inputs—capital, power, natural resources, human labor, data, and collective intelligence—and transforms them into statistical predictions, which AI companies convert into profits. This process requires control over material infrastructure, workers, and knowledge.
The talk introduces the Fairwork project, an action research methodology designed to hold companies within the AI production network accountable. It examines how the Fairwork methodology has successfully functioned in the gig economy, having scored nearly 700 companies to date. Fairwork works with platforms to encourage pro-worker changes to policies and practices. Guided by the Fairwork Principles, companies improve conditions for workers and develop safer, fairer businesses. As a result of Fairwork’s engagement, 64 companies have agreed to implement 300 pro-worker changes, covering all five Fairwork Principles. These changes include ensuring minimum or living wages, GDPR-compliant data management, sickness insurance, contracts aligned with local legislation, anti-discrimination policies, the election of workers’ representatives, and collaboration with local workers’ associations.
The talk further explores how this methodology will be extended to AI supply chains to compel companies to act more responsibly.
Bio:
Mark Graham is the professor of Internet Geography at the Oxford Internet Institute, a senior research fellow at Green Templeton College, a research affiliate in the University of Oxford’s School of Geography and the Environment, a research associate at the Centre for Information Technology and National Development in Africa at the University of Cape Town, a visiting researcher at the Berlin Social Science Centre, and a faculty affiliate at the Institute for the Cooperative Digital Economy (ICDE) at The New School.
Graham’s research examines how digital technologies intersect with geographic contexts, transforming work, value chains, and inequalities on a global scale. He asks who ultimately benefits—and who is excluded—when the places in which we live and work become more deeply integrated with digital systems. His focus is particularly on data workers at the economic periphery and the working conditions they face. He also leads the Fairwork action research initiative, which evaluates companies and encourages adherence to fair labour standards.
Graham has contributed extensively to policy development for organizations and governments worldwide, serving as an appointed expert for the Global Partnership on Artificial Intelligence, a task force coordinator for the 2024 G20’s Task Force on “New Digital Technologies for SDGs and Decent Work,” and a member of the UK’s DFID Digital Advisory Panel (2014–2016). His research has informed the World Bank and UNCTAD’s major reports, and he has presented to various high level advisory committees—including the FCDO’s Technology and Geopolitics Roundtable, the G20 Working Group on Development, and the International Telecommunications Union. Through these engagements, he has helped shape digital development strategies and labour policies across Europe, Africa, and beyond.
His most recent book, Feeding the Machine, rips away AI’s veneer to reveal the global production networks that sustain it—a hidden labour force of millions enduring appalling conditions so these technologies can exist. Drawing on hundreds of interviews and thousands of hours of fieldwork over more than a decade, it presents a look at the organizations that exploit human labour and collective intelligence to fuel AI’s relentless appetite for data. The book challenges the power structures that keep these workers invisible, showing how AI operates like an extraction machine—churning through ever-larger datasets while concealing the people whose backs it is built upon. Feeding the Machine a call to arms against this exploitative system and details what we need to do, individually and collectively, to fight for a more just digital future. It has been translated into Chinese, German, Korean, Russian, and Spanish.
Tuesday, February 4, 2025
Are Eggs Safe to Eat During the Bird Flu Outbreak? Here's What Experts Are Saying
https://www.goodhousekeeping.com/health/a63631311/are-eggs-safe-to-eat-bird-flu-outbreak/
Are Eggs Safe to Eat During the Bird Flu Outbreak? Here's What Experts Are Saying
By Lisa Mulcahy
The National Institutes of Health reports that avian influenza A virus, or bird flu, is now widespread in wild birds all over the world. The United States Department of Agriculture (USDA) also states that over 18 million birds have contracted the virus in this country.
The avian influenza is a disease previously known to primarily spread between birds and poultry, not other species. However, one specific subtype of bird flu called the H5N1 virus has crossed over to infect mammals, like cows, and in limited instances, people. As of this writing on January 30, 2025, the Centers for Disease Control reports that there have been 67 reported cases of bird flu in humans in the U.S., with one death since March 2024. It’s important to know that the CDC categorizes the risk to the general public as low, however.
For people, bird flu is generally hard to get. In terms of transmission, there’s been no documented case of person-to-person contact in the U.S. (although there have been rare cases of this happening in other countries). Instead, those who got infected had direct contact with poultry or dairy cows through their work, or contact with backyard birds or wild birds. These people had either close, lengthy contact with an infected bird or contact with their bodily fluids in most situations. According to the University of Chicago, human symptoms of bird flu include pink eye, a sore throat, a fever, cough and muscle aches.
Although most of us won't contract it, the bird flu is still presenting challenges for many of us — especially in terms of some of the basic food we eat. For instance, if a flock of chickens on a farm gets infected with the bird flu, farmers have to kill all of that flock. Because of this, egg prices have almost doubled in recent weeks. This then begs the question: Can you get the bird flu from eating eggs? Here's what experts have to say.
Can you tell if an egg is infected with bird flu?
The chicken comes first — and then the egg. A recent UK study found that chickens quickly become very obviously sick after being infected with HPN1 and show symptoms like diarrhea and breathing difficulty. They also usually stop laying eggs. Any eggs they do lay look malformed: they’re too small and have soft and/or thin shells. Both sick chickens and strange-looking eggs are immediately removed from the food process. To be extra careful, if you see an egg in a carton that doesn’t look right, don’t buy it, or if it’s already in your fridge, toss it.
Can you get the bird flu from eating eggs?
“The risk of getting the H5N1 bird flu virus from eggs is minimal to none, and safe storage and cooking of eggs reduces any potential risk,” says Geeta Sood, M.D., ScM, assistant professor of medicine in the Johns Hopkins Medicine Division of Infectious Diseases at Johns Hopkins University in Washington, DC.
That’s a relief. It’s also important to know that the USDA inspects every poultry and egg product plant in the country and tests flocks so the chance of bird flu being transferred to your local grocery store is really small. Still, it’s wise to take certain precautions when it comes to eating eggs.
Are there specific kinds of eggs more likely to contain bird flu?
Yes. Unpasteurized eggs are a no-go. Pasteurization is key because it involves heating an egg to a specific temperature, which would kill any bird flu that was present. You also want to make sure the pasteurized eggs you buy are in good, safe condition. “Buy eggs that are sold from a refrigerator, and avoiding cartons with cracked eggs,” says Gregory D. Weston, M.D., MS, associate hospital epidemiologist at Montefiore Medical Center and associate professor of medicine, infectious diseases, at Albert Einstein College of Medicine in Bronx, NY. At home, “always store eggs in a refrigerator, and consume eggs within 3 weeks and before the expiration date,” he adds.
Are all egg styles safe?
No. “Do not eat raw eggs,” says Yoshua Quinones, M.D., a board certified internist with Medical Offices of Manhattan in New York City. You also want to avoid runny eggs, so for now, skip the eggs Benedict, and make sure your scrambled eggs are extra-fluffy, not wet. “Eggs should be cooked until both the yolk and white are firm,” says Dr. Weston. “For casseroles containing eggs, the temperature should reach at least 165 degrees Fahrenheit.”
How to handle eggs when cooking
“Always wash your hands after touching eggs, and wash eggs before cracking them open,” says Dr. Quinones. It’s important to use the right technique to be thorough. “Proper handwashing includes scrubbing for at least 20 seconds with hot, soapy water, including fingers and fingertips,” says Dr. Weston. “You can time this by singing the ‘Happy Birthday’ song twice.”
You also want to clean up the right way by washing utensils and cooking equipment in hot, soapy water, plus any surfaces your eggs touched. According to Mayo Clinic, smart preventative steps also include:
• Avoid contact with wild birds or sick birds.
• Wash your hands after touching any animals or surfaces where their body fluids may have been.
• Wear eye protection, a face mask and gloves if you must handle birds, or if you’re in a location where a lot of birds congregate. (You can get bird flu by breathing the virus in.)
• It’s also a smart idea to avoid trips to petting zoos or farms with your kids at the moment.
While there's no need to panic, it’s always right to use common sense.
Subscribe to:
Posts (Atom)